Giao Lộ Mờ Sương

Chương 40: Dưới Gốc Dã Quỳ

Đăng: 17/08/2026 21:45 3,491 từ 2 lượt đọc

Tiếng máy cày nổ phành phạch như tiếng ho của một gã nghiện thuốc lào giai đoạn cuối.

Khói dầu diesel khét lẹt phả thẳng vào mặt. Chiếc xe lộc cộc bò men theo đường mòn phân ranh lâm nghiệp, rẽ qua những vạt mía ngã rạp rồi đâm thẳng vào lối mòn cắt rừng của cánh xe thồ gỗ lậu năm xưa. Đất đỏ dẻo quánh bám chặt vào gai lốp, mỗi vòng quay đều quăng lên từng tảng bùn nặng trịch đập vào sàn sắt.

Tôi ngồi tựa lưng vào thành thùng xe, hai tay ghì chặt lấy đoạn dây thừng neo máy bơm để cố định lồng ngực. Mỗi cú xóc là một nhát búa nện thẳng vào hai dẻ sườn số sáu và số bảy. Cơn đau không còn nhói buốt như lúc đầu; nó chuyển sang dạng âm ỉ, nặng trịch, bóp nghẹt phế nang như có ai nhét một nắm giẻ rách tẩm rỉ sắt vào cuống họng. Tôi nghiêng đầu khạc ra sàn xe một búng đờm đặc quánh lẫn sợi máu đen tanh lợm.

Hoàng cầm vô-lăng. Hai mắt nó trũng sâu, đỏ ngầu những tia máu. Mười đầu ngón tay bám vào vành lái siết chặt đến mức các khớp ngón trắng bệch ra, gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên cẳng tay dính đầy bùn khô và muội than. Nó không nói một lời nào suốt bốn mươi cây số đường rừng. Một gã đàn ông khi phát hiện ra chiếc áo quan của cha mình là giả, và danh dự cả đời của ông ta bị chôn vùi dưới một hố rác quyền lực, thường không còn thừa hơi để chửi thề.

Trời sụp tối rất nhanh khi xe bắt đầu ngóc đầu lên mỏm đèo dốc đứng thuộc địa phận Đran. Gió cao nguyên thốc qua cánh rừng thông già, mang theo cái lạnh cắt da đặc trưng của Đà Lạt sau cơn mưa dầm. Cái lạnh ngấm qua lớp áo khoác rách tã, táp vào da thịt sũng nước khiến hàm răng tôi va vào nhau cầm cập.

Tôi rút bao Thăng Long bẹp dúm trong túi quần trong. Còn hai điếu. Cả hai đều gãy gập và ẩm nhớp nháp. Tôi vuốt thẳng một điếu, ngậm vào môi, quẹt diêm. Gió đèo thổi tắt liên tiếp hai que. Đến que thứ ba, tôi phải rúc hẳn đầu vào trong vạt áo khoác, ép lòng bàn tay che chắn mới nhen được một đóm đỏ liu riu. Khói thuốc vào phổi xé rách niêm mạc khí quản đau rát, nhưng ít nhất nó đè bớt mùi tanh của dịch máu trong miệng.

Điện thoại vệ tinh trong túi rung bần bật. Tôi bấm nhận, áp loa vào tai. Tiếng rè của sóng ngắn rít lên xen lẫn tiếng gió rít qua khe cửa sổ trạm xá.

"Vũ." Giọng Hạ Băng vang lên. Ngắn gọn. Bình thản đến mức lạnh tanh, nhưng tôi nghe được tiếng thở nông bị kìm lại ở đầu dây bên kia.

"Nghe." Tôi đáp, giọng khàn đặc như tiếng cào trên mặt đường nhựa.

"Đăng vừa thiếp đi sau mũi giảm đau thứ hai. Nhịp tim 82, huyết áp 110 trên 70. Phổi trái bắt đầu giãn nở lại, nhưng dịch màng phổi vẫn còn rỉ hồng qua ống dẫn lưu. Cậu ta mất máu nhiều, cần truyền thêm hai đơn vị nhóm O trong vòng sáu tiếng nữa."

