Chương 127: Căn Hầm Cao Điểm 1500
Mùi sương mù Đà Lạt lúc nửa đêm không giống mùi mưa dưới cống hộp Sài Gòn.
Ở Quận 4, nước cống xộc lên mùi rác thối, mỡ bò ngập rãnh và axít từ mấy bình ắc-quy cũ. Ở chân đồi Robin, sương ngấm vào phổi mang theo vị nhựa thông mục, đất đỏ bazan ẩm lạnh và thứ mùi tanh nồng của vôi sống lâu năm. Một thứ lạnh buốt da thịt, luồn qua lớp áo sơ mi sũng nước bám chặt vào lưng tôi như một lớp da chết.
Tôi cắn chặt môi dưới. Vị máu tanh mằn mặn tứa ra nơi đầu lưỡi giúp tôi tỉnh táo khỏi cơn váng vất đang kéo sụp mi mắt. Lồng ngực bên trái giật từng cơn theo mỗi bước chân. Đầu xương sườn số sáu gãy lìa đang cọ nghiến vào màng phổi tạng, phát ra những tiếng lạo xạo mà chỉ riêng tai tôi nghe rõ.
Bên cạnh tôi, Hạ Băng xách chiếc bình áp lực âm ba ngăn. Ống dẫn lưu silicon cắm ngập sáu phân vào ngách sườn hoành của tôi khẽ giật theo nhịp thở. Cột dịch đỏ sẫm trong bình đã chạm sát vạch hai trăm chín mươi lăm mi-li-lít. Chỉ còn đúng năm phân khối nữa là mất hoàn toàn áp lực chân không. Nếu để máu trào ngược, tim tôi sẽ bị chèn ép cấp và ngừng đập trong vòng chưa đầy một trăm tám mươi giây.
Hạ Băng không nói câu nào. Bàn tay đeo găng y tế của cô siết chặt quai bình, ngón trỏ luôn đặt hờ trên ngàm kẹp dự phòng. Ánh mắt cô nhìn tôi dưới màn sương chỉ phẳng lặng như mặt kính bàn mổ. Chúng tôi sống sót qua năm trạm kiểm soát, hai vụ phục kích và sáu trăm cây số đường đèo để tới đây. Cả hai đều hiểu những lời khuyên can y khoa lúc này đều là rác rưởi.
Lê Hoàng đi trước hai bước. Khẩu K54 trong tay cậu ta đã mở chốt an toàn, họng súng chúc xuống đất một góc bốn mươi lăm độ theo đúng bài bản của lính hình sự tiếp cận mục tiêu trong không gian hẹp. Phía sau, Ba Cháy cầm chiếc xà beng dài đứng tựa lưng vào mép cửa xe bán tải, mắt đảo liên tục về phía rừng thông đen đặc.
Cánh cổng sắt của trạm y tế dã chiến ngầm mở toang một nửa. Bản lề hoen rỉ kêu kin kít dưới sức đẩy của gió núi.
Cộc. Cộc. Cộc.
Ba tiếng gõ kim loại lại vang lên từ sâu dưới lòng đất. Đanh, khô khốc, cách nhau đúng một nhịp dừng cơ học.
Nó giống hệt nhịp gõ của tên sát thủ trên nóc Hangar số Ba. Giống nhịp gõ trên vỏ chiếc máy ghi âm ở Thảo Điền. Và giống nhịp gõ vô thức của Đăng khi trôi dạt trên chiếc ca-nô cứu sinh ngoài luồng Soài Rạp.
"Vào không?" Hoàng thì thầm, hơi thở phả ra thành luồng khói trắng xóa.
"Đi sau tôi ba mét," tôi đáp, giọng khàn đặc như có cát chèn trong thanh quản. "Nhìn trần và mép bậc thang. Kẻ chôn thẻ bài KTS-00 không bao giờ để khách bước vào bằng cửa chính mà không cài bẫy giật."
Tôi rút cây đèn pin mini bằng hợp kim nhôm, rọi luồng sáng hẹp quét dọc lối đi dốc đứng bằng đá chẻ.
Dãy nhà thời Pháp này được xây nửa chìm vào sườn đồi từ thập niên sáu mươi, bên ngoài phủ kín rêu phong và dây leo dại. Nhưng bậc thềm dẫn xuống tầng hầm B-2 thì nhẵn bóng. Không có lá thông mục. Không có mạng nhện. Mép đá bên phải có vệt mỡ bôi trơn dây cáp còn mới nguyên, thoang thoảng mùi dầu máy quân dụng.
