Chương 89: Căn Hầm Số Sáu
Mùi dầu phản lực khét lẹt trên đường lăn W11 bám chặt vào cổ áo tôi, tanh tưởi và ngột ngạt hơn cả mùi nước cống rãnh Quận 4 sau một cơn mưa rào tháng Bảy.
Chiếc xe cứu thương quân sự của Phân viện Pháp y Quân đội phía Nam rít lốp trên mặt bê tông ẩm ướt, lao vút qua cổng an ninh sân bay Tân Sơn Nhất. Đèn ưu tiên chớp những vệt đỏ quạch lên những bức tường gạch rêu phong của đường Hoàng Hoa Thám.
Trong khoang sau, Hạ Băng đang dùng gạc tẩm cồn đỏ ép chặt miệng vết thương ở mạn sườn trái của tôi. Ống dẫn lưu silicon nối từ khoang ngực cắm thẳng xuống bình ba ngăn bằng nhựa mica, bọt khí và dịch hồng sủi lên ùng ục theo từng nhịp thở giật cục. Cơn đau từ chiếc xương sườn số sáu gãy lìa cọ vào màng phổi như một lưỡi dao lam cùn cứa ngang da thịt. Liều Morphine tiêm lúc năm giờ sáng đã tan hết, để lại vị đắng ngắt dưới cuống họng và cảm giác buồn nôn nhộn nhạo.
"Nằm yên." Giọng Hạ Băng khàn đặc, hai mắt thâm quầng sau hơn ba mươi tiếng không chớp. "Van áp lực âm đang hở. Anh cử động một chút nữa là phổi xẹp hoàn toàn."
Tôi không nằm. Tôi dùng cẳng tay phải còn lành lặn gạt tay cô ra, mắt nhìn chằm chằm vào chiếc va-ly hợp kim titan đang nằm dưới chân ghế phụ. Khóa mã số điện tử đã bị Lê Hoàng dùng đạn K59 bắn vỡ nát, mép nắp vênh lên để lộ tập tài liệu đóng dấu sáp đỏ.
"Đăng thế nào rồi?" Tôi hỏi, giọng khô khốc như tiếng rơm cháy.
"Tổ hồi sức của Quân y 175 đã tiếp nhận thằng bé ngay trên cáng hàng không." Hạ Băng vừa quấn thêm một vòng băng thun ép chặt lồng ngực tôi vừa nói, mắt không nhìn thẳng vào tôi. "Vết toạc cơ ngực đã được khâu tạm. Huyết áp tám mươi trên năm mươi. Chưa qua cơn nguy kịch, nhưng nó vẫn sống."
Tôi nhắm mắt lại nửa giây. Vị tanh của máu tươi đọng ở kẽ răng.
Chiếc xe bán tải Ford Ranger của Lê Hoàng dẫn đầu đoàn xe ba chiếc, lao như điên qua ngã tư Hoàng Văn Thụ rồi rẽ gắt vào con đường Chùa Thông nhỏ hẹp rợp bóng xà cừ cổ thụ.
Đây là khu biệt thự cũ từ thời Pháp thuộc, nằm lọt thỏm giữa những bức tường đá cao ngút tầm mắt và những rặng hoa giấy đỏ bầm phủ kín dây thép gai. Ở cái thành phố này, người nghèo chui rúc trong những con hẻm bề ngang chưa đầy một mét, còn những kẻ nắm vận mệnh người khác lại giấu mình sau những cánh cổng sắt đúc hoa văn rỉ sét, nơi tiếng còi xe ngoài đại lộ không bao giờ chạm tới được.
Chiếc xe phanh dúi dụi trước căn biệt thự số 6.
Cánh cổng sắt cao ba mét khóa bằng xích đặc chủng, nhưng ổ khóa đồng Indochine đã bị ai đó mở sẵn từ trước, then cài khép hờ. Trên cột trụ bê tông loang lổ rêu xanh, một hộp công tơ điện tổng bằng gang đang nhấp nháy đèn báo tín hiệu đường truyền cơ yếu.