"Nó có nói gì thêm không?"

"Không." Băng ngừng lại một nhịp. Có tiếng sột soạt của giấy tờ hoặc găng tay cao su. "Lúc nãy khi hết thuốc mê, ngón tay cậu ta liên tục cào xuống drap giường. Cậu ta cứ lẩm bẩm tìm cây bút chì bấm với cuốn sổ tay ghi chép. Thói quen nghề nghiệp của mấy đứa trinh sát hình sự trẻ tuổi."

Tôi rít một hơi thuốc sâu, nhả khói qua kẽ răng. "Phát đâu rồi?"

"Tí Bo vừa báo qua máy nội bộ trạm y tế. Chiếc xe bọc thép của Phát bị lún chết dưới rãnh bùn Cam Hiệp, nhưng hắn đã cướp một xe bán tải của kiểm lâm để rút lui. Cục Cảnh sát Hình sự ở Hà Nội đã tiếp nhận hồ sơ từ Viện Kiểm sát Tối cao. Lệnh phong tỏa toàn bộ tài sản, tài khoản ngân hàng và cấm xuất cảnh đối với Trịnh Văn Phát đã được kích hoạt lúc mười sáu giờ ba mươi. Hắn đang là một con thú bị dồn vào chân tường. Hắn biết mình không còn đường sống nếu tài liệu Thụy Sĩ lọt ra ánh sáng."

"Còn Khiêm với Lan?"

"Chuyên cơ quân sự của Bộ Tư lệnh Quân khu đã rời sân bay Thành Sơn lúc mười bảy giờ mười lăm. Có bốn kiểm sát viên cao cấp và một tổ đặc nhiệm áp giải trực tiếp về trại giam T16 ngoài Bắc. Họ an toàn."

"Tốt." Tôi nói cộc lốc.

Đầu dây bên kia im lặng. Sự im lặng kéo dài ba giây, chỉ có tiếng gió đèo gầm rú qua loa điện thoại.

"Ngực anh thế nào rồi?" Băng đột ngột hỏi.

"Bình thường. Vẫn thở được."

"Anh đang nói dối bằng giọng của một kẻ bị rách khí quản. Đừng vận động mạnh bên ngực trái. Nếu đầu xương gãy chọc thủng màng phổi trung thất trước khi anh tìm được thứ đó, tôi sẽ không kịp bổ ngực anh lần thứ hai đâu."

"Biết rồi." Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt mặn chát. "Hết cuộc gọi."

Tôi cúp máy, nhét điện thoại vào túi. Hoàng liếc sang tôi, ánh mắt tối tăm như đáy giếng.

"Băng dặn gì?"

"Dặn mày lái cẩn thận kẻo lật xe chết mẹ cả nút." Tôi nói dối không chớp mắt, ném mẩu tàn thuốc đỏ rực xuống vệt bánh xích đất đỏ phía sau.

Xe máy cày ì ạch bò qua ngã ba Trại Mát lúc hơn tám giờ tối. Đèn đường vàng đục nhập nhòa sau màn sương mù dày đặc buốt giá. Thành phố Đà Lạt mùa mưa tháng Bảy chìm trong một thứ không khí chết chóc, nhờ nhờ như da người chết đuối. Sau vụ cháy rụi ở khách sạn Grand Palace sáng nay, toàn bộ khu vực sườn đồi đường Hùng Vương đã bị công an chăng dây phong tỏa, nhưng lực lượng chốt giữ đã rút bớt về trụ sở Công an tỉnh để phối hợp điều tra sau khi trung tâm chỉ huy của Phát bị tê liệt.

Hoàng tắt máy cày ở một lối mòn rậm rạp cách chân đồi thông chừng ba trăm mét. Tiếng máy nổ vừa dứt, không gian lập tức bị nuốt chửng bởi tiếng dế kêu rỉ rả và tiếng nước mưa nhỏ giọt từ những tán lá thông cổ thụ xuống thảm cỏ mục.

