Chương 90: Tro Tàn Không Đáy
Mùi giấy than ẩm từ cái máy fax cơ yếu quyện với mùi lưu huỳnh còn sót lại trong căn hầm số 6 đường Chùa Thông làm tôi nghẹn thở. Phổi trái của tôi rít lên một tiếng khô khốc, giống như tiếng bánh xe rỉ sét nghiến trên đường ray sắt.
Tôi nhìn tờ giấy fax mỏng dính trên tay. Vết mực đen in ma trận gen của Cục Điều tra Hình sự Bộ Quốc phòng rõ mồn một. Tám bộ hài cốt. Bảy đứa trẻ và một phụ nữ trưởng thành được chôn chung dưới nấm mồ vô danh ở Nghĩa trang Đồi Thông hai mươi năm trước. Nhưng mẫu ADN của người phụ nữ đó hoàn toàn không trùng khớp với mẫu huyết thống trực hệ của Nguyễn Tuấn và dòng họ Nguyễn ở Đơn Dương.
Mai Lan không nằm dưới lớp đất lạnh đó.
Ngực tôi giật giật. Ống dẫn lưu silicon cắm giữa khoang liên sườn số năm bị gập lại khi tôi khom người, bọt khí và máu loãng trào ngược kêu ùng ục trong bình áp lực âm. Cơn đau như một lưỡi lê cắm ngập vào xương sườn số sáu gãy lìa, ngoáy một vòng rồi giật mạnh.
Mắt tôi tối sầm lại. Đầu gối đập thẳng xuống nền gạch tàu lạnh buốt.
"Vũ!"
Tiếng Lê Hoàng quát giật bên tai. Một bàn tay rắn như kìm thép chụp lấy vai áo tôi, kéo giật ngược lên. Nhưng trọng lượng của tôi lúc đó giống như một bao cát ướt. Máu tươi rỉ qua mép môi dưới, mằn mặn, tanh nồng mùi rỉ sắt.
Hạ Băng lao tới. Tiếng gót giày da của cô dộng dồn dập trên nền đá. Cô quỳ sụp xuống cạnh tôi, không thèm để ý vạt áo blouse trắng quét qua vũng hóa chất sủi bọt trên sàn. Ngón tay cô lạnh ngắt, chuẩn xác ấn thẳng vào động mạch cảnh bên cổ tôi.
"Mạch một trăm ba mươi, huyết áp tụt dưới bảy mươi rồi," giọng Hạ Băng đanh lại, không có lấy một chút run rẩy nhưng sắc như dao mổ. "Ống dẫn lưu bị tắc do cục máu đông. Khí tràn ngược ép tim cấp. Hoàng, khiêng anh ta lên băng-ca ngay! Đặng Thế Anh, gọi xe cấp cứu của Phân viện Quân y, chuẩn bị phòng mổ số ba!"
Tôi cố há miệng thở, nhưng không khí lọt vào cổ họng chỉ làm lồng ngực bỏng rát như có người vừa hắt một ca axít vào màng phổi. Tôi giơ bàn tay phải đầy muội khói, nắm chặt lấy góc áo khoác của Hoàng. Tờ giấy fax nhăn nhúm trong lòng bàn tay tôi.
"Hoàng... người phụ nữ... trong mộ..." Tôi thều thào, từng chữ bật ra kèm theo một bọng máu bầm nơi khóe môi.
"Câm mồm lại," Hoàng gắt gỏng, hai tròng mắt đỏ ngầu vằn tia máu. Anh luồn tay qua nách tôi, dùng sức nâng bổng tôi lên cáng cứu thương dã chiến. "Việc của mày là giữ cho tim còn đập. Vụ này chưa xong đâu. Mày mà chết thì tao biết vứt cái huy hiệu của thằng Tuấn cho ai?"
Cánh cửa sắt của căn hầm số 6 bật mở. Tiếng còi hú của xe quân y xé toang không gian ngột ngạt của con hẻm Chùa Thông lúc rạng sáng. Ánh đèn xoay màu đỏ quét qua những bức tường rêu phong, phản chiếu bóng những người lính Cảnh sát Quân sự bồng súng áp giải chiếc xe bọc thép chở Tạ Đình Bách rời đi.
Tôi nhìn thấy Thượng tá Đặng Thế Anh đứng tựa lưng vào nắp ca-pô xe đặc chủng. Chiếc bật lửa Zippo trong tay ông ta bật nắp kêu cách một tiếng, ngọn lửa vàng bùng lên soi rõ gương mặt góc cạnh lạnh như đá tạc. Ông ta nhìn tôi, khẽ gật đầu một cái dứt khoát rồi quay sang nhận điện đàm tác chiến.
