Giao Lộ Mờ Sương

Chương 78: Bùn Lầy Cù Lao

Đăng: 23/08/2026 03:30 3,668 từ 1 lượt đọc

Gió từ cửa sông Soài Rạp thốc ngược vào lạch Tắc Cua, mang theo mùi sình lầy ngâm mặn và mùi lá đước mục rữa. Nước triều rút nhanh để lộ ra những bãi bùn xám xịt nhô lên tua tủa rễ cây nhọn như chông sắt.

Chiếc xuồng composite của Phạm Quang Đạt vắt ngang một thân đước đổ, phần đuôi bị đạn đại liên bắn nát tơi tả, dầu diezen rỉ ra loang thành những vệt cầu vồng nhờ nhờ trên mặt nước cạn.

Cách đó mười lăm mét, Trung tướng Phạm Quang Đạt đang ngập đến đầu gối trong bùn.

Bộ âu phục đắt tiền của ông ta bết đầy sình non. Ống quần bên phải rách toạc một mảng lớn, máu đỏ thẫm ứa ra từ vết cứa của vỏ ốc rạch sâu vào bắp chân. Nhưng tay phải ông ta vẫn nắm chặt khẩu Stechkin báng thép nặng trịch. Bàn tay trái ghì lấy quai chiếc va-ly hợp kim titan đặt chênh vênh trên gốc đước nổi. Trên nắp va-ly, một nút gạt bọc nhựa trong đang nhấp nháy ánh đèn led màu đỏ rực.

Ngón tay cái của Đạt chỉ cách cái lẫy kích hoạt xung điện từ chưa đầy hai phân.

"Đứng yên đó!" Giọng Đạt khàn đặc, lẫn trong tiếng thở dốc hắt ra từ lồng ngực một kẻ đã gần sáu mươi tuổi. "Trần Vũ! Mày bước thêm một bước, tao ấn nút. Mười giây nữa máy chủ Zurich sẽ biến thành một đống silicon nung chảy. Mọi bản đồ, mọi tài khoản, danh sách rửa tiền hai mươi năm qua... sẽ bốc hơi sạch."

Tôi dừng lại. Bùn lầy ngập tới bắp chân, lạnh buốt và nặng như chì.

Mỗi nhịp thở là một mũi dao cạo cứa thẳng vào màng phổi trái. Ống dẫn lưu silicon cắm ở khoang liên sườn số năm bị lực giằng co kéo căng, rít lên từng tiếng ùng ục trong bình áp lực âm mà Hạ Băng đang xách bên cạnh.

Hạ Băng bước sau tôi nửa thân người. Một tay cô giữ chặt quai bình thủy tinh ba ngăn, tay kia bấm mạnh ngón trỏ vào khớp nối chữ Y trên ống thở để ngăn tràn khí ngược. Vạt áo blouse trắng cô khoác vội ngoài bìa rừng đã dính bết bùn đen, ống quần jean ướt sũng. Cô không nhìn Đạt. Ánh mắt cô ghim thẳng vào đồng hồ đo áp lực trên nắp bình.

"Áp lực đang tụt," Hạ Băng nói, giọng phẳng lặng như băng ngâm trong cồn y tế. "Anh còn đúng một trăm mililit khí dự trữ trước khi phổi xẹp. Đừng có ho."

Tôi cắn chặt môi dưới. Vị máu tanh nồng tràn vào đầu lưỡi, kéo giật cái đầu đang choáng váng vì thiếu oxy trở lại thực tại.

Phía cánh hữu, tiếng lội bùn bì bõm dứt khoát vang lên. Lê Hoàng đã áp sát mép lùm mắm. Nòng khẩu K59 trên tay cậu ta không hề run rẩy, hướng thẳng vào khớp vai phải của Đạt. Nhưng góc bắn bị vướng một nhánh đước cong, chỉ cần trượt nửa tấc, ngón tay của Đạt theo phản xạ co giật sẽ lập tức sập cái lẫy kích nổ.

Xa hơn ngoài lạch nước sâu, tiếng động cơ ca-nô Biên phòng gầm gừ giữ khoảng cách. Thượng tá Đặng Thế Anh đang đứng ở mũi thuyền, loa cầm tay hạ xuống bên hông. Ông hiểu rõ bất kỳ tiếng động cơ công vụ nào lúc này cũng có thể kích động kẻ cùng đường bóp nát cơ hội cuối cùng của bản án.