Thượng tá Đặng Thế Anh bước xuống từ chiếc SUV đi sau cùng. Bộ cảnh phục gắn quân hàm Thượng tá của ông ta ướt sũng sương sớm, vạt áo còn vệt muội khói đen sau vụ nổ trên đường lăn máy bay. Tay phải ông ta cầm khẩu CZ-75 đã lên đạn, ngón trỏ đặt hờ ngoài vành cò.
"Bốn phút trước, trạm phát sóng cơ yếu của Thành ủy ghi nhận tín hiệu phản hồi từ thiết bị đầu cuối đặt dưới căn hầm này." Thế Anh nói cộc lốc, mắt quét dọc theo hàng rào râm bụt rậm rạp. "Lệnh của Thường trực Ban Bí thư và Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao: Tiếp quản hiện trường, bảo toàn tuyệt đối mọi vật chứng, bắt giữ can phạm. Bất kỳ ai có hành vi chống đối bằng vũ lực đều bị tiêu diệt tại chỗ."
Lê Hoàng đẩy cửa xe, rút súng ngắn, bước lên bậc thềm lát đá hoa cương nứt nẻ. Tôi vịn vào thành xe nhảy xuống. Chân trái vừa chạm đất, một cơn đau nhói như xé toạc mạn sườn khiến tôi khuỵu xuống nửa gối.
Hạ Băng bước vội tới, tay giữ chặt bình áp lực âm xách theo bên hông tôi. Tôi nhìn cô. Cô nhìn tôi. Không ai nói một câu nào. Cô đưa tay chỉnh lại mép áo khoác da cháy sém bên vai phải của tôi, đầu ngón tay khẽ chạm vào lớp vải thô rồi rụt lại ngay lập tức.
"Tôi đi cùng." Tôi nói.
Hoàng không quay đầu lại: "Bám sát sau lưng tôi. Hầm thời Pháp thường có bẫy cơ học."
Chúng tôi bước qua cánh cửa gỗ lim dày năm phân của sảnh chính. Mùi ẩm mốc của thảm len mục nát, mùi vôi sống lâu năm và mùi sáp nến thoang thoảng xộc thẳng vào mũi. Đồ đạc trong phòng khách rộng hơn sáu mươi mét vuông đã bị phủ vải bạt trắng, giống như một ngôi mộ tập thể của những món đồ cổ đắt tiền.
Không có tiếng động. Không có lính gác. Chỉ có tiếng kim đồng hồ quả lắc treo tường gõ nhịp: Cộc. Cộc. Cộc.
Âm thanh kim loại gõ vào không gian vắng lặng khiến da gà trên cánh tay tôi dựng đứng. Ba nhịp gõ. Y hệt nhịp gõ ngón tay của trinh sát Nguyễn Minh Đăng trên giường bệnh, y hệt nhịp gõ của chiếc máy ghi âm để lại ở ban công Thảo Điền hai mươi tiếng trước.
Lê Hoàng ra hiệu bằng tay. Chúng tôi men theo hành lang lát gạch bông xám dẫn xuống khu nhà bếp phía sau. Dưới gầm cầu thang xoắn ốc bằng sắt uốn, một bức tranh sơn dầu vẽ phong cảnh đồi thông Đà Lạt khổ lớn đã bị gạt sang một bên.
Phía sau bức tranh là cánh cửa thép chịu nhiệt của lối thoát hiểm ngầm, sơn màu xám tro, dày ít nhất mười phân. Bảng điều khiển điện tử cạnh mép cửa đang sáng đèn xanh lục.
Cửa không khóa. Ai đó bên dưới đã bấm nút mở từ bên trong.
"Xuống." Thế Anh hạ giọng, khẩu CZ-75 chĩa thẳng vào khe hở đen ngòm của cầu thang bê tông dốc đứng.
Mỗi bậc thang dẫn xuống lòng đất như kéo tụt chúng tôi về lại hai mươi năm trước. Không khí dưới hầm lạnh buốt, nồng nặc mùi ozone từ các thiết bị điện tử công suất lớn và một mùi hương trầm phảng phất quen thuộc.