Hai đứa tôi nhảy xuống xe. Bàn chân tôi vừa chạm đất, một cơn đau buốt nhói từ mạng sườn chạy dọc lên thái dương làm tầm mắt tôi tối sầm lại trong nửa giây. Tôi phải tựa một tay vào nắp ca-pô nóng hôi hổi của máy cày, hít từng ngụm khí lạnh căm căm để giữ cho đầu gối không khuỵu xuống.

Hoàng rút từ dưới ghế lái ra một chiếc xẻng gấp công binh gỉ sét và một chiếc đèn pin mini bọc băng dính đen chỉ chừa lại một khe sáng bằng đầu ngón tay.

"Đi lối sau." Hoàng nói, giọng nó đanh lại như thép nguội. "Đường hào thoát nước chân đồi dẫn thẳng vào chái bếp cũ."

Chúng tôi lầm lũi bước đi trong bóng tối. Mùi nhựa thông ngai ngái hòa lẫn với mùi đất ẩm và mùi tro tàn cháy dở từ hướng khách sạn Grand Palace bay lại. Khu đất Mái ấm Hướng Dương năm xưa rộng hơn mười lăm héc-ta, nay là một bãi chiến trường hoang tàn sau đám cháy sáng nay. Những bức tường bê tông của khách sạn ngạo nghễ chỉ còn là những khối đen nham nhở, khói loãng vẫn còn bốc lên từ những hốc cửa sổ vỡ nát.

Nhưng nơi chúng tôi hướng tới không phải là tòa nhà chính.

Nằm khuất sâu sau sườn dốc phía đông, cách biệt với khối kiến trúc bê tông vừa bị thiêu rụi, là một rẻo đất dốc đứng đầy cỏ dại và những bụi dã quỳ mọc cao lút đầu người. Hai mươi năm trước, đây là chái bếp lợp tôn fibro xi-măng của mái ấm — nơi những đứa trẻ mồ côi từng túm tụm quanh nồi cơm độn khoai sắn mỗi chiều mùa đông.

Bây giờ, tất cả chỉ còn là một nền gạch tàu vỡ vụn bị rêu xanh phủ kín. Những gốc dã quỳ thân gỗ xù xì, gân guốc cắm sâu rễ vào lòng đất đỏ ba-zan, cành lá rậm rạp đan xen vào nhau như một tấm lưới thép tự nhiên giấu kín mọi dấu vết thời gian.

Hoàng dừng lại trước một gốc dã quỳ cổ thụ to bằng bắp đùi người lớn, nằm sát mép vực ta-luy âm. Thân cây ngả nghiêng theo triền dốc, vỏ xám xịt nứt nẻ.

"Đúng chỗ này." Hoàng thì thào. Nó quỳ một chân xuống nền đất ướt nhão, ngón tay run rẩy sờ soạng lên lớp rêu bám quanh gốc cây. "Đăng nói... trước khi cha tôi mất năm năm trước, đêm nào ông cũng ngồi ở góc sân này hút thuốc. Cả nhà tưởng ông hoài niệm chuyện cũ ở cơ quan. Không ai ngờ..."

"Đào đi. Ít lời thôi." Tôi cắt ngang, chống hai tay lên đầu gối, mắt quét nhanh ra xung quanh màn sương dày đặc.

Hoàng cắm lưỡi xẻng công binh xuống lớp đất đỏ. Tiếng kim loại cào vào sỏi đá ràn rạt. Từng mảng đất ướt đẫm nước mưa bị xới tung lên, sực lên mùi bùn ngai ngái và mùi lá mục phân hủy.

Tôi quỳ xuống bên cạnh, rút con dao bấm cơ khí bằng thép không gỉ ra khỏi túi, dùng mũi dao cạy những đoạn rễ cây chằng chịt bám quanh gốc dã quỳ. Mỗi lần dồn lực cánh tay trái, hai mảnh xương sườn gãy lại cọ vào nhau lục cục bên dưới lớp cơ hoành. Tôi nghiến chặt răng đến mức nướu rớm máu, ép mình phải đào tiếp.

