Giao Lộ Mờ Sương

Chương 126: Ngọn Lửa Không Bao Giờ Tắt

Đăng: 01/09/2026 21:46 3,129 từ 1 lượt đọc

Ánh đèn pha công suất cao từ chiếc SUV bọc thép dội thẳng vào kính chắn gió xe bán tải, biến màn mưa dầm trên Tỉnh lộ 725 thành một bức tường sáng trắng xóa, nhức buốt đến tận đáy mắt.

Ba Cháy giẫm chết chân phanh. Bốn bánh xe trượt dài trên lớp bùn đỏ nhão nhoét trộn lẫn dăm thông mục, rít lên một tiếng khô khốc rồi khựng lại cách thân cây cổ thụ nằm chắn ngang đường chưa đầy nửa mét.

Mùi khói phốt-pho trắng từ đáy vực thốc ngược lên theo luồng gió núi. Nó không giống mùi khói rơm rạ hay khói gỗ thông của xứ cao nguyên này. Nó tanh nồng, khét lẹt vị lưu huỳnh pha lẫn mùi dung môi hydrocacbon nặng đặc trưng của kho vũ khí K-86. Thứ mùi hủy diệt quen thuộc đã từng ám vào từng thớ thịt của tôi ở Đà Lạt hai mươi năm trước, rồi lại trồi lên ở hẻm Cầu Muối ba năm về trước.

Tôi đưa tay vịn chặt vào tay nắm trần xe, cố ghìm lồng ngực đang rung lên bần bật. Đầu xương sườn số sáu gãy lìa lại nghiến vào màng phổi tạng. Một cơn đau nhói buốt như có ai vừa đóng một chiếc đinh mười phân xuyên qua nách trái. Máu tươi trào lên kẽ răng, mằn mặn và tanh ngắt. Tôi nuốt ngược nó xuống cổ họng.

Bên cạnh tôi, Lê Hoàng đã hạ chốt an toàn khẩu K54. Tiếng kim loại va vào nhau đanh gọn trong khoang lái chật hẹp.

"Xe đối diện không tắt pha," Hoàng nói, mắt không rời khỏi bóng đen của chiếc xe bọc thép phía sau thân cây gãy. "Nó không nổ súng ngay. Nó đang đợi chúng ta xuống xe."

"Không phải đợi." Tôi thều thào, giọng khàn đặc vì bọt khí tràn trong cuống họng. "Nó đang chiếu sáng cái vực bên phải cho chúng ta nhìn."

Ở băng ghế sau, Hạ Băng nghiêng người tới, một tay giữ chặt bình dẫn lưu màng phổi kẹp giữa hai đầu gối, tay kia áp chặt vào hõm ức của tôi. Đôi găng tay cao su y tế của cô đã dính đầy những vệt máu khô từ phòng mổ số một ở Sài Gòn.

"Vạch máu trong bình đã chạm mức hai trăm chín mươi lăm mi-li-lít," giọng Hạ Băng lạnh băng nhưng hơi thở dồn dập sau lớp khẩu trang y tế. "Chỉ còn năm mi-li-lít nữa là mất hoàn toàn áp lực âm. Nếu van một chiều bị trào ngược, anh sẽ ngừng tim trong vòng ba phút. Vũ, anh không được bước xuống xe."

Tôi không trả lời. Tôi nhìn xuống màn hình chiếc điện thoại Nokia cũ kỹ đang nằm trên đùi. Tin nhắn từ số máy vệ tinh nặc danh vẫn còn sáng mờ:

"Đừng cố vượt đèo. Lối lên đồi Robin đã bị khóa bằng máu. Hãy nhìn xuống vực ta-luy bên tay phải các anh."

Tôi thò tay vào túi áo khoác, chạm vào mặt nhôm lạnh ngắt của chiếc kẹp tóc hình bướm và ống vi nang titan thu được từ xương ức của Trung úy Trần Văn Nam. Dòng mã khắc la-de vẫn còn hằn trong óc tôi: ROBIN-1985-04.

"Ba Cháy," tôi quay sang gã tài xế già. "Tắt đèn cốt. Bật đèn sương mù vàng. Lùi lại ba mét lấy đà."

"Đường đèo hẹp lắm anh Vũ, phía sau là cua tay áo, bánh sau mà trượt xuống bùn là lật cả xe," Ba Cháy gằn giọng, hai bàn tay chai sần ghì chặt vô-lăng bọc da sờn rách.