Dưới đáy cầu thang là một căn phòng ngầm rộng khoảng ba mươi mét vuông, tường ốp gỗ sồi cách âm hoàn hảo. Trên vách tường đối diện, bản đồ quy hoạch tổng thể vùng Tây Nguyên năm 2004 khổ cực lớn được ghim chặt bằng những chiếc đinh tán đồng. Những vệt bút dạ đỏ khoanh tròn khu vực Đồi Thông Xanh, Mái ấm Hướng Dương, và các tọa độ thăm dò địa chất chạy dọc theo sườn nam đỉnh Langbiang.
Giữa phòng, dưới ánh đèn bàn chụp bằng đồng màu xanh ngọc, một người đàn ông lớn tuổi đang ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế bành bọc da thuộc.
Ông ta trạc ngoài bảy mươi tuổi, tóc bạc trắng cắt ngắn theo kiểu quân đội cũ, mặc bộ âu phục màu xám tro thẳng nếp không một nếp nhăn. Trên bàn làm việc bằng gỗ gụ trước mặt ông ta, một ấm trà gốm Chu Đậu đang bốc làn khói mỏng. Cạnh chén trà là một chiếc bút máy cổ điển thân mạ vàng nhãn hiệu Parker, nắp bút mở sẵn, ngòi bút bằng vàng mười tám ca-ra còn ươn ướt thứ mực màu xanh lục bảo đặc trưng.
Đó là thứ mực Parker Penman Sapphire pha lục bảo độc nhất vô nhị — loại mực xuất hiện trên trang cuối cùng của Biên bản Chuyển giao Quyền Sử dụng Đất Đặc biệt năm 2004 mà tôi vừa đọc trên máy bay AFR-902.
Kẻ ký nháy cuối cùng. Kẻ cầm que diêm quyền lực tối cao đứng sau bản án hỏa thiêu Mái ấm Hướng Dương.
Lê Hoàng nâng súng, nòng đen ngòm khóa chặt vào giữa trán người đàn ông: "Ngồi yên. Đặt hai tay lên bàn."
Người đàn ông không hề giật mình. Ông ta chậm rãi nâng chén trà lên ngang môi, nhấp một ngụm nhỏ rồi đặt xuống chiếc đĩa lót bằng sứ. Tiếng va chạm thanh mảnh vang lên trong căn hầm kín mít.
"Các anh đến muộn mười lăm phút." Giọng ông ta trầm, ấm, đều đặn đến rợn người, mang ngữ điệu chuẩn xác của những cán bộ làm công tác tổ chức cấp cao nhiều thập kỷ. "Chuyến bay AFR-902 lẽ ra đã rời khỏi không phận Đà Nẵng từ mười lăm phút trước. Nhưng trạm kiểm soát không lưu báo về tín hiệu máy bay bị ngắt đột ngột trên đường lăn."
Ông ta ngước mắt lên. Đôi mắt màu nâu đục, sâu hoắm sau cặp kính lão gọng vàng, dừng lại trên khuôn mặt đầy máu và bụi đất của tôi.
"Trần Vũ." Ông ta khẽ gật đầu, như thể đang điểm danh một người quen cũ. "Đội phó Đội Trọng án. Cậu giống hệt Tuấn ba năm trước. Lì lợm, ngoan cố, và luôn nghĩ rằng cái thành phố này có chỗ cho những kẻ đi tìm sự thật trần trụi."
Ngực tôi nhói lên một cơn co thắt dữ dội. Ống dẫn lưu giật mạnh khiến máu tươi ứa ra ướt đẫm lớp băng gạc ở mạn sườn.
Tôi rút bao thuốc lá Thăng Long trong túi áo khoác. Bao thuốc bẹp dúm, ướt sũng nước mưa và mồ hôi. Bên trong chỉ còn trơ lại một điếu duy nhất, đầu lọc đã gãy gập làm đôi. Tôi ngậm điếu thuốc vào miệng, tay run run mò tìm chiếc bật lửa.
Hạ Băng đứng sau lưng tôi, bàn tay cô khẽ siết lấy bả vai tôi một nhịp ngắn ngủi rồi buông ra.
Tôi không châm thuốc. Tôi gằn từng chữ qua kẽ răng: "Tạ Đình Bách. Cựu Phó Trưởng ban Thường trực Tiểu ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương. Người nắm giữ con dấu vàng đêm mười một tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn."