Mũi dao bấm của tôi đột ngột khựng lại. Nó chạm phải một vật cứng nằm sâu khoảng bốn mươi phân dưới lớp rễ cây cái.

Không phải đá. Âm thanh kim loại chạm vào kim loại vang lên một tiếng cộc rất đục.

"Dừng lại." Tôi khẽ bảo.

Hoàng vứt chiếc xẻng sang một bên, dùng hai bàn tay trần cào mạnh lớp đất đỏ dẻo quánh. Đất chui vào móng tay nó, bết dính máu tươi từ những vết xước do cành dã quỳ cào rách. Dưới lớp đất ba-zan đen sẫm, một chiếc hộp kim loại hình chữ nhật dài bằng bàn tay lộ ra. Chiếc hộp bằng tôn kẽm chuyên dụng đựng đạn súng ngắn quân dụng K54 thời chiến tranh, được bọc kín bằng ba lớp túi ni-lông quân y màu vàng đục và dán chặt mép bằng băng keo vải chống ẩm.

Hoàng run rẩy cầm chiếc hộp lên. Bàn tay nó phủ đầy bùn non run bần bật.

Nó dùng lưỡi dao bấm rạch lớp băng keo mục nát. Nắp hộp bật mở với một tiếng rít khô khốc.

Bên trong không có vàng bạc, không có những xấp tiền đô-la Mỹ hay chứng chỉ quỹ tiền tỷ.

Nằm lọt thỏm dưới đáy hộp nhung đã ố mốc là một chiếc thẻ bài quân nhân bằng thép không gỉ đã xỉn màu. Chiếc thẻ bài hình bầu dục dập nổi dòng chữ: "LÊ VĂN BẢN – SỐ HIỆU: 481-092 – CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG".

Nhưng điều khiến đồng tử tôi co thắt lại nằm ở mặt sau của chiếc thẻ bài.

Dưới ánh đèn pin mini leo lét, mặt sau phẳng lì của miếng thép đã bị bắn phá bởi những đường khắc la-de siêu nhỏ, sắc lẹm và chính xác tuyệt đối. Đó là một chuỗi ký tự ma trận gồm 24 chữ số La Mã và số học, kèm theo dòng chữ tiếng Anh viết tắt của Ngân hàng Tư nhân Union Bancaire Privée chi nhánh Zurich (Thụy Sĩ), đề ngày 14 tháng 11 năm 2004.

Và ngay phía dưới chuỗi mã khóa tài khoản là một con số dư ủy thác định danh: 120.000.000 USD.

Bên cạnh con số trăm triệu đô-la đó là một mật danh phê duyệt duy nhất được khắc sâu hoắm vào thớ thép: "C.04 - PHAN HẢI NAM".

Cái tên Phan Hải Nam đập vào mắt tôi như một phát đạn ghém bắn thẳng ở cự ly năm mét.

Phan Hải Nam. Cựu Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng kiêm Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nguyên năm 2004. Kẻ hiện tại đang ngồi trên chiếc ghế Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo Phòng chống Tham nhũng Trung ương — người vừa ký công điện mật mang số hiệu C.04 điều động lực lượng đặc nhiệm truy nã phản quốc đối với tôi và Hoàng sáng nay.

Hai mươi năm trước, một chữ ký của gã đã biến mười lăm héc-ta đất rừng của những đứa trẻ mồ côi thành mỏ vàng chia chác cho một lũ kền kền mặc quân phục và comple. Và để nuốt trọn số tiền đó, gã đã dùng một mồi lửa xóa sổ tám mạng người, đẩy hàng chục đứa trẻ vào cõi chết, rồi biến cha của Hoàng thành kẻ tòng phạm câm lặng suốt phần đời còn lại.

Gió rít qua rặng thông một hồi dài u uất.