"Học viện Cảnh sát dạy môn Tâm lý học Tội phạm hay lắm mà, Tướng Đạt?" Tôi lên tiếng. Giọng tôi khào khào, lẫn trong tiếng gió rít qua kẽ lá dừa nước. "Hai mươi năm đứng trên bục giảng dạy trinh sát trẻ về đạo đức người chiến sĩ, có bài nào ông dạy cách lặn xuống giếng khóa van nước để thiêu sống mười hai đứa trẻ không?"

Cơ mặt Đạt giật mạnh một cái. Khẩu súng trong tay ông ta hơi hạ thấp nửa phân, nhưng ngón tay cái bên tay trái vẫn đè chặt lên nắp nhựa bảo vệ công tắc.

"Đó là một tai nạn," Đạt nghiến răng, mắt đỏ ngầu gườm gườm nhìn tôi. "Con đàn bà đó nhìn thấy thứ nó không được phép thấy. Một triệu đô-la tiền mặt từ biên giới chuyển về để nuôi mạng cả một chuyên án ma túy vùng biên. Tao bảo nó im lặng. Tao cho nó tiền đưa cả trại mồ côi đi nơi khác. Nhưng nó cứng đầu. Nó cầm tờ biên lai định chạy ra bưu điện gửi cho Viện Kiểm sát."

"Nên ông khóa van nước Danfoss lại?" Lê Hoàng lạnh lùng cất tiếng từ rặng mắm. "Ông khóa van cấp nước sinh hoạt sáu tiếng trước khi thằng Phúc đổ xăng, để khi lửa bốc lên, trong hầm không còn một giọt nước dập lửa?"

Đạt cười gằn. Một nụ cười méo mó, trơ trẽn của một kẻ đã sống quá lâu trong sự bao bọc của quyền lực và phù hiệu cấp tướng.

"Trong chiến dịch, có những tổn thất ngoài dự kiến," Đạt nói, giọng ráo hoảnh. "Chúng nó chỉ là một lũ trẻ mồ côi không có hộ tịch. Một đám phế phẩm xã hội gom về một góc đồi. Nhưng tao thì khác! Tao là Chỉ huy trưởng chuyên án B.09! Mạng của tao, tương lai của tao và mỏ đất hiếm dưới chân đồi đó đáng giá gấp vạn lần cái trại rách nát ấy!"

Một cơn gió chướng thổi tạt qua bãi bồi, cuốn theo mùi tanh của bùn và rác hữu cơ trôi dạt từ thượng nguồn.

Tôi đưa bàn tay phải vào túi áo ngực.

Đầu ngón tay tôi chạm vào chiếc kẹp tóc bằng nhôm uốn hình con bướm bị cháy xém một bên cánh. Miếng kim loại mỏng manh, lạnh ngắt và sắc lọn. Hai mươi năm trước, bảo mẫu Mai Lan đã cài nó trên tóc khi bế đứa con ba tháng tuổi lùi vào góc chái bếp, trong lúc ngọn lửa dung môi công nghiệp hút cạn từng ngụm dưỡng khí cuối cùng của căn hầm đá.

Bên cạnh chiếc kẹp tóc là cuốn sổ điểm danh nhỏ xíu dập ghim gỉ sét. Trang giấy ố vàng ghi tên Bé Đen năm tuổi, Bé Út ba tháng tuổi, và cô bảo mẫu Nhàn mười chín tuổi — người đã để dành từng miếng cơm cháy đáy nồi cho đứa trẻ ít nói nhất trại trước khi bị lửa trùm kín lưng.

Ngực trái tôi nhói lên một cơn đau xé thịt. Đầu xương sườn số sáu gãy lìa cọ quẹt vào màng phổi tạng theo từng nhịp tim đập loạn xạ trên một trăm ba mươi lần một phút.

Tôi muốn rút gói thuốc Thăng Long trong túi quần ra châm một điếu. Nhưng bao thuốc đã nát bét từ lúc nhảy xuống lạch nước ở Nhơn Trạch, thấm đẫm nước mặn và bùn sình.