Chúng tôi bước xuống từng bậc. Không khí đặc quánh lại, mang theo hơi lạnh buốt của hầm đá ngầm và một mùi hương rất quen: mùi thuốc lá Thăng Long cháy dở quyện với mùi cồn đỏ i-ốt.
Mười lăm bậc thang đá dẫn xuống một cánh cửa sắt dày ba phân sơn màu cỏ úa. Cửa không khóa, chỉ khép hờ bằng một thanh then cài bằng đồng thau đã mòn vẹt. Trên mặt thép dập chìm hàng chữ số nhạt màu: PHÂN TRẠM PHẪU THUẬT DÃ CHIẾN 04 // CAO ĐIỂM 1500 // BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 7 - 1985.
Hoàng dùng mũi giày đẩy nhẹ. Cánh cửa sắt từ từ mở ra không một tiếng động. Bản lề đã được tra dầu mỡ cẩn thận.
Bên trong là một gian phòng rộng chừng bốn mươi mét vuông khoét sâu vào lòng đá bazan. Trần vòm cuốn ghép gạch thẻ thời Pháp, rỉ nước tong tỏng xuống rãnh thoát nước sát chân tường. Giữa phòng kê một chiếc bàn mổ bằng inox kiểu cũ chân gắn lò xo giảm chấn, xung quanh là những tủ thuốc dã chiến bằng tôn kẽm cửa kính mờ đục.
Trên mặt bàn mổ, một ngọn đèn bão chạy dầu hỏa đang tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù.
Cạnh ngọn đèn, một người đàn ông ngồi bất động trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông.
Ông ta mặc chiếc áo măng-tô lính trinh sát màu xanh rêu bạc phếch, ve áo cài chiếc huy hiệu đã tróc sơn. Mái tóc hoa râm cắt ngắn sát da đầu để lộ vết sẹo lõm sâu bằng đồng xu trên thái dương trái — dấu tích của một mảnh đạn cối cày nát xương sọ từ chiến trường biên giới Tây Nam. Hai bàn tay ông ta đặt úp trên mặt bàn inox, những ngón tay gầy guộc sần sùi, móng tay cái bên phải bị dập đen sì.
Giữa hai bàn tay là một chiếc hộp diêm Thống Nhất bằng gỗ bọc giấy xi măng cũ và một thanh đồng thau dài mười phân vát nhọn đầu.
Cộc. Cộc. Cộc.
Người đàn ông không ngẩng đầu, chỉ dùng đầu thanh đồng gõ nhẹ ba nhịp xuống mặt bàn inox. Âm thanh kim loại va chạm vang dội trong không gian kín của căn hầm đá, sắc lạnh đến rợn gáy.
"Trần Vũ," giọng ông ta cất lên, khàn đặc như tiếng đá cọ vào kim loại, mang âm sắc vùng cao nguyên Đơn Dương không lẫn vào đâu được. "Các anh đến muộn mười phút so với tính toán của tôi. Đoạn đèo Tỉnh lộ 725 làm khó chiếc xe bán tải của thằng lính trẻ à?"
Lê Hoàng bước chéo sang một góc bốn mươi lăm độ, họng súng K54 khóa thẳng vào ngực người đàn ông: "Đưa hai tay lên khỏi mặt bàn. Chậm thôi."
Người đàn ông khẽ nhếch mép, khóe môi kéo theo một vết sẹo co rút dài từ cánh mũi xuống cằm. Ông ta từ từ lật ngửa hai bàn tay. Lòng bàn tay chi chít những vết bỏng hóa chất màu trắng đục, da chai sần đến mức không còn nhìn thấy bất kỳ đường vân tay nào.
"Nếu tôi muốn dùng súng, Đội trưởng Lê Hoàng, thì ba trăm gam phốt-pho trắng dưới gầm chiếc xe cứu thương ở vực Đạ Tẻh đã nổ tung khi lốp xe các anh chạm vào vệt sơn dã quỳ rồi," ông ta nói, mắt vẫn nhìn chằm chằm vào ngọn lửa đèn bão. "Khẩu K54 của anh là hàng cấp phát năm 1999, số súng dập chìm trên thân khóa nòng. Giữ lấy đạn mà dùng cho những kẻ mặc vest ở Sài Gòn."
Tôi bước lên một bước. Cơn đau nơi mạn sườn làm tôi phải khựng lại nửa nhịp, một tay vịn chặt vào mép bàn mổ. Mùi cồn sát trùng và mùi phốt-pho từ người ông ta bốc lên cay xè sống mũi.