Mọi thứ sau đó trôi đi trong một mớ âm thanh hỗn độn: tiếng còi hụ đinh tai nhức óc, tiếng bánh xe cấp cứu miết trên mặt đường ướt sũng của đại lộ Nguyễn Văn Linh, và mùi cồn sát trùng i-ốt nồng nặc bốc lên từ lồng ngực tôi.
*
Phòng tiểu phẫu ngầm hầm B1 của trạm kiểm soát y tế Phân viện Quân y sáng trưng dưới ánh đèn mổ công suất lớn.
Không khí ở đây lạnh buốt, nồng mùi thuốc tẩy sàn javel và mùi kim loại khử trùng. Tôi nằm ngửa trên bàn mổ inox, hai tay bị cố định bằng dây da mềm. Thuốc tê liều cao bắt đầu ngấm vào thành ngực, nhưng cảm giác từng thớ cơ bị kéo căng và tiếng kéo phẫu thuật cắt chỉ lách cách bên tai thì không có thứ thuốc nào xóa được.
Hạ Băng đeo khẩu trang xanh, chỉ để lộ đôi mắt sâu thẳm và quầng thâm dày đặc sau ba đêm thức trắng. Đôi găng tay cao su dính đầy máu của cô thoăn thoắt thao tác trên mạn sườn trái tôi.
"Rạch thêm hai phân mở rộng ngách sườn hoành," Hạ Băng ra lệnh cho y tá phụ mổ, giọng đều đều không gợn sóng. "Kẹp phẫu thuật số mười bốn. Đưa ống dẫn lưu ba mươi hai phân khối. Hút sạch dịch máu đọng."
Một cơn đau buốt tận tủy sống truyền thẳng lên đỉnh đầu khi Hạ Băng luồn chiếc ống silicon cỡ lớn vào sâu trong khoang màng phổi tôi. Tôi cắn chặt môi, hàm răng nghiến vào nhau ken két để không phát ra tiếng rên. Mùi máu tươi trào lên mũi.
Hạ Băng liếc nhìn màn hình theo dõi nhịp tim bên cạnh, rồi cúi xuống nhìn thẳng vào mặt tôi. Khoảng cách gần đến mức tôi có thể ngửi thấy mùi cặn cà phê đắng ngắt trên hơi thở của cô.
"Thở nông thôi," cô nói nhỏ, mũi dao mổ trong tay lướt qua mép da bị rách. "Xương sườn số sáu của anh gãy chéo làm đôi, đầu xương cọ rách màng phổi tạng bốn mi-li-mét. Tôi đã cố định tạm thời bằng hai nẹp chỉ thép y tế. Rách thêm một mũi chỉ nữa thì tôi tự tay khâu miệng anh lại."
"Đăng... sao rồi?" Tôi cố ép giọng mình qua kẽ răng.
Bàn tay Hạ Băng đang cầm kim khâu hơi khựng lại nửa nhịp. Chỉ nửa nhịp thôi. Rồi cô tiếp tục kéo sợi chỉ lụa qua lớp biểu bì, xiết chặt nút chỉ bằng một động tác dứt khoát, gọn gàng như đóng dấu niêm phong một tử thi.
"Hồi sức Quân y 175 đã tiếp nhận. Phổi cậu ta tổn thương nặng, nhưng tim đã đập lại theo nhịp xoang. Tạm thời qua cơn nguy kịch," Hạ Băng đáp, với tay nhận miếng gạc cồn từ y tá, lau mạnh vết máu khô bám trên hõm ức tôi. "Nghĩ cho bản thân anh trước đi. Mất máu cấp, phổi xẹp bốn mươi phần trăm, rách bao thần kinh quay tay trái. Nếu là người khác thì đã nằm nhà xác từ ba tiếng trước rồi."
"Tôi... quen nằm chỗ cứng rồi," tôi nhếch mép, buông một câu mỉa mai rồi nhìn lên trần nhà bê tông loang lổ vết ẩm mốc.
Hạ Băng không đáp. Cô đặt kẹp phẫu thuật xuống khay inox đánh xoảng một tiếng, cởi găng tay vứt vào thùng rác y tế. Chiếc khay inox đựng ống dẫn lưu cũ ngập ngụa máu sẫm màu và ba cục máu đông to bằng ngón tay.
Cô bước tới góc phòng, rót một ly nước lọc từ bình giữ nhiệt, đặt mạnh xuống chiếc bàn cạnh đầu giường tôi. Mặt nước trong ly chao đảo.