Tôi mở miệng, định nói một câu gì đó thật độc địa, thật mỉa mai để lấp đi khoảng trống đang rỗng toác trong lồng ngực. Nhưng thứ trào lên cổ họng chỉ là một ngụm máu bầm đặc quánh. Tôi nuốt khan ngụm máu xuống, nhổ bãi bọt đỏ thẫm vào vũng bùn dưới chân, rồi nhếch mép:

"Bao biện giỏi đấy, ông tướng. Nhưng ông tính sót một chuyện."

Đạt nheo mắt lại: "Sót cái gì?"

"Nguyễn Tuấn."

Cái tên vừa buông ra, không khí quanh bãi cọc đáy dường như đông cứng lại.

Lê Hoàng siết chặt báng súng. Hạ Băng đứng cạnh tôi, bàn tay đang giữ van áp lực hơi khựng lại một nhịp rất khẽ, rồi lập tức siết chặt hơn.

"Ba năm trước," tôi bước lên một bước, bùn lầy ngập qua đầu gối, "Tuấn tìm ra mẫu dung môi công nghiệp trong kho tang vật. Cậu ấy lần ra dấu vết chiếc xe bồn và cái van Danfoss mang vân tay của B.09. Cậu ấy không báo cáo qua đường dây của Thắng, mà chuẩn bị nộp thẳng cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Thế là ông mớm tin trinh sát giả. Ông điều tổ của tôi vào hẻm cụt Cầu Muối."

Tôi nhìn thẳng vào tròng mắt vằn tia máu của Đạt.

"Ông muốn mượn súng của bọn buôn ma túy bắn chết Tuấn. Nhưng ông để tôi sống. Ông để tôi sống với nỗi ân hận suốt ba năm rằng chính quyết định sai lầm của tôi đã giết chết đồng đội mình."

Tôi dừng lại nửa giây. Bàn tay trái tê dại vì đứt nhánh thần kinh quay khẽ giật giật.

"Hóa ra không phải tôi phân bổ sai đội hình. Mà là chiếc ghế của ông được kê bằng máu của Tuấn, máu của chị Lan, và xương tàn của mười hai đứa trẻ ở đồi Robin."

Phạm Quang Đạt bật cười thành tiếng. Tiếng cười the thé, khô khốc như tiếng cọ xát của hai thanh sắt gỉ.

"Biết thì đã sao, hả thằng thám tử què?" Đạt gầm lên, ngón tay cái ấn mạnh xuống nắp nhựa của chiếc va-ly, làm cái lẫy gạt lún sâu xuống nửa nấc. "Mày có bằng chứng gì? Chiếc va-ly này nổ tung, tao sẽ khai trước tòa rằng tao bị các người bức cung, bị trúng bẫy của Quỹ Viễn Đông! Mạng của Tuấn? Thằng đại úy quèn đó chết ba năm rồi! Tro cốt của nó nằm ở nghĩa trang kia kìa, có cứu được cái mạng tàn của mày hôm nay không?"

Đèn led trên nắp va-ly chuyển từ màu đỏ nhấp nháy sang màu cam sáng đặc. Tiếng rít siêu âm của tụ điện cao áp bắt đầu tích năng lượng phát ra the the, chói buốt màng nhĩ.

Đúng mười giây đếm ngược.

"Hoàng!" Tôi gầm lên.

Không phải tiếng thét của một chỉ huy, mà là phản xạ của một kẻ đã quen nhìn thấy cái chết cận kề trong những góc chết tăm tối nhất của thành phố này.

Một tiếng nổ đanh gọn xé toạc màn sương mù bãi bồi.

Phát đạn từ khẩu K59 của Lê Hoàng bay qua khe hở giữa hai thân đước mục, găm chính xác vào khớp khuỷu tay phải đang cầm súng Stechkin của Đạt. Tiếng xương gãy vang lên khô khốc. Khẩu súng ngắn văng khỏi tay ông ta, rơi tõm xuống bãi sình lầy sâu hoắm.

Nhưng bàn tay trái của Đạt vẫn không buông chiếc va-ly.

Trong cơn đau đớn cùng cực, bản năng của một con thú dữ bị dồn vào chân tường bùng phát. Đạt gầm lên một tiếng man dại, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể dập mạnh lòng bàn tay trái xuống nút kích nổ xung điện từ.

