Giao Lộ Mờ Sương

Chương 39: Bùn Đỏ Cam Hiệp

Đăng: 17/08/2026 21:45 3,404 từ 2 lượt đọc

Mùi đất đỏ nông trường ngậm nước mưa nồng nặc vị sắt rỉ. Nó trộn lẫn với mùi mật mía lên men chua loét từ những thân cây dập nát dưới bánh xích và khói dầu diesel khét lẹt.

Đất Cam Hiệp mùa này như một bãi cháo quánh đặc. Đứng yên ba mươi giây, bùn sẽ nuốt trọn cổ chân.

Tiếng gầm của khối động cơ mười hai tấn xé toang màn mưa rả rích. Từ phía ngã ba rẽ ra Quốc lộ 1, hai vệt đèn pha vàng đục quét ngang ngọn mía cao lút đầu người. Chiếc xe tải bọc thép gắn khung gạt kim loại lù lù trồi lên như một khối sắt đen ngòm, theo sau là hai xe đặc chủng của Cảnh sát Cơ động Lâm Đồng. Tiếng còi hụ bị gió biển và mưa rừng đập bẹp dí, chỉ còn lại thứ âm thanh kim loại gầm rú khô khốc.

Người chỉ huy Đội Tuần tra Độc lập của Viện Kiểm sát Tối cao không biến sắc. Ông ta rút khẩu súng ngắn K59 giắt ngang hông, quay sang hai kiểm sát viên trẻ:

- Đưa Đỗ Khắc Khiêm và Mai Thị Ngọc Lan vào chiếc SUV thứ ba. Khóa cửa trong. Bật chế độ phòng vệ cấp hai. Điểm đến không đổi: cổng số 2 sân bay Thành Sơn. Nếu xe phía sau bị chặn, xe chở can phạm không được phép dừng lại dưới bất kỳ mệnh lệnh nào.

- Rõ!

Mai Thị Ngọc Lan run bần bật, hai bàn tay bị còng số tám siết chặt giơ lên che đầu, váy lụa bết đầy bùn đỏ như một đống giẻ rách trôi sông. Bà ta bị hai cán bộ kiểm sát đẩy thốc vào băng ghế sau của chiếc SUV kính chống đạn. Đỗ Khắc Khiêm bước đi tập tễnh, cánh tay trái trật khớp sưng tím buông thõng, nhưng đôi mắt chim ưng vẫn nhìn trừng trừng vào tôi. Lão nhếch mép, để lộ hàm răng dính máu khô:

- Trần Vũ... Mày nghĩ bốn cái xe biển trắng này đưa được mày qua ngã ba Suối Dầu à? Thằng Phát mang theo lệnh tiêu diệt tại chỗ của C.04. Ra khỏi ranh nông trường này, bọn mày chỉ là mấy cái xác vô thừa nhận.

Lê Hoàng bước tới, báng súng K54 thúc thẳng vào mạn sườn lão. Cú thúc không mạnh nhưng đủ dứt khoát.

- Lên xe. Đi hầu tòa rồi hãy mở miệng, Trung tướng.

Cửa xe SUV đóng sầm. Tiếng khóa điện cơ kêu "cạch" đanh gọn.

Một tiếng nổ chát chúa xé toạc không khí.

Đầu đạn súng trường bắn tỉa 7.62mm xé rách kính chiếu hậu bên phải của chiếc SUV đi đầu, ghim thẳng vào thân cây keo bên đường tạo thành một lỗ thủng to bằng miệng chén. Mảnh kính vỡ vụn bắn rát mặt.

- Vào vị trí bọc lót! - Người chỉ huy kiểm sát quát lớn qua bộ đàm dã chiến. - Không nổ súng trước khi có lệnh cảnh cáo!