"Lùi lại." Tôi lặp lại, ngắn gọn.

Ba Cháy chửi thề một tiếng trong cổ họng, gạt cần số. Chiếc Ford Ranger gầm gừ giật lùi. Khi ánh đèn cốt vụt tắt, chỉ còn dải ánh sáng vàng đục của đèn gầm quét ngang mặt đường đất, khoảng tối bên mép vực hiện ra rõ ràng hơn.

Ngọn lửa xanh lục dưới đáy vực ta-luy âm vẫn đang liếm láp khung sắt của chiếc xe cứu thương quân sự bị lật ngửa. Kim loại bị nung chảy ở nhiệt độ hàng nghìn độ C phát ra những tiếng nổ tanh tách khô khốc. Trên vách đá chẻ cạnh mép đường, những vệt máu tươi được quệt thành dòng chữ in hoa nguệch ngoạc:

"KẺ CHÂM DIÊM KHÔNG BAO GIỜ CHẾT Ở SÀI GÒN."

"Để tôi xuống kiểm tra," Lê Hoàng đẩy cửa xe.

"Khoan." Tôi giữ cánh tay Hoàng lại. "Đèn pha của chiếc SUV bên kia chiếu thẳng vào mép vực. Nếu trên xe có xạ thủ bắn tỉa, bước ra khỏi cửa xe là vào tầm quét của kính ngắm hồng ngoại."

Tôi rút chiếc bật lửa kim loại trong túi quần ra. Bấc ướt nhẹp, đánh đá chỉ phát ra vài tia lửa xẹt vô hại. Tôi nhét nó lại vào túi, với tay lấy chiếc xà beng mini bằng thép hộp kẹp dưới gầm ghế phụ.

"Hoàng, cậu nhìn kỹ thân cây thông chắn ngang đường xem."

Lê Hoàng nheo mắt qua khe kính chắn gió lấm lem bùn đất. Dưới ánh đèn vàng của xe bán tải, trên vỏ cây thông xù xì ứa nhựa, vệt sơn phản quang màu đỏ thẫm vẽ hình một bông hoa dã quỳ tám cánh bị gạch chéo bằng một thanh kiếm gãy. Nhưng ở hai đầu vết cưa của thân gỗ, có hai sợi dây cước kim loại siêu mảnh màu đen được ghim chặt bằng đinh ba phân, kéo thẳng về phía gầm chiếc SUV bọc thép.

"Bẫy giật cơ học," Hoàng nghiến răng. "Nếu xe mình húc vào thân cây để ủi qua, sợi cước sẽ giật chốt nổ gầm xe bên kia."

"Không chỉ nổ xe bên kia," tôi nói, hít một hơi thật sâu để nén cơn ho đang chực trào. "Lượng phốt-pho trắng trong xe cứu thương dưới vực là mồi nhiệt. Chiếc SUV trên này chở khối thuốc nổ thứ cấp. Kẻ giăng bẫy muốn biến khúc cua này thành một hố sụt nhân tạo, chôn vùi toàn bộ Tỉnh lộ 725 xuống vực Đạ Tẻh."

"Nó muốn chặn đường chúng ta lên đồi Robin," Hạ Băng nói từ phía sau. Tay cô vẫn giữ chặt ống dẫn lưu silicon cắm vào mạn sườn tôi. "Hoặc nó muốn ép chúng ta phải dừng lại đây cho đến khi bình máu này tràn hết."

Tôi nhìn đồng hồ trên bảng điều khiển. Mười một giờ mười lăm đêm. Chúng tôi chỉ còn bốn mươi lăm phút trước khi thời hạn nửa đêm kết thúc.

Tôi mở cửa xe bên phía mình. Gió đèo mang theo mưa lạnh và bụi phốt-pho tạt thẳng vào mặt, rát như muối xát. Tôi chống chân trái xuống bùn, lồng ngực co rút lại vì lạnh. Cơn đau từ xương sườn gãy làm mắt tôi tối sầm trong một giây. Tôi cắn chặt môi dưới, vị tanh nồng của máu làm đầu óc tôi tỉnh táo trở lại.

"Vũ!" Hạ Băng gọi giật giọng, nhưng cô không thể rời tay khỏi bình áp lực âm.

"Hoàng, cầm đèn pin soi góc thấp bốn mươi lăm độ cho tôi," tôi vịn vào mép cửa xe, đứng thẳng người dậy. "Ba Cháy, móc cáp tời vào gốc cây thông già bên lề trái. Đừng đụng vào thân cây gãy."