Người đàn ông — Tạ Đình Bách — mỉm cười nhẹ. Một nụ cười lạnh tanh, không hề có sự sợ hãi của một kẻ sắp bước chân vào nhà giam.
"Hồ sơ lưu trữ của các cậu khá chi tiết đấy." Ông ta thong thả nói, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ gụ. "Nhưng các cậu chỉ nhìn thấy phần ngọn của cái cây mục rỗng này thôi. Phạm Kiến Quốc, Võ Khang, Huỳnh Trí Cao, hay thậm chí cả thằng Thắng, thằng Khiêm... bọn chúng chỉ là những con buôn, những kẻ thèm khát đất đai và tiền bạc. Tiền bạc thì mua được đất, nhưng quyền lực ngầm thì cần một thứ khác."
"Cần máu của mười hai đứa trẻ mồ côi à?" Lê Hoàng nghiến răng, bước lên một bước, khẩu súng trong tay rung lên vì phẫn nộ tột cùng.
Tạ Đình Bách nhìn thẳng vào mắt Hoàng, ánh mắt không hề chớp: "Cậu là con trai của Lê Văn Bản. Bản là một trinh sát giỏi, nhưng quá yếu mềm. Năm đó, nếu Bản không lén đưa đứa trẻ sơ sinh thứ mười ba rời khỏi mái ấm trước hai mươi tư tiếng, thì chuyên án phong tỏa đất hiếm đã hoàn tất sạch sẽ mà không để lại bất kỳ một dấu vết nào kéo dài suốt hai mươi năm qua."
"Ông gọi thảm sát mười hai đứa trẻ và một cô bảo mẫu hai mươi bốn tuổi là 'chuyên án phong tỏa'?" Tôi cười gằn, nhổ mẩu thuốc lá gãy xuống sàn đá hoa cương. "Ông ký phê duyệt năm nghìn lít dầu diezen công nghiệp. Ông ra lệnh cho Thắng điều toàn bộ xe cứu hỏa Đà Lạt chạy sang kho xăng Đan Kia. Ông biến căn hầm trú ẩn bằng đá chẻ thành một cái lò thiêu kín chỉ để hợp thức hóa bản hợp đồng nhượng quyền mỏ đất hiếm hai phẩy năm tỷ đô cho Quỹ Viễn Đông."
Tạ Đình Bách thở dài một tiếng rất nhẹ. Ông ta với tay mở ngăn kéo bàn làm việc, lấy ra một tập tài liệu bọc bìa da màu nâu cũ kỹ, đặt nhẹ nhàng lên mặt bàn.
"Không phải hai phẩy năm tỷ đô, Trần Vũ." Tạ Đình Bách nói chậm rãi. "Năm hai nghìn lẻ bốn, đất nước đang đứng trước ngưỡng cửa hội nhập. Chúng ta cần công nghệ ngầm, cần các kênh tài chính ngoại giao đặc biệt mà ngân sách công khai không thể chi trả. Mỏ quặng dưới chân đồi Hướng Dương là vật thế chấp duy nhất để đổi lấy hệ thống trinh sát kỹ thuật số hiện đại từ Thụy Sĩ. Nhóm của Võ Khang và Phạm Kiến Quốc chỉ là cánh tay bình phong để rửa dòng tiền đó."
"Và Nguyễn Tuấn?" Tôi cắt ngang, giọng lạnh buốt. "Ba năm trước ở hẻm Cầu Muối, Tuấn tìm ra mẫu dung môi công nghiệp trong kho tang vật. Tuấn chuẩn bị gửi đơn tố cáo lên Viện Kiểm sát Tối cao. Ai là người ra lệnh rút hỏa lực yểm trợ? Ai là người mượn tay bọn buôn ma túy bắn xuyên tim nó?"
Căn hầm rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở. Tiếng kim đồng hồ treo tường vẫn đếm từng giây: Cộc. Cộc. Cộc.