Tôi ngồi sụp xuống sau lốp sau chiếc xe tải mười tấn của Ba Cháy. Cú thụp người quá nhanh làm hai dẻ sườn số sáu và số bảy bên ngực trái quặn thắt như có ai cầm kìm bẻ ngược xương. Cơn đau thấu màng phổi khiến tôi nghẹn thở mất hai giây, cổ họng trào lên ngụm dịch đờm tanh lợm mùi máu đen. Tôi nhổ toẹt xuống bãi bùn đỏ, quẹt mu bàn tay áo rách qua khóe miệng.

Chiếc xe bọc thép mười hai tấn đâm gục hàng rào phân cách nông trường, cán nát một khoảng mía rộng hơn mười mét rồi khựng lại cách chúng tôi chừng bốn mươi bước chân. Trên nóc xe, nắp cửa vòm bật mở.

Đại tá Trịnh Văn Phát trồi lên nửa người. Áo măng-tô đen chống nước của gã ướt sũng, khẩu shotgun ngắn cầm lăm lăm trên tay phải, tay trái cầm micro nối thẳng với hệ thống loa công suất lớn gắn quanh nóc xe.

- Toàn bộ lực lượng phía trước nghe rõ! - Tiếng gã rền vang qua màng mưa, chát chúa và đục ngầu. - Tôi là Đại tá Trịnh Văn Phát, Phó Giám đốc Công an thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng ban Chuyên án đặc biệt. Các người đang bao che cho hai đối tượng phản quốc đặc biệt nguy hiểm là Trần Vũ và Lê Hoàng. Tôi ra lệnh: buông vũ khí, giao nộp túi tài liệu mật và hai can phạm Đỗ Khắc Khiêm, Mai Thị Ngọc Lan cho lực lượng vũ trang địa phương trong vòng sáu mươi giây. Quá thời hạn trên, toàn bộ đối tượng tại hiện trường sẽ bị coi là phiến quân có vũ trang và bị tiêu diệt tại chỗ!

Lê Hoàng nép sau thùng xe, ngón tay trỏ đặt hờ trên vành cò súng K54. Cơ hàm cậu ta bạnh ra cứng ngắc:

- Phát điên rồi. Hắn biết nếu Khiêm lên được chuyên cơ quân sự về Viện Kiểm sát Tối cao ở Hà Nội thì chiếc ghế Phó Giám đốc của hắn sẽ đổi thành bản án tử hình.

Người chỉ huy kiểm sát bước lên nửa bước, giơ cao chiếc thẻ đỏ ép nhựa có quốc huy dập nổi ra trước đèn pha:

- Đại tá Trịnh Văn Phát! Chúng tôi thuộc Cục Điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, đang thực hiện Lệnh bắt khẩn cấp và di lý can phạm số 09 theo quyết định của Viện trưởng! Mọi hành vi cản trở, đe dọa bằng vũ lực đối với đoàn công tác đều cấu thành tội xâm phạm hoạt động tư pháp và chống người thi hành công vụ! Tôi yêu cầu anh rút toàn bộ lực lượng cơ động về phía sau ranh giới km 38!

Phát không trả lời bằng miệng.

Gã hạ nòng shotgun xuống, bắn thẳng một phát vào nắp ca-pô chiếc SUV kiểm sát đi đầu.

Tiếng nổ đanh như sấm sét xé tan màn mưa. Đầu đạn ghém chì xé toạc lớp sơn kim loại, khói thuốc súng xám xịt bốc lên khét lẹt. Cùng lúc đó, cửa hông hai chiếc xe đặc chủng phía sau bật tung. Tám lính Cảnh sát Cơ động trong trang phục dã chiến đen, trang bị súng tiểu liên báng gấp và khiên chắn bạo động tràn xuống, dàn hàng ngang khóa chặt lối thoát duy nhất dẫn ra tỉnh lộ.

Họ không biết sự thật. Những người lính trẻ đó chỉ đang chấp hành một mệnh lệnh truy bắt "phản quốc" được ký bằng con dấu đỏ của Ban Giám đốc và công điện khẩn của C.04. Nếu nổ súng vào họ, chúng tôi sẽ biến thành tội phạm thực sự đúng như kịch bản Phát đã dựng sẵn.