Hoàng cầm chiếc thẻ bài thép, ngón tay cái miết chặt lên cái tên của cha nó khắc trên mặt kim loại lạnh ngắt. Khóe mắt nó giật liên hồi, nhưng không có một giọt nước mắt nào rơi xuống. Những gã đàn ông như Hoàng một khi đã đi đến đáy của sự thật thì tuyến lệ đều đã bị thiêu rụi từ lâu.

Tôi với tay nhặt chiếc hộp kẽm lên để kiểm tra đáy hộp xem còn sót tài liệu nào không. Đầu ngón tay tôi chạm phải một mảnh kim loại nhỏ nằm ép sát mép hộp.

Đó là một chiếc kẹp tóc bằng nhôm uốn hình con bướm, lớp sơn đỏ đã bị lửa thiêu rụi chỉ còn trơ lại khung kim loại méo mó, cháy đen một góc.

Tôi sững người.

Một tích tắc. Đúng một tích tắc, lớp vỏ bọc chai sạn trong lồng ngực tôi nứt toác ra. Hình ảnh Mai Lan hai mươi năm trước bế đứa trẻ ba tháng tuổi đứng bên khung cửa sổ chái bếp hiện về trong tâm trí, rõ mồn một như một vết chém chưa lành miệng. Ba năm trước, khi Tuấn nằm chết co quắp trên vũng máu đen ở hẻm Cầu Muối, trong túi ngực áo của cậu ta cũng có một chiếc kẹp tóc nhôm hệt như thế này.

Cổ họng tôi nghẹn lại, một luồng khí lạnh buốt xông thẳng lên sống mũi. Tôi siết chặt chiếc kẹp tóc trong lòng bàn tay đến mức ngạnh nhôm sắc nhọn đâm thủng da thịt, rỉ máu.

Tôi thở hắt ra một hơi, chớp mắt hai cái thật nhanh. Rồi tôi nhét chiếc kẹp tóc vào túi áo trong, quay sang gạt phăng nắm đất trên xẻng xuống hố, cất giọng cộc lốc:

"Đủ chứng cứ rồi. Rút."

"Đi đâu?" Hoàng ngẩng lên, giọng đục ngầu.

"Tòa soạn báo Nhân Dân và Văn phòng Viện Kiểm sát Tối cao tại Hà Nội. Tí Bo đã chuẩn bị sẵn đường truyền mã hóa vệ tinh. Đêm nay, trước khi mặt trời mọc, cái tên Phan Hải Nam và bản sao kê một trăm hai mươi triệu đô này sẽ nằm trên bàn của Tổng Bí thư."

Tôi vừa dứt lời thì một tiếng tách kim loại rất nhỏ vang lên từ phía sau bụi rậm dã quỳ cách chúng tôi chưa đầy mười mét.

Âm thanh lên đạn của một khẩu shotgun ngắn Remington 870. Rất đanh. Rất lạnh.

"Chúng mày tính đi đâu, hai con chó săn rách rưới?"

Một luồng ánh sáng cực mạnh từ chiếc đèn pha quân dụng bất ngờ quét thẳng vào mặt hai đứa tôi. Ánh sáng chói lòa xé toạc màn sương mù đặc quánh.

Đứng sau luồng sáng, tựa lưng vào một thân thông cổ thụ, là Trịnh Văn Phát.

Gã không còn mặc bộ cảnh phục chỉnh tề hay chiếc áo măng-tô sang trọng thường ngày. Chiếc áo sơ mi trắng của gã rách toang một bên vai, bết dính bùn đất đỏ và vệt dầu máy đen sì. Một bên chân gã tập tễnh, ướt sũng máu từ vết thương do phát đạn của tôi ở nông trường Cam Hiệp. Khuôn mặt vuông vức của viên Đại tá giờ đây méo mó, hốc hác, đôi mắt lồi ra vằn vện những tia máu đỏ của một kẻ cờ bạc vừa thua sạch những đồng xu cuối cùng trên chiếu bạc sinh tử.