"KTS-00," tôi gằn từng tiếng, giọng đứt quãng. "Tiểu đoàn 3 Trinh sát Kỹ thuật. Kẻ ký lệnh xuất năm ngàn lít dầu diezen kho K-86 đêm mười một tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn. Và là kẻ đã châm que diêm đầu tiên vào trạm y tế Đơn Dương ba mươi chín năm trước."
Người đàn ông ngước mắt lên. Đôi mắt ông ta đục ngầu, tròng mắt màu xám tro không hề chớp, sâu hoắm dưới đôi mày rậm bạc trắng.
"Tôi không châm que diêm đó để giết người, Trần Vũ," ông ta nói chậm rãi. "Tôi châm que diêm đó để thiêu hủy mười ba mẫu tủy sống trước khi bọn buôn người của Quỹ Viễn Đông kịp mang chúng lên chuyên cơ ở sân bay Cam Ly. Nhưng cha anh... cố Trung tá Trần Viết Hùng... đã bế đứa trẻ thứ mười ba lao ra khỏi biển lửa."
Tôi đứng sững lại giữa căn hầm.
Không khí như bị rút cạn khỏi buồng phổi. Một khoảng trống rỗng toang hoác mở ra trong lồng ngực, lạnh hơn cả mũi kim chọc dò của Hạ Băng.
Tôi nhìn xuống bàn tay mình. Những ngón tay dính đầy bụi than, máu khô và muội thuốc súng khẽ run lên. Tôi với tay vào túi áo ngực. Ngón tay chạm vào góc cuốn nhật ký bìa simili mốc meo của Mai Lan và chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm. Một cảm giác nhói buốt chạy dọc sống lưng, kéo theo hình ảnh chiếc xe cứu thương quân sự 80-041-QS bùng cháy dưới đáy vực Đạ Tẻh.
Tôi chớp mắt hai lần, nuốt khan ngụm nước bọt đặc quánh vị máu.
"Cha tôi cứu một mạng người," tôi nói, giọng lạnh tanh, lớp vỏ vô cảm lập tức đóng sập lại. "Còn ông thì dùng năm ngàn lít dầu diezen thiêu chết tám đứa trẻ và một bảo mẫu hai mươi năm sau để dọn sạch hiện trường cho một mỏ quặng đất hiếm hai phẩy năm tỷ đô. Đừng đem sự hy sinh của người lính ra làm bình phong cho một vụ thảm sát."
Người đàn ông bật cười. Tiếng cười cộc lốc, khô khốc như cành thông gãy dưới đế giày dã chiến.
Ông ta thò tay vào túi áo măng-tô, rút ra một chiếc hộp kim loại hình chữ nhật bằng nhôm máy bay, mặt ngoài khắc chìm biểu tượng hoa sen tám cánh vắt ngang thanh kiếm gãy. Ông ta đặt nó xuống cạnh chiếc đèn bão, đẩy nhẹ về phía tôi.
"Mở ra đi, Đội phó," ông ta nói. "Mười lăm héc-ta đồi thông Hướng Dương chưa bao giờ là một mỏ quặng đất hiếm đơn thuần. Và những kẻ anh bắt ở Sài Gòn — Đặng Trần Quang, Tạ Đình Bách, Nguyễn Khắc Thắng — chúng chỉ là những con kền kền đến sau ngửi thấy mùi tiền."
Tôi dùng bàn tay trái tê dại, lần mở hai chốt khóa bật bằng thép của chiếc hộp nhôm.
Bên trong không có vàng hay chứng chỉ quỹ ngân hàng Thụy Sĩ.
Chỉ có một tập tài liệu đánh máy trên giấy pơ-luya màu vàng rơm đã ố mục, góc trên đóng dấu đỏ tươi hình tròn: BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 7 // PHÂN TRẠM THỬ NGHIỆM ĐỊA TẦNG ĐƠN DƯƠNG // TỐI MẬT - LƯU TRỮ VĨNH VIỄN.
Kẹp trên đầu tập tài liệu là mười bốn ống nghiệm thủy tinh nhỏ bằng ngón tay út, rỗng không, nhưng đáy mỗi ống đều dập chìm một mã số từ 01-KTS đến 14-KTS. Riêng ống số 14 có một sợi chỉ ngũ sắc quấn chặt quanh cổ ống, dính một vệt sáp đỏ niêm phong mang vết sẹo hình chữ V ngược.