- Không được bắn người! - Tôi hét lên với Lê Hoàng và đội kiểm sát. - Bắn vào lốp xe và đèn pha!

Kẻ mặc áo mưa đen vẫn đứng lặng lẽ bên rìa mương thoát nước của ruộng mía. Hắn không hề tìm chỗ nấp. Chiếc áo mưa cánh dơi trùm kín mít sũng nước, vạt áo rách bay phần phật trong gió biển. Bàn tay gầy guộc của hắn vẫn giữ chặt chiếc máy ghi âm Sony dán băng keo đỏ.

Hắn giơ tay trái lên, gõ ngón trỏ ba nhịp vào thân máy.

Cộc. Cộc. Cộc.

Ngay sau nhịp gõ thứ ba, từ phía cánh đồng mía rậm rạp bên sườn đồi phía tây, một vệt sáng chói lòa vút lên không trung kèm theo tiếng rít xé tai. Đó là pháo hiệu cứu sinh đường biển loại lớn. Quả pháo nổ tung ở độ cao ba mươi mét, thả xuống một quầng sáng màu đỏ rực rỡ và làn khói phốt-pho dày đặc trùm kín toàn bộ mặt đường đất đỏ.

Màn khói trắng đục ngầu mùi tỏi thối và diêm sinh lập tức bị gió thốc thẳng vào hàng quân của Cảnh sát Cơ động.

- Phốt-pho tạo khói! - Tiếng lính cơ động ho sặc sụa trong bộ đàm. - Mất tầm nhìn! Không thấy mục tiêu!

- Lên xe! - Kẻ mặc áo mưa đen cất giọng trầm đặc qua lớp vải trùm, chỉ tay về phía con đường mòn nhỏ chạy dọc kênh tưới tiêu nông trường. - Đội SUV kiểm sát rẽ nhánh mương số 4. Đường đó dẫn xuyên qua đồi cát Cam Lập ra thẳng Quốc lộ 1A đoạn giáp ranh Ninh Thuận. Xe bọc thép mười hai tấn không đi vừa cây cầu sắt cũ ở nhánh số 4. Đi ngay!

Người chỉ huy kiểm sát nhìn tôi một giây, rồi gật đầu dứt khoát:

- Đi!

Ba chiếc SUV của đoàn kiểm sát rú ga, bánh xe bốn cầu cày nát bùn đỏ, phóng vụt qua màn khói mù mịt rẽ ngoặt vào con đường mòn ngập nước men theo bờ mương. Đỗ Khắc Khiêm và Mai Thị Ngọc Lan đã được bảo vệ trong lồng thép di động hướng về sân bay Thành Sơn.

Nhưng chiếc xe bọc thép của Phát không hề có ý định buông tha. Nhận ra đoàn xe kiểm sát đang tìm cách tẩu thoát, Phát giật mạnh cần gạt số trên nóc xe bọc thép, rống lên qua loa:

- Tông nát chiếc xe tải! Khóa đường mòn!

Khối sắt mười hai tấn gầm lên điên cuồng, lao thẳng về phía chiếc xe tải mười tấn của Ba Cháy đang chắn ngang ngã ba.

Ba Cháy nghiến răng trèo lên buồng lái, vặn chìa khóa. Động cơ xe tải nổ ầm ầm, ống xả phụt ra một luồng khói đen kịt. Gã cài số lùi, đạp lút ga. Chiếc xe mười tấn lùi chéo một góc bốn mươi lăm độ, lấy toàn bộ thùng xe chở đầy đá cây và rau củ làm một bức tường chắn sống, đâm sầm vào góc cản trước của chiếc xe bọc thép.

RẦM!