Bảy giây.

Tôi không nghĩ đến lá phổi đang rách toạc. Tôi không nghĩ đến ống silicon đang cắm trong ngực. Mọi bài học thực chiến của mười năm trinh sát hình sự, mọi cơn thịnh nộ kìm nén suốt ba năm ròng rã dồn hết vào một cú đạp chân duy nhất.

Bùn bắn tung tóe.

Cả thân người tôi lao tới như một khối sắt nguội. Bàn tay phải của tôi rút chiếc xà beng mini bằng thép tôi đen giắt bên hông, chém ngang một đường chuẩn xác như một lưỡi dao mổ.

Mũi xà beng sắc nhọn đâm phập vào khe hở giữa nắp va-ly và lẫy gạt kim loại, chặn đứng hành trình của nút bấm đúng ở một mi-li-mét cuối cùng.

Cùng lúc đó, lồng ngực tôi đập mạnh vào góc cạnh sắc lẹm của chiếc va-ly titan.

Rắc.

Một âm thanh giòn tan vang lên từ phía dưới xương đòn bên trái. Đầu xương sườn số sáu gãy rời bị lực ép đẩy lệch thêm một phân, chọc thủng lớp màng phổi tạng. Không khí tràn ồ ạt vào khoang ngực, tạo thành một áp lực khổng lồ bóp nghẹt tim tôi. Mắt tôi tối sầm lại. Cả bầu trời Cần Giờ nghiêng ngả thành một mảng xám xịt nhòe nhoẹt.

Nhưng cánh tay phải của tôi đã kịp khóa chặt cổ tay trái của Phạm Quang Đạt.

Tôi dùng đòn bẻ khớp dã chiến, xoay ngược cổ tay ông ta một trăm tám mươi độ. Tiếng khớp xương trật ra khỏi ổ khớp kêu một tiếng "khục" ghê rợn. Chiếc va-ly titan tuột khỏi tay Đạt, rơi nghiêng trên rễ đước, tiếng rít siêu âm của bộ kích nổ tắt ngấm khi chốt cơ học bị mũi xà beng của tôi bẩy gãy làm đôi.

Đạt ngã vật xuống bùn, ôm cánh tay trật khớp rên rỉ thảm thiết.

Tôi quỳ sụp xuống bên cạnh ông ta, hai đầu gối lún sâu vào sình lầy. Máu tươi từ khóe miệng tôi nhỏ tong tỏng xuống mặt phẳng kim loại xám tro của chiếc va-ly titan.

"Đứng yên! Không được cử động!"

Tiếng ủng cao su dẫm bì bõm rầm rập trên bãi bồi. Thượng tá Đặng Thế Anh cùng sáu chiến sĩ Cảnh sát Cơ động vũ trang và lực lượng Biên phòng ập tới. Những mũi súng tiểu liên báng gấp khóa chặt toàn bộ không gian quanh Phạm Quang Đạt. Một sĩ quan quân cảnh nhanh chóng tra còng số tám vào hai cổ tay đầy bùn đất của viên Trung tướng Học viện Cảnh sát.

Lê Hoàng bước tới, bước chân cậu ta lảo đảo. Cậu ta nhìn Đạt bị đè bẹp xuống bùn, ngực phập phồng sau lớp áo ướt đẫm mồ hôi. Cậu ta không nói một lời nào, chỉ cúi xuống, nhặt chiếc va-ly titan lên, dùng khăn tay lau sạch vệt máu của tôi dính trên nắp khóa.

"Trần Vũ! Nằm yên!"

Tiếng Hạ Băng quát lên, sắc lạnh nhưng run rẩy hiếm thấy.

Cô lao tới quỳ sụp xuống bùn bên cạnh tôi. Chiếc bình áp lực âm đặt vội trên một tảng đá đước. Máu trong ống dẫn lưu của tôi đã chuyển từ màu hồng nhạt sang màu đỏ tươi sủi bọt khí đặc quánh. Áp lực màng phổi đã mất hoàn toàn. Khí quản của tôi bị đẩy lệch hẳn sang bên phải, từng hơi hít vào chỉ mang lại cảm giác ngạt thở buốt óc.