Tạ Đình Bách ngước nhìn tôi. Trong đôi mắt đục ngầu của kẻ đứng trên đỉnh cao quyền lực suốt mấy mươi năm, tôi không tìm thấy một chút ân hận nào. Chỉ có sự lạnh lùng tàn nhẫn của một kẻ coi sinh mạng con người như những con số trên bảng cân đối kế toán.
"Một người lính khi bước vào trận địa thì phải chấp nhận trở thành bia đỡ đạn nếu tình huống tác chiến yêu cầu." Ông ta nói, giọng phẳng lì. "Tuấn không chịu dừng lại. Bản không chịu im lặng. Đăng không chịu sống như một người bình thường. Bọn chúng tự chọn bước vào vòng xoáy này."
"Vòng xoáy kết thúc rồi, thưa ông Bách."
Thượng tá Đặng Thế Anh bước lên, rút từ trong túi áo ngực ra một tờ lệnh in trên giấy pơ-luya màu đỏ có quốc huy dập nổi.
"Lệnh bắt khẩn cấp số 01 của Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, phê chuẩn ngày hôm nay đối với ông Tạ Đình Bách về các tội danh: Phản bội Tổ quốc, Gián điệp kinh tế, Lợi dụng chức vụ quyền hạn gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, và Giết người có tổ chức."
Thế Anh đặt văn bản lên mặt bàn gỗ gụ, ngay cạnh ấm trà đang nguội dần.
Tạ Đình Bách nhìn tờ lệnh bắt. Bàn tay gầy guộc của ông ta khẽ run lên một nhịp cực nhỏ. Ông ta với tay cầm lấy chiếc bút máy Parker mực lục bảo, nắp bút khẽ chạm vào mặt gỗ phát ra tiếng lách cách.
"Các cậu nghĩ bắt tôi là xong sao?" Tạ Đình Bách cười nhạt, khóe môi nhếch lên đầy mỉa mai. "Hợp đồng ủy thác một trăm hai mươi triệu đô tại Zurich đã bị phong tỏa. Nhưng danh sách các tài khoản thứ cấp phân tán khắp Đông Nam Á... không nằm trong va-ly titan của thằng người Thụy Sĩ đâu."
Tôi tiến lên một bước, chống hai tay lên mép bàn làm việc, nhìn thẳng vào mắt ông ta. Khoảng cách giữa tôi và kẻ chủ mưu tối cao chỉ chưa đầy nửa mét.
"Danh sách đó nằm trong cuốn sổ điểm danh gốc của bảo mẫu Nguyễn Mai Lan." Tôi nói, từng từ rơi xuống mặt bàn như những giọt chì đặc. "Cuốn sổ mà Đăng đã liều mạng lao vào kho lưu trữ Đức Trọng năm hai nghìn lẻ chín để cứu ra. Mọi tài khoản, mọi chữ ký nháy mực xanh của ông từ ngày mười một tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn... giờ này đã nằm trên bàn làm việc của Thường trực Ban Bí thư tại Hà Nội."
Mặt Tạ Đình Bách biến sắc. Vẻ bình thản giả tạo nứt toác ra, để lộ sự kinh hoàng tột độ của một kẻ vừa nhận ra toàn bộ thành trì quyền lực mình dày công xây dựng suốt hai mươi năm đã sụp đổ hoàn toàn.
Tay phải ông ta bất ngờ giật mạnh chiếc ngăn kéo phụ dưới đáy bàn làm việc.
"Cẩn thận!" Lê Hoàng hét lên.
Hoàng lao tới, nắm lấy cổ tay phải của Tạ Đình Bách bẻ ngược ra sau. Tiếng khớp xương kêu rắc một tiếng khô khốc. Chiếc lọ thủy tinh nhỏ đựng bột màu trắng rơi từ kẽ tay ông ta xuống mặt bàn, lăn lông lốc rồi vỡ tan. Mùi hạnh nhân đắng nồng nặc bốc lên ngột ngạt.
Kali xyanua. Kẻ cầm que diêm năm xưa chuẩn bị sẵn lối thoát cho chính mình.
Thế Anh nhanh như cắt vòng ra sau, bẻ quặt hai tay Tạ Đình Bách, chiếc còng số tám bằng thép không gỉ bập vào hai cổ tay khẳng khiu kêu tanh tách.