Tiếng kim loại va chạm kinh hoàng làm rung chuyển cả nền đất nông trường. Kính chắn gió buồng lái xe tải nứt toác thành hình mạng nhện. Chiếc xe bọc thép bị chệch hướng, mũi xe trượt bánh lún sâu xuống rãnh bùn mềm bên mép ruộng mía, nghiêng hẳn sang một bên. Động cơ của nó gầm rú tuyệt vọng nhưng hai bánh trước đã mất lực bám.

Ba Cháy đạp tung cửa buồng lái nhảy xuống bùn, tay cầm chiếc cờ-lê số 32 to bằng cổ tay, vừa chạy thụt lùi vừa gào lên với tôi:

- Đi mau thằng Vũ! Tao chặn được cái mõm sắt này năm phút!

Phát từ trên nóc xe bọc thép nhảy xuống bùn đất, khẩu shotgun trên tay gã chĩa thẳng về phía bóng lưng Ba Cháy.

Tôi không kịp suy nghĩ. Khẩu súng K54 trên tay tôi giật nảy. Hai phát đạn liên tiếp găm trúng thành kim loại ngay cạnh chân Phát, tia lửa tóe lên trong mưa khiến gã phải thụp đầu lùi lại sau thân xe. Lực giật của súng dội ngược vào cánh tay truyền thẳng vào lồng ngực. Cơn đau từ hai dẻ sườn gãy như hàng chục mũi kim nung đỏ đâm xuyên qua phổi. Tôi khuỵu một chân xuống bùn, thở hắt ra từng ngụm khí nóng hầm hập.

Lê Hoàng túm chặt lấy cổ áo khoác của tôi, kéo giật tôi đứng dậy.

- Chạy ra sau đồi mía! - Hoàng nghiến răng. - Có xe máy cày của công nhân nông trường bỏ lại ở trạm bơm!

Chúng tôi lội bùn chạy thục mạng xuyên qua những hàng mía cao ngập đầu. Lá mía sắc như dao cạo cứa rát mặt và mu bàn tay, máu tứa ra hòa lẫn nước mưa cay xè. Tiếng đạn tiểu liên của Cảnh sát Cơ động bắn cầm chừng phía sau xé toạc những thân mía gãy rạp lộp độp, nhưng màn khói phốt-pho và rừng mía rậm rạp đã che chắn cho chúng tôi.

Kẻ mặc áo mưa đen chạy ngay phía trước. Những bước chân của hắn thoăn thoắt, nhẹ như không dính bùn, dường như thuộc lòng từng khúc quanh của con kênh tưới tiêu.

Đến trạm bơm nước dã chiến bằng tôn rỉ sét nằm khuất sau rặng bạch đàn, kẻ áo mưa dừng lại.

Mưa bắt đầu ngớt dần, chỉ còn lại những hạt nước li ti bay trong gió biển ẩm mặn. Từ hướng nam, tiếng gầm rú của ba chiếc trực thăng quân sự từ phía sân bay Thành Sơn vọng lại, quần thảo trên bầu trời vịnh Cam Ranh. Lực lượng kiểm sát đã đưa được Khiêm và Lan vào vùng kiểm soát quân sự an toàn.

Trần Khắc Luân đã chết đuối ở hồ Trị An.
Ngô Bách Hưng đã bị nghiền nát ở ngã tư Hàng Xanh.
Đinh Trọng Phúc đã cháy thành than ở kênh Rạch Lăng.
Huỳnh Trí Cao đã chết vì xyanua tại biệt thự Thảo Điền.
Phạm Kiến Quốc đã treo cổ trên penthouse tầng 40.

Năm mảnh ghép của bản án hai mươi năm trước đã khép lại bốn phần. Kẻ còn lại – Đỗ Khắc Khiêm – đang trên đường ra Hà Nội đối diện với những điều tra viên không thể bị mua chuộc.

Nhưng người giữ con dấu vàng tối cao – kẻ mang mật danh C.04 – vẫn đang an tọa trong phòng làm việc máy lạnh của Ban Chỉ đạo Phòng chống Tham nhũng Trung ương, tay cầm bút máy Parker mực xanh ký công điện truy sát chúng tôi.