Hạ Băng mở chiếc túi y tế dã chiến, rút ra một chiếc kẹp Kocher bằng thép không gỉ. Cô kẹp chặt lấy gốc ống silicon sát thành ngực tôi để ngăn không khí bên ngoài lọt vào, rồi rút từ túi áo một ống tiêm chứa mười miligram dung dịch Morphine đặc.

"Tôi đã bảo anh không được vận động mạnh," cô nói, giọng nghẹn lại sau lớp khẩu trang y tế. Mũi kim đâm xuyên qua lớp băng thun cắm ngập vào cơ bắp cánh tay tôi. "Anh muốn chết ở cái bãi sình này để thằng Tuấn nó cười vào mặt anh à?"

Cơn đau buốt từ ngực dịu đi một chút khi thuốc ngấm vào máu, thay vào đó là cảm giác tê dại lan tỏa khắp cơ thể.

Tôi ngửa đầu ra sau, tựa lưng vào một gốc đước mục.

Trời tháng Bảy bắt đầu đổ một cơn mưa dầm. Những hạt mưa nặng hạt rơi lộp độp trên tán lá mắm, rửa trôi lớp bùn xám xịt trên chiếc va-ly titan, làm lộ ra dòng mã số dập nổi của Tổng cục Cảnh sát từ năm 2004: Chuyên án B.09.

Phạm Quang Đạt bị hai chiến sĩ cơ động xốc nách kéo đứng dậy. Bộ mặt đạo mạo của một vị tướng lĩnh, một học giả uyên bác hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại vẻ mặt nhăn nhúm, bạc nhược của một tên tội phạm bị lột trần manh áo giáp cuối cùng.

Khi đi ngang qua tôi, Đạt dừng lại nửa giây. Đôi mắt đục ngầu của ông ta nhìn chằm chằm vào chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm đang thò ra ngoài mép túi áo ngực tôi.

"Mày nghĩ... mày thắng rồi sao, Trần Vũ?" Đạt thì thào qua kẽ răng dính đầy bùn. "Bắt được tao... các người nghĩ là đã xong sao? Cái mạng lưới đó... cái mỏ quặng đó... nó nằm sâu hơn chúng mày tưởng nhiều. Mày chỉ vừa chạm tới cái đuôi của nó thôi..."

"Đưa đi!" Thượng tá Đặng Thế Anh lạnh lùng quát lớn, cắt đứt lời của Đạt.

Hai người lính áp giải Đạt bước xuống ca-nô Biên phòng. Tiếng xích sắt va vào mạn thuyền kêu lách cách giữa tiếng sóng vỗ ì ọp.

Thượng tá Thế Anh quay sang nhìn tôi, rồi nhìn sang Lê Hoàng. Ông rút từ trong cặp công vụ ra một văn bản đóng dấu đỏ tươi của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và Ban Chỉ đạo Trung ương.

"Hồ sơ gốc từ chiếc va-ly này và lời khai của Đạt đã đủ để khởi tố toàn bộ mười tám tài khoản ủy thác còn lại," Thế Anh nói, giọng trầm và dứt khoát. "Chuyên cơ của Viện Kiểm sát đang đợi ở sân bay Tân Sơn Nhất để chuyển toàn bộ tài liệu ra Hà Nội ngay trong chiều nay. Chuyên án hai mươi năm... coi như đã khép lại phần điều tra hiện trường."

Lê Hoàng đứng im lặng. Cậu ta nhìn chiếc va-ly titan trên tay mình, rồi từ từ chuyển nó sang cho sĩ quan kiểm sát đặc nhiệm.

"Còn danh dự của cha tôi?" Hoàng hỏi, giọng cậu ta bình thản đến lạ lùng, nhưng quai hàm bạnh ra cứng ngắc.

"Quyết định phục hồi danh dự và truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất cho cố Thượng tá Lê Văn Bản đã được Thường trực Ban Bí thư phê chuẩn," Thượng tá Thế Anh đáp, ánh mắt nhìn Hoàng đầy sự kính trọng của một người đồng đội già. "Ông ấy là một người lính dũng cảm. Ông ấy đã cứu đứa trẻ, giấu chìa khóa và giữ lại chứng cứ cho đến hơi thở cuối cùng."