Hai tay gã cầm chắc khẩu shotgun cưa nòng, nòng súng đen ngòm chĩa thẳng vào ngực tôi. Phía sau gã, hai gã sát thủ mặc đồ rằn ri không phù hiệu lầm lũi tiến lên từ hai bên sườn đồi, trên tay lăm lăm tiểu liên báng gấp MP5 đã lên đạn sẵn.

"Mày nghĩ mày thoát được khỏi đất Lâm Đồng này à, Vũ?" Phát cười gằn, từng giọt nước mưa chảy dọc theo sống mũi gã rớt xuống cằm. "Tao đã nuôi thằng Bản năm năm trời bằng tiền của tao. Tao cho vợ nó sống thêm sáu tháng ở Singapore. Vậy mà đến lúc chết, nó vẫn cắn lại tao bằng một cái thẻ bài thép."

Hoàng đứng bật dậy. Lưng nó thẳng tắp như một cây thông đứng trước bão.

"Ông không nuôi ai cả, Phát." Hoàng nói, giọng nó phẳng lặng đến rợn người. "Ông chỉ mua sự im lặng bằng xương máu của những đứa trẻ chết cháy. Và bây giờ, hạn thanh toán đã hết."

"Câm mồm!" Phát gầm lên, ngón trỏ gã siết nhẹ vào cò súng. "Ở cái đất nước này, kẻ nắm quyền mới là kẻ viết ra công lý! Tụi mày nghĩ Viện Kiểm sát sẽ bảo vệ được tụi mày à? Phan Hải Nam chỉ cần một cú điện thoại là toàn bộ cái chuyên án này sẽ biến thành một vụ phản động có vũ trang bị tiêu diệt tại chỗ!"

Gã đưa nòng súng dịch sang hướng Hoàng.

"Ném chiếc thẻ bài và tập hồ sơ qua đây. Tao sẽ cho hai đứa mày một ân huệ: một phát đạn vào đầu, không đau đớn, không bị thiêu sống như lũ trẻ hai mươi năm trước."

Tôi đứng hơi chếch về bên trái Hoàng nửa bước, khẽ dịch mũi chân phải xuống rãnh thoát nước ngập bùn dưới chân. Tay phải tôi buông thõng bên hông, ngón tay chạm vào cán báng khẩu K54 rỗng đạn trong túi áo khoác. Khẩu súng không còn đạn, nhưng Phát không biết điều đó.

"Phát này." Tôi cất tiếng, giọng bình thản đến mức chính tôi cũng thấy ngạc nhiên.

"Gì?"

"Mày có biết tại sao hai mươi năm trước, con bé Lan giấu được đứa con ba tháng tuổi sau chái bếp này không?"

Cơ mặt Phát khẽ giật giật. Khẩu súng trên tay gã khẽ chao đảo trong một phần mười giây. "Mày nói lảm nhảm cái gì?"

"Bởi vì đêm hôm đó, người mở then cài cửa sổ chái bếp không phải là Đinh Trọng Phúc, cũng không phải Luân 'Mã Tấu'." Tôi nhếch mép, để lộ hàm răng dính máu khô. "Người bế đứa trẻ đi... đang đứng ngay sau lưng mày đấy."

Đúng lúc đó, từ trên ngọn đồi thông phía sau lưng Trịnh Văn Phát, một giai điệu quen thuộc đến rợn người bất ngờ vang lên qua màn sương mù buốt giá.

Đó là tiếng nhạc lách cách, mộc mạc của một chiếc hộp nhạc thiếu nhi thập niên 2000. Bài hát truyền thống của Mái ấm Hướng Dương.

Đi kèm với tiếng nhạc là ba nhịp gõ khô khốc vang lên từ bóng tối của rừng thông:

Cộc. Cộc. Cộc.

Đồng tử Trịnh Văn Phát giãn to ra hết cỡ. Gã hốt hoảng xoay phắt người lại, nòng súng shotgun vung lên về phía bóng đêm dày đặc.

Và một tia laser màu đỏ thẫm rực cháy trong sương mù, khóa chặt vào đúng giữa trán của viên Đại tá.

0