"Năm 1985," người đàn ông cất giọng trầm đục, từng câu từng chữ rơi xuống mặt bàn inox như những hạt chì. "Liên Xô phát hiện vùng quặng Đơn Dương có chứa sa khoáng phóng xạ tự nhiên kích thích đột biến kháng thể tủy sống ở trẻ em sinh sống quanh thung lũng. Dự án Sinh trắc học Đơn Dương được lập ra không phải để chữa bệnh. Nó là dự án chiết xuất huyết thanh miễn dịch đặc biệt cho lính tác chiến hạt nhân."
Hạ Băng bước lên nửa bước, mắt dán chặt vào mười bốn ống nghiệm rỗng: "Mười bốn đứa trẻ đó... bị rút tủy toàn phần?"
"Mỗi quý rút một lần," người đàn ông đáp, mắt nhìn thẳng vào Hạ Băng. "Bằng kim sinh thiết số mười tám chọc thẳng vào gai chậu sau trên mà không dùng thuốc gây mê toàn thân, vì thuốc mê sẽ làm biến tính chuỗi protein kháng xạ. Bảo mẫu Nguyễn Mai Lan năm đó mới năm tuổi, là mẫu số 00. Con bé bị chọc tủy nhiều đến mức khớp háng trái thoái hóa, ngón tay trỏ bị kẹp thép mổ cứa rách tạo thành vết sẹo chữ V."
Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng tôi.
Tôi nhớ lại vết lõm tròn hai mươi mi-li-mét trên thảm len penthouse của Phạm Kiến Quốc. Nhớ lại bước chân khập khiễng lệch mười lăm độ của kẻ chống gậy ba-toong bọc đồng.
"Trần Trọng Vũ," tôi thì thào. "Vũ 'Chân Thọt' ở Chùa Giác Lâm..."
"Trần Trọng Vũ là mẫu số 02," ông lão KTS-00 nói tiếp. "Năm 1985, khi trạm Đơn Dương bị lộ thông tin sang Hồng Kông, Tạ Đình Bách và Đặng Trần Quang quyết định xóa sổ toàn bộ để bán dữ liệu cho Quỹ Viễn Đông. Chúng định đốt sạch trạm y tế cùng mười ba đứa trẻ. Tôi đã phối hợp với Trung tá Trần Viết Hùng đánh cắp hồ sơ. Nhưng xe của ông Hùng bị Trịnh Văn Phát gài mìn ở đèo Ngoạn Mục. Một đứa trẻ ba tháng tuổi chết cháy. Ông Hùng buộc phải dùng tro cốt đứa bé đó giả làm mẫu 01 nộp vào Viện Pasteur để giữ bí mật về những đứa trẻ còn lại."
"Vậy còn vụ cháy Mái ấm Hướng Dương năm hai nghìn lẻ bốn?" Lê Hoàng siết chặt báng súng, giọng run lên vì kìm nén. "Cha tôi... Thượng tá Lê Văn Bản... có liên quan gì đến năm ngàn lít dầu diezen đó?"
Người đàn ông nhìn Hoàng, ánh mắt chùng xuống trong một tích tắc: "Cha anh không liên quan đến ngọn lửa. Đêm đó, Thắng và Khiêm mang bệnh án ung thư của mẹ anh ra ép ông Bản phải đứng canh ngoài cổng. Nhưng ông Bản đã bí mật tháo chốt van nước sinh hoạt và ném chìa khóa dự phòng vào khe đá hầm chái bếp. Kẻ thực sự khóa van nước Danfoss từ mười hai giờ đêm... không phải người của Đội Trọng án. Kẻ đó là Phạm Quang Đạt, làm theo lệnh trực tiếp của Đặng Trần Quang."
Ông ta dừng lại, rút một que diêm từ hộp diêm Thống Nhất.
"Năm 2004, Quỹ Viễn Đông phát hiện đứa trẻ thứ mười bốn — đứa trẻ mang bộ gen đối ứng hoàn hảo nhất — vẫn còn sống và đang được nuôi dưỡng tại Mái ấm Hướng Dương dưới thân phận con riêng của bảo mẫu Mai Lan. Chúng cần dọn sạch toàn bộ mẫu đối chứng cũ để hợp thức hóa bản quyền huyết thanh sang Thụy Sĩ. Phạm Kiến Quốc, Đinh Trọng Phúc, Huỳnh Trí Cao... chỉ là những con rối cầm xăng đi làm thuê."
"Và ông đã ở đây suốt bốn mươi năm qua?" tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta. "Nhìn từng người một chết đi?"
"Tôi ở đây để giữ chiếc chìa khóa cuối cùng," KTS-00 quẹt que diêm.
Xoẹt.
Ngọn lửa bùng lên, phản chiếu ánh sáng cam le lói trong đôi mắt đục ngầu của người lính già.