"Muộn rồi, ông Bách." Thế Anh nói lạnh lùng. "Ông sẽ phải ra trước tòa án binh. Ông phải trả lời trước thân nhân của mười hai đứa trẻ và gia đình Đại úy Nguyễn Tuấn."
Hai sĩ quan Cảnh sát Quân sự từ trên cầu thang chạy xuống, tiếp quản hiện trường và áp giải Tạ Đình Bách lên mặt đất. Tiếng bước chân lê lết của lão già vang lên nặng nề dọc theo những bậc thang bê tông ẩm mốc.
Căn hầm chỉ còn lại ba người chúng tôi.
Hạ Băng bước lại gần, cúi xuống nhặt chiếc bút máy Parker mạ vàng dính mực lục bảo trên bàn, cẩn thận cho vào túi ni-lông niêm phong vật chứng.
Tôi đứng tựa lưng vào mép bàn gỗ gụ, lồng ngực thở dốc. Cơn đau từ xương sườn gãy làm mồ hôi lạnh toát ra ướt đầm trán. Tôi đưa tay vào túi áo ngực, chạm vào chiếc kẹp tóc bằng nhôm hình con bướm bị cháy đen một góc của Mai Lan và cuốn nhật ký bìa simili năm 2004.
Lớp kim loại nhôm lạnh ngắt cọ vào đầu ngón tay.
Ba năm trước, Tuấn nằm trên cáng cứu thương trong hẻm Cầu Muối, máu tràn ra ướt đẫm vạt áo cảnh phục, cũng chỉ nắm chặt chiếc kẹp tóc này dặn tôi đưa về cho chị Lan. Lúc đó tôi không hiểu. Tôi cứ nghĩ đó chỉ là một kỷ vật gia đình đơn thuần.
Tôi mở danh bạ chiếc điện thoại Nokia cũ kỹ. Màn hình đen trắng chớp nháy. Tôi vuốt xuống chữ T. Số điện thoại nội bộ của Tuấn vẫn nằm ở đó, ba năm qua chưa từng bị xóa.
Tôi nhìn dòng tên đó trong ba giây. Rồi ngón tay cái ấn nút tắt màn hình.
"Vũ." Giọng Hạ Băng vang lên phía sau, ngập ngừng và rất khẽ. "Ống dẫn lưu bị gập rồi. Phải về bệnh viện ngay. Không trì hoãn được nữa."
Tôi quay lại nhìn cô. Dưới ánh đèn bàn màu xanh ngọc, đôi mắt cô sâu thẳm, phản chiếu những mệt mỏi và nỗi đau mà cả hai chúng tôi đều cố chôn chặt suốt một tuần qua.
"Ừ." Tôi đáp ngắn gọn, cố nén một cơn ho đang chực trào lên họng. "Xong việc rồi. Đi thôi."
Tôi bước lên bậc thang đầu tiên. Cánh cửa thoát hiểm ngầm mở toang đón luồng gió sớm từ ngoài vườn thổi vào, mát rượi và thanh khiết, xua tan dần mùi vôi sống và mùi tử khí dưới lòng hầm.
Nhưng ngay khi chân tôi vừa chạm vào thềm nhà tầng trệt, chiếc máy fax cơ yếu đặt trên chiếc tủ gỗ lim góc phòng khách bỗng nhiên phát ra tiếng bíp cơ học chói tai.
Mô-tơ cuốn giấy rít lên từng hồi sè sè trong không gian tĩnh mịch.
Một bức điện tín mật in bằng mực than đen đang từ từ trượt ra khỏi khe máy, phía trên cùng đóng dấu đỏ tươi của Cơ quan Điều tra Hình sự Bộ Quốc phòng với dòng chữ in hoa đậm nét:
KHẨN CẤP: GIÁM ĐỊNH ADN TỬ THI TẠI NGHĨA TRANG ĐỒI THÔNG ĐÀ LẠT VỪA HOÀN TẤT. TRONG SỐ TÁM HÀI CỐT THU HỒI DƯỚI NỀN MÁI ẤM NĂM 2004, HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ MẪU GEN CỦA BẢO MẪU NGUYỄN MAI LAN.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.