Hoàng không nói gì. Cậu ta quay mặt đi, nhìn ra luồng sông Soài Rạp mênh mông nước bạc. Gió sông thổi bay những sợi tóc ướt đẫm bết vào trán cậu ta.

Hạ Băng băng lại vết thương hở ở ngực tôi bằng ba lớp gạc tẩm cồn i-ốt, cố định lại bình áp lực âm vào cáng cứu thương dã chiến mà các chiến sĩ Biên phòng vừa khiêng tới.

"Lên cáng," cô ra lệnh, giọng không cho phép cãi lại. "Trực thăng cấp cứu của Bệnh viện Quân y 175 đang hạ cánh xuống đồn Biên phòng Cần Thạnh. Anh phải vào phòng mổ mở lồng ngực khâu nối màng phổi trong vòng bốn mươi lăm phút nữa."

Tôi để mặc cho hai người lính nhấc bổng mình lên cáng.

Khi thân người nằm xuống lớp vải bạt ẩm ướt, bàn tay tôi vô thức lần vào túi quần.

Bao thuốc lá Thăng Long đã bẹp dúm. Tôi rút ra được nửa điếu thuốc gãy đôi, đầu lọc sũng nước mặn. Tôi ngậm mẩu thuốc vào môi, nhưng không có bật lửa. Mùi thuốc lá ẩm quyện với mùi bùn non và mùi máu tanh tạo thành một thứ phong vị quen thuộc đến cay đắng của cái thành phố này.

Chiếc ca-nô Biên phòng nổ máy, rẽ sóng đưa chúng tôi rời khỏi lạch Tắc Cua hướng về phía cầu cảng Cần Thạnh.

Phía sau lưng, tàn tích của Mái ấm Hướng Dương, tro bụi của vụ cháy hẻm Cầu Muối, và những xác chết trong các căn phòng kín xa hoa ở Quận 1, Quận 2 dường như đang lùi dần vào màn sương mù dày đặc của mùa mưa tháng Bảy.

Tôi ngửa mặt nhìn lên bầu trời xám xịt.

Tuấn. Thằng nhóc Đăng. Chị Lan. Chị Nhàn. Và mười hai đứa trẻ không bao giờ có cơ hội lớn lên.

Bản án đã thi hành xong. Những kẻ mặc vest sang trọng, những kẻ mang quân hàm cấp tướng từng nhúng tay vào ngọn lửa năm ấy lần lượt bước vào sau chấn song sắt hoặc nằm sâu dưới đáy biển vịnh Gành Rái.

Thế nhưng, cảm giác chiến thắng hoàn toàn không xuất hiện. Thứ còn lại trong lồng ngực tôi lúc này chỉ là một khoảng trống rỗng, lạnh ngắt như mảnh kẹp tóc nhôm đang cấn vào xương sườn gãy.

Chiếc ca-nô vừa cập vào bến bê tông của Đồn Biên phòng Cần Thạnh.

Đúng lúc hai y tá quân y chạy xuống cầu tàu đỡ lấy càng cáng thương, chiếc điện thoại Nokia cũ kỹ dán băng dính trong túi áo ngực tôi đột ngột rung lên bần bật.

Âm thanh rung bần bật trên lớp vỏ nhựa nứt vỡ.

Tôi nhíu mày, dùng những ngón tay còn cử động được của bàn tay phải móc chiếc máy ra. Màn hình đơn sắc chớp sáng yếu ớt dưới ánh đèn pha trạm kiểm soát.

Một tin nhắn SMS gửi đến từ một đầu số cố định có mã vùng của Thành phố Hồ Chí Minh: 028-3829xxxx — đầu số nội bộ của Phòng Lưu trữ Hồ sơ Tố tụng thuộc Tòa án Nhân dân Tối cao tại TP.HCM.

Tin nhắn được gửi đi vào đúng 12:45 trưa, chỉ vỏn vẹn hai dòng chữ không dấu:

"BẢN ÁN CỦA PHẠM QUANG ĐẠT CHƯA PHẢI LÀ BẢN ÁN CUỐI CÙNG, ĐỘI PHÓ TRẦN VŨ.

HỒ SƠ GỐC CỦA ĐỨA TRẺ THỨ MƯỜI BA VỪA ĐƯỢC RÚT RA KHỎI KHO LƯU TRỮ TỐI NAY."

0