"Ống vi nang titan các anh mang từ ngực thằng Nam về... mã ROBIN-1985-04... không phải là mã mở kho dữ liệu mỏ quặng. Nó là mã kích hoạt hệ thống tự hủy bằng nhiệt nhôm của trạm ngầm Cao điểm 1500."
Ông ta giơ ngọn diêm lên ngang ngực.
"Dưới đáy căn hầm này, sâu mười lăm mét dưới lớp đá bazan, là kho lưu trữ mười bốn mẫu tủy sống gốc đông khô nguyên bản từ năm 1985. Đặng Trần Quang và Quỹ Viễn Đông đã cài đặt một đường truyền vệ tinh kết nối ngầm với trạm phát sóng đồi Robin. Đúng mười hai giờ đêm nay — tức là mười phút nữa — nếu không có mã sinh trắc học sống của mẫu số 14, toàn bộ dữ liệu gen sẽ tự động được đồng bộ hóa sang máy chủ ngầm của tập đoàn dược phẩm tại Geneva."
Tôi nhìn đồng hồ trên cổ tay: 23:50.
"Đứa trẻ số mười bốn đang nằm trên xe cấp cứu ở ngã tư Bến Chương Dương," tôi nói nhanh. "Nó đã an toàn dưới sự bảo vệ của Viện Kiểm sát Tối cao."
"Nó không an toàn, Trần Vũ," người đàn ông lắc đầu, giọng trầm xuống đầy đe dọa. "Đoàn xe của Viện Kiểm sát Tối cao không bao giờ qua được ngã tư Pasteur lúc nửa đêm. Kẻ ra lệnh áp giải nhân chứng mã XIV-KTS... không phải người của Tòa Trọng tài Quốc tế."
"Ông nói cái gì?" Hoàng bước giật lại một bước.
KTS-00 thổi tắt que diêm. Một làn khói trắng khét lẹt bốc lên giữa ba chúng tôi.
"Kẻ ký lệnh điều động hai chiếc SUV biển ngoại giao chặn đầu xe cấp cứu của bác sĩ Băng ở Bến Chương Dương... chính là kẻ đã ký Bản thỏa thuận Geneva năm 1985 với tư cách Đại diện Toàn quyền Phân ban Kỹ thuật. Hắn chưa từng rời khỏi Sài Gòn. Hắn đã dùng danh nghĩa Đoàn công tác Đặc biệt của Bộ Công an để tiếp quản đứa bé cách đây hai mươi phút."
Tôi thấy lồng ngực mình nghẹt lại. Cột máu trong bình áp lực âm khẽ dao động, sủi lên một lớp bọt khí li ti.
"Tên hắn là gì?" tôi gằn giọng.
Người đàn ông chỉ tay vào góc dưới cùng của tờ giấy pơ-luya ố vàng năm 1985 nằm trong hộp nhôm.
Nơi đó, bên cạnh con dấu đỏ của Bộ Tư lệnh Quân khu 7, có một chữ ký tươi bằng mực bút máy Parker màu xanh Cửu Long sắc lẻm, bên dưới dập mộc vuông chức danh đã mờ:
ĐẠI DIỆN HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH TƯ PHÁP TỐI CAO // ĐẠI TÁ TRẦN ĐÌNH CỬU // ĐỒNG KÝ DUYỆT BẢO MẬT: NGUYỄN VĂN HÙNG.
"Nguyễn Văn Hùng... không phải là trinh sát ngoại tuyến đã chết trên đèo Ngoạn Mục," KTS-00 nói từng lời rành rọt. "Người chết trên đèo năm đó là một cán bộ kỹ thuật vô danh. Người sống sót... người bế đứa trẻ rời khỏi Mái ấm Hướng Dương năm hai nghìn lẻ bốn... và người vừa tiếp quản đứa trẻ số mười bốn tại Sài Gòn lúc hai mươi ba giờ ba mươi... chính là một."
Màn hình chiếc điện thoại Nokia trong túi áo ngực tôi rung lên bần bật.
Tôi rút máy ra. Một tin nhắn SMS vừa gửi đến từ số máy nội bộ của Tổng đài Cơ yếu Bộ Công an lúc 23:52:
"ĐỨA TRẺ THỨ MƯỜI BỐN ĐÃ ĐƯỢC CHUYỂN LÊN CHUYẾN TRỰC THĂNG EC-225 TẠI SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT. CẢM ƠN ANH ĐÃ MỞ CỬA CĂN HẦM CAO ĐIỂM 1500, ĐỘI PHÓ TRẦN VŨ."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.