Lê Hoàng tựa lưng vào vách tôn trạm bơm, ném khẩu K54 đã hết đạn xuống mặt bàn gỗ mục. Cậu ta cúi gầm mặt, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay ứa máu.

Tôi rút bao thuốc lá Thăng Long bẹp dúm trong túi trong áo khoác. Chỉ còn hai điếu gãy gập, ướt mất một nửa. Tôi rút chiếc bật lửa ga cũ, quẹt ba lần mới bắt lửa. Khói thuốc cay xè xộc vào cuống họng rách rỉ sét, làm dịu đi cơn buồn nôn đang chực trào.

Tôi nhìn Hoàng. Cơ mặt cậu ta co giật từng chập dưới ánh sáng mờ đục của buổi chiều muộn.

Tôi biết cậu ta đang nghĩ gì.

Thượng tá Lê Văn Bản. Người cha mà cậu ta tôn thờ cả đời như một tượng đài liêm chính của ngành cảnh sát. Người đàn ông đã ký khống biên bản nghiệm thu phòng cháy chữa cháy để đổi lấy hai trăm triệu tiền viện phí cho người vợ chết dần mòn vì ung thư tủy. Và bây giờ, tro cốt của ông tại nghĩa trang Liệt sĩ Đà Lạt lại đang ôm giữ bằng chứng duy nhất vạch trần C.04: bản sao kê tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ được khắc bằng mã la-de sau tấm thẻ bài quân nhân.

Tôi đưa điếu thuốc lá thứ hai cho Hoàng.

- Hút đi. Đỡ tanh miệng.

Hoàng không nhận. Cậu ta nhìn chằm chằm vào khoảng đất đỏ dưới chân, giọng khàn đặc:

- Ông già tôi... suốt mười lăm năm sau vụ cháy, đêm nào cũng ngồi ở ban công nhìn về phía đồi thông. Ông không bao giờ uống trà, chỉ uống nước lọc để nguội. Tôi từng nghĩ ông nghiêm khắc với bản thân... Hóa ra là ông không nuốt nổi cái gì có mùi vị.

Tôi rít một hơi thuốc sâu, khói trắng bay là đà tan vào vách tôn rỉ sét:

- Đỗ Khắc Khiêm và C.04 đã tính toán việc đó từ trước khi châm que diêm đầu tiên. Chúng tìm những điểm yếu nhất của từng người để trói họ vào cái thòng lọng. Bố cậu chọn cứu vợ mình. Đó là sai lầm, nhưng ông ấy đã dùng cả phần đời còn lại để giữ lại chiếc thẻ bài đó.

Hoàng ngước mắt lên, khóe mắt đỏ hoe nhưng không có giọt nước mắt nào:

- Trịnh Văn Phát sẽ không để yên cho nghĩa trang Liệt sĩ Đà Lạt. Hắn biết chuyên cơ của Viện Kiểm sát đã đón Khiêm. Hắn sẽ hiểu ngay manh mối tài chính cuối cùng nằm ở đâu. Hắn sẽ cho người đào mộ ông già tôi lên để đốt sạch tro cốt trước khi chúng ta quay lại đó.

Tôi nhìn kẻ mặc áo mưa đen.

Hắn đứng cách chúng tôi ba bước chân, lẳng lặng rút từ trong túi áo mưa ra một chiếc phong bì da màu nâu sẫm, đặt lên chiếc máy bơm nước phủ đầy bụi dầu mỡ.

- Trịnh Văn Phát không thể đến Đà Lạt trước các anh đâu, - giọng kẻ áo mưa trầm thấp, bình thản đến rợn người. - Vì từ trưa nay, tôi đã gửi một bức ảnh thứ tám đến thẳng bàn làm việc của vợ hắn tại khu biệt thự An Phú, Quận 2. Kèm theo bản sao kê mười lăm chứng chỉ quỹ vô danh ở Công ty Khoáng sản Rạng Đông. Lúc này, người của Cục Cảnh sát Hình sự thuộc Bộ Công an do Viện Kiểm sát điều động đang phong tỏa toàn bộ tài sản của Phát tại Sài Gòn. Hắn là một con chó cùng đường.