Tôi khập khiễng bước về phía vách đá chẻ bên mép vực. Bùn đất ngập đến mắt cá chân, dính dớp như nhựa đường.

Dưới đáy vực, chiếc xe cứu thương quân sự đã cháy rụi phần đầu, để lộ ra biển số kim loại dập nổi bị nhiệt độ làm cong queo: 80-041-QS. Đó là chiếc xe cứu thương thuộc đoàn xe vận tải của Viện Nghiên cứu Nông hóa Thổ nhưỡng Đơn Dương năm 1985 — chiếc xe mà ba tôi, Trung tá Trần Viết Hùng, từng lái qua đèo Ngoạn Mục trong đêm định mệnh ba mươi chín năm về trước.

Kẻ giấu mặt không chỉ đốt một chiếc xe. Hắn đốt một mảnh ký ức. Hắn mang xác chiếc xe này từ nghĩa địa cơ giới cũ ở Lâm Đồng về đây, tẩm dung môi K-86 và châm ngòi như một lời thách thức tột cùng.

Tôi quỳ một chân xuống bùn cạnh vách đá có dòng chữ máu. Rút con dao mổ số 11 dự phòng trong túi áo ngực, tôi cạo nhẹ lớp máu trên bề mặt đá bazan.

Máu chưa đông cứng hoàn toàn. Trong không khí lạnh và ẩm của rừng thông, mép vệt máu chỉ mới se lại khoảng hai mươi đến ba mươi phút. Đáng chú ý hơn, bên dưới dòng chữ "KẺ CHÂM DIÊM KHÔNG BAO GIỜ CHẾT Ở SÀI GÒN", có một vết khía hình chữ nhật sắc lẹm, sâu khoảng hai mi-li-mét vào thớ đá.

Tôi dùng đầu dao mổ nạy nhẹ. Một mảnh kim loại nhỏ bằng chiếc thẻ nhớ máy ảnh bật ra khỏi khe đá, rơi vào lòng bàn tay tôi.

Đó là một chiếc thẻ bài quân nhân bằng đồng thau cũ kỹ, đã bị khói đen ám mờ một nửa. Tôi dùng ngón tay cái gạt lớp muội than.

Mặt trước dập chìm:
"TIỂU ĐOÀN 3 TRINH SÁT KỸ THUẬT // SỐ HIỆU: KTS-00 // NĂM NHẬP NGŨ: 1980".

Mặt sau không có tên người, mà chỉ có một dòng chữ khắc tay bằng mũi khoan nha khoa:
"TRẠM CẤP CỨU NGẦM B-2 // CAO ĐIỂM 1500 // KHÓA CỬA TỪ BÊN TRONG".

"Vũ, bên trong chiếc SUV không có người!" Tiếng Lê Hoàng vang lên từ phía trước.

Tôi ngẩng đầu lên. Hoàng đang nép mình sau trụ cửa phụ của chiếc xe bọc thép đối diện, khẩu K54 chĩa thẳng qua ô kính vỡ.

"Hệ thống đèn pha được đấu nối trực tiếp vào ắc-quy phụ," Hoàng nói với lại, giọng lẫn trong tiếng mưa rào rạt. "Vô-lăng bị khóa cứng bằng xích sắt. Trên ghế lái có một máy phát sóng vô tuyến dải ngắn đang nhấp nháy đèn đỏ. Nó là trạm chuyển tiếp tín hiệu."

Tôi gượng đứng dậy, bước từng bước nặng nề qua thân cây thông gãy, cẩn thận tránh hai sợi dây cước mồi nổ.

Bên trong buồng lái chiếc SUV bọc thép, mùi da ghế cũ mốc meo nồng nặc. Trên nắp táp-lô đặt một chiếc máy cassette chạy băng từ loại nhỏ của Liên Xô, nút bấm PLAY bị kẹp chặt bằng một que diêm gỗ đã cháy đen đầu.

Tiếng rè rè của dải băng từ cọ vào đầu đọc phát ra qua hệ thống loa xe hơi, ngắt quãng bởi tiếng gió rít:

"...Báo cáo Sở Chỉ huy... Trạm y tế dã chiến chân đồi Robin đã nhận lệnh niêm phong toàn bộ mười bốn ống tiêu bản... Đại tá Cửu yêu cầu bàn giao mã truy xuất trước không giờ đêm nay... Xe bồn dung môi đã qua đèo Chuối... Lặp lại, xe bồn mang số hiệu K-86 đã qua đèo Chuối..."

Đoạn băng lặp đi lặp lại đúng mười lăm giây đó, như một bản cáo phó được thâu âm từ ba mươi chín năm trước và phát lại giữa rừng hoang.

"Không phải Đặng Thế Anh, cũng không phải Tạ Đình Bách hay Đặng Trần Quang," tôi vịn vào khung cửa xe SUV, lẩm bẩm trong hơi thở đứt quãng.

"Anh nói gì?" Lê Hoàng bước tới bên cạnh tôi.

"Những kẻ chúng ta bắt ở Sài Gòn... bọn chúng chỉ là những kẻ hưởng lợi từ bản hợp đồng khai thác khoáng sản và rửa tiền qua Quỹ Viễn Đông," tôi nói, ngón tay siết chặt tấm thẻ bài đồng thau KTS-00. "Nhưng kẻ thực sự châm que diêm đầu tiên vào trạm y tế Đơn Dương năm 1985, kẻ ký lệnh xuất 5.000 lít dầu diezen kho K-86 năm 2004... hắn chưa từng rời khỏi cao nguyên này. Hắn vẫn ở đây, canh giữ căn hầm ngầm chân đồi Robin suốt bốn mươi năm qua."

"Hắn là ai?"

"Người mang số hiệu KTS-00 nguyên bản," tôi đáp. "Người đã bị xóa tên khỏi mọi danh sách nhân sự của Bộ Tư lệnh từ năm 1985 sau vụ nổ xe cứu thương trên đèo Ngoạn Mục."

Ba Cháy từ phía sau chạy tới, tay cầm đầu cáp tời bằng thép bọc nhựa: "Anh Vũ, tời đã móc xong vào gốc cây bên lề. Kéo một phát là quăng thân thông xuống vực được ngay, nhưng tiếng động sẽ vang cả thung lũng."

"Kéo đi," tôi dứt khoát. "Hắn đã để lại chiếc xe này ở đây thì hắn thừa biết chúng ta đang tới. Không cần giấu vết nữa."

Ba Cháy quay lại buồng lái, bấm nút tời điện. Dây cáp căng bựt, rít lên từng hồi ken két. Thân cây thông cổ thụ nặng hàng tấn từ từ bị nhấc bổng khỏi mặt đường nhựa, xoay ngang rồi trượt thẳng xuống mép vực ta-luy âm.

Một tiếng ầm vang dội đập vào vách núi khi thân cây đè nát xác chiếc xe cứu thương đang cháy bên dưới, tung lên một quầng lửa phốt-pho xanh biếc chói lòa trong màn đêm dầm dề.

Con đường vượt đèo Tỉnh lộ 725 đã thông.

Tôi quay trở lại xe bán tải. Hạ Băng đã mở sẵn cửa sau. Tôi ngã người xuống đệm ghế, toàn thân rã rời. Chiếc áo sơ mi bên trong ướt đẫm mồ hôi lạnh hòa lẫn máu rỉ ra từ chân ống dẫn lưu.

Hạ Băng lập tức kéo áo tôi lên. Mũi kim số 18 trên tay cô đâm ngọt qua nút cao su của bình áp lực âm, rút ra một lượng khí nén xì xì làm giảm áp suất khoang ngực. Cơn nghẹt thở dịu đi đôi chút, nhưng lồng ngực tôi vẫn nhói lên từng nhịp theo tiếng đập của tim.

"Mạch một trăm hai mươi, huyết áp chín mươi trên sáu mươi," Hạ Băng nói, giọng cô khẽ run khi ngón tay chạm vào làn da lạnh ngắt của tôi. Cô lấy một miếng gạc tẩm cồn i-ốt miết mạnh lên vết khâu bị rách ở mạn sườn. Cơn rát buốt xộc thẳng lên não.

Tôi cắn răng, không để phát ra một tiếng rên.

Tôi mở danh bạ điện thoại. Ngón tay cái vuốt qua từng cái tên. Dừng lại ở chữ "Tuấn". Dòng tin nhắn cuối cùng gửi ba năm trước: "Hẻm Cầu Muối có biến, anh giữ vòng ngoài, đừng vào."

Tôi nhìn dòng chữ đó mất ba giây. Ngón tay định bấm nút xóa, nhưng rồi tôi tắt màn hình, nhét điện thoại vào túi ngực, cạnh chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm.