Tôi bước lại gần chiếc máy bơm, nhìn vào chiếc phong bì da:

- Cậu là ai?

Kẻ áo mưa không tháo mũ trùm. Đôi mắt hắn sâu hoắm, phản chiếu ánh sáng le lói từ ngọn đèn dầu cũ kỹ của trạm bơm.

- Tôi là người bế đứa trẻ đi đêm mười hai tháng mười một, - hắn nói, giọng nhẹ như gió thoảng qua đồi mía. - Nhưng đứa trẻ đó không phải là tôi. Đứa trẻ đó... hai mươi năm qua chưa từng biết mặt mẹ mình. Nó lớn lên với một vết sẹo trong tim và một cái tên giả.

Điện thoại vệ tinh trong túi tôi rung lên bần bật. Màn hình hiện dãy số mã hóa quen thuộc của Hạ Băng từ trạm xá Bảo Lộc.

Tôi bấm nghe, áp máy vào tai:

- Tôi nghe.

Giọng Hạ Băng vang lên qua loa thoại, gấp gáp và đanh thép:

- Vũ... Nghe kỹ đây. Đăng vừa tỉnh lại sau cơn sốc thuốc mười phút trước. Huyết áp ổn định, nhưng ý thức bắt đầu lơ mơ do tác dụng phụ của kháng sinh liều cao.

- Đăng nói gì? - Tôi hỏi.

- Cậu ấy không nói về bản hợp đồng, cũng không nhắc tới Trịnh Văn Phát, - Hạ Băng ngập ngừng nửa nhịp, tiếng thở của cô qua đường truyền vệ tinh nghe rõ mồn một. - Cậu ấy chỉ lẩm bẩm một dãy số định vị... Dãy số đó không phải ở nghĩa trang Liệt sĩ Đà Lạt.

Tôi siết chặt thân máy Nokia:

- Ở đâu?

- Nhà quản trang cũ của Mái ấm Hướng Dương... Dưới chân bậc thang dẫn lên nhà bếp nơi bảo mẫu Mai Lan qua đời. Cậu ấy nói... chiếc thẻ bài quân nhân của Thượng tá Lê Văn Bản không nằm trong hũ tro cốt ở nghĩa trang. Đêm trước khi Thượng tá Bản mất năm năm trước, chính ông đã tự tay mang chiếc thẻ bài đó lên chôn dưới gốc cây hoa dã quỳ sau chái bếp mái ấm, rồi mới nhờ người gửi hũ tro rỗng vào nghĩa trang để đánh lạc hướng Đỗ Khắc Khiêm.

Một khoảnh khắc im lặng kéo dài đến nghẹt thở.

Tôi nhìn sang Lê Hoàng. Cậu ta đã nghe thấy toàn bộ qua loa ngoài của chiếc máy vệ tinh.

Vết sẹo của quá khứ không nằm dưới những bia đá hoa cương lạnh lẽo được người đời thăm viếng. Nó nằm ở nơi ngọn lửa xăng bùng lên đầu tiên hai mươi năm trước, dưới đống tro tàn của những đứa trẻ không bao giờ lớn.

Tôi tắt máy thoại, nhìn ra màn sương chiều đang buông đặc quánh trên những cánh đồng mía bạt ngàn của Cam Hiệp.

Chiếc xe máy cày cũ kỹ ở góc trạm bơm vẫn còn nửa bình dầu.

Tôi vứt mẩu tàn thuốc Thăng Long xuống vũng bùn đỏ, giẫm mạnh gót giày nát bấy.

- Đi thôi, Hoàng, - tôi nói, giọng lạnh tanh như thép nguội. - Về Đà Lạt. Đã đến lúc đào mảnh ghép cuối cùng lên khỏi mặt đất rồi.

0