"Còn một ống Morphine cuối cùng trong hộp y tế," Hạ Băng thì thầm, tay cô cầm ống thủy tinh nhỏ đưa lên trước ánh đèn trần xe vàng vọt. "Nếu tiêm liều này, thần kinh vận động của anh sẽ bị ức chế. Anh sẽ không thể bóp cò súng chính xác trong vòng hai tiếng tới."

"Để dành liều đó," tôi nói, giọng khản đặc. "Khi nào đến chân đồi Robin hẵng tính."

"Anh đang tự giết mình đấy, Vũ."

Tôi nhìn vào mắt Hạ Băng qua lớp kính bảo hộ mờ hơi nước. Đôi mắt sắc sảo thường ngày của cô bác sĩ pháp y giờ đây trũng sâu, quầng thâm lộ rõ dưới ánh sáng tù mù.

"Thành phố này có nhiều cách để chết lắm," tôi buông một câu cợt nhả, khóe môi nhếch lên méo mó. "Chết vì suy hô hấp trên một chiếc xe bán tải chở rau ở Bảo Lộc vẫn còn sang chán so với việc nằm dưới cống ngầm đường Pasteur."

Hạ Băng im lặng. Cô không nói thêm lời nào, chỉ cẩn thận chỉnh lại van khóa một chiều của bình dẫn lưu, rồi kéo vạt áo khoác da phủ kín ngực tôi. Bàn tay cô đặt trên mu bàn tay tôi một thoáng, lạnh buốt, rồi rút lại rất nhanh.

Ba Cháy vào số, chiếc Ranger chồm lên, lao qua khúc cua tay áo vừa được dọn sạch, bánh xe nghiến qua lớp tro tàn phốt-pho đang lụi dần trong mưa.

Chiếc xe tải nhỏ tiếp tục nuốt chửng những khúc cua dốc đứng của Tỉnh lộ 725, tiến thẳng vào vùng giáp ranh cao nguyên Lâm Viên. Sương mù bắt đầu đặc quánh lại, trắng xóa như sữa đặc, tràn qua nắp ca-pô và bám chặt vào từng thớ kính.

Tôi nhắm mắt lại, nhưng những hình ảnh trong cuộn băng Betacam và những dòng chữ trên thẻ bài đồng thau cứ cuộn xoáy trong đầu.

Mười bốn đứa trẻ. Mười bốn mẫu tủy sống bị rút trong đêm 11 tháng 11 năm 1985 tại Trạm Nông hóa Thổ nhưỡng Đơn Dương. Đặng Trần Quang và Tạ Đình Bách nghĩ rằng chúng đã thiêu rụi toàn bộ chứng cứ bằng 5.000 lít dầu diezen kho K-86. Nhưng chúng không ngờ rằng người trực tiếp giữ chìa khóa căn hầm ngầm chân đồi Robin — kẻ mang số hiệu KTS-00 — đã bí mật tráo đổi các mẫu tủy đối chứng và sống như một bóng ma suốt bốn thập kỷ qua.

Hắn đã kiên nhẫn chờ đợi. Hắn chờ cho những kẻ thủ ác leo lên tận đỉnh cao của quyền lực ở Hà Nội và Sài Gòn, chờ cho dòng tiền bẩn của Quỹ Viễn Đông phình to thành một khối u nghìn tỷ, rồi dùng chính bàn tay của tôi và Đội Trọng án để lột sạch từng lớp vỏ bọc bảo vệ của chúng.

Chiếc xe bán tải bắt đầu đổ dốc vào thung lũng sương mù chân đồi Robin lúc mười một giờ bốn mươi phút đêm.

Trước mắt chúng tôi, dãy nhà đá chẻ thời Pháp cổ kính nửa chìm dưới lòng đất hiện ra lờ mờ sau những rặng thông già. Không có một bóng người. Không có lính gác. Cánh cổng sắt hoen rỉ của trạm y tế dã chiến ngầm Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đang mở toang một nửa, để lộ lối đi dốc đứng dẫn sâu vào lòng đồi tăm tối.

Và từ sâu bên trong đường hầm ngầm hun hút gió ấy, một vệt sáng màu cam leo lét của ngọn lửa diêm vừa bùng lên, kèm theo ba tiếng gõ kim loại đanh gọn vang vọng qua màn sương đêm:

Cộc. Cộc. Cộc.

0