"Uống đi. Thuốc kháng sinh liều cao và giảm đau tôi để sẵn đó," cô quay lưng về phía tôi, cởi bỏ chiếc áo choàng dính máu, để lộ chiếc áo sơ mi đen bên trong nhăn nhúm vì mồ hôi. "Hai mươi phút nữa Lê Hoàng và Thượng tá Đặng Thế Anh sẽ vào. Họ vừa giải mã xong bức điện tín thứ hai của Bộ Quốc phòng."
Tôi với tay cầm ly nước, nuốt trọn ba viên thuốc tròn mà không cần chớp mắt. Vị đắng nghét của thuốc kháng sinh đọng lại nơi cuống họng, đè bẹp vị tanh nồng của máu.
Tôi thọc tay vào túi trong của chiếc áo khoác da rách bươm đang vắt trên thành ghế. Chiếc kẹp tóc bằng nhôm hình con bướm cháy xém của Mai Lan và cuốn nhật ký công trình bìa simili năm 2004 vẫn nằm nguyên ở đó. Cạnh sắc của chiếc kẹp tóc cứa nhẹ vào đầu ngón tay tôi.
Ba năm qua, tôi đã sống như một con chó hoang trong con hẻm ngập nước Quận 4. Tôi uống cặn cà phê vợt, nuốt thuốc giảm đau thay cơm, và tự đày đọa mình trong cái ý nghĩ rằng chính phán đoán sai lầm của tôi ở hẻm Cầu Muối đã đẩy Tuấn vào họng súng của bọn buôn ma túy. Tôi tưởng Đăng giết người để trả thù cho một người mẹ đã chết cháy trong căn hầm đá chẻ.
Nhưng nếu Mai Lan chưa chết đêm đó, thì tấn bi kịch này rốt cuộc là cái quái gì?
Cánh cửa phòng mổ bật mở. Lê Hoàng bước vào trước, theo sau là Thượng tá Đặng Thế Anh.
Hoàng vẫn mặc chiếc áo gió cảnh sát sũng nước mưa, mái tóc húi cua bết lại trên trán. Anh kéo một chiếc ghế đẩu bằng sắt ngồi xuống cạnh giường tôi, móc từ túi quần ra bao thuốc lá Thăng Long đã bẹp rúm. Anh rút ra một điếu, đưa lên mũi ngửi rồi nhớ ra đây là phòng hồi sức, liền nhét ngược trở lại.
Thượng tá Đặng Thế Anh bước đến bên cạnh bàn mổ. Bộ quân phục của ông ta dính đầy bùn đất từ sân bay Tân Sơn Nhất và căn hầm Chùa Thông, nhưng phong thái chỉ huy vẫn lạnh lùng và cứng cỏi như một thanh thép đã tôi qua lửa. Ông ta đặt một tập hồ sơ bọc bìa xi măng đỏ lên bàn inox.
"Tạ Đình Bách đã bị di lý về Trại giam T16 của Bộ Quốc phòng," giọng Đặng Thế Anh trầm đục. "Hắn ngậm miệng, không khai một lời về đường dây chuyển nhượng tài sản ngầm. Nhưng Viện Kiểm sát Tối cao đã phong tỏa hoàn toàn sáu mươi tài khoản của Tập đoàn Phương Nam và Quỹ Viễn Đông trên toàn quốc. Chuyên án kinh tế xem như đã hoàn tất chín mươi phần trăm."
"Chín mươi phần trăm?" Tôi chống tay ngồi dậy, lưng dựa vào thành giường bệnh. Ống dẫn lưu bên sườn nhói lên một cơn đau âm ỉ. "Thế còn bức điện tín từ nghĩa trang Đồi Thông? Tám bộ hài cốt... người phụ nữ đó là ai?"
Lê Hoàng gõ ngón tay trỏ xuống mặt bàn sắt. Ba nhịp gõ khô khốc. Cộc. Cộc. Cộc.
"Hồ sơ lưu trữ của trạm y tế thành phố Đà Lạt năm 2004 vừa được Cục Điều tra Tối cao trích xuất lại từ đống tài liệu mật của Tạ Đình Bách," Hoàng nói, mắt nhìn chằm chằm vào tôi. "Đêm 11 tháng 11 năm 2004, trước khi ngọn lửa bốc lên bốn tiếng, Mái ấm Hướng Dương có tiếp nhận một người phụ nữ vô gia cư bị tâm thần dạt từ khu vực chợ Đào Duy Từ vào xin trú chân. Tên trong sổ ghi chú của bảo mẫu Nhàn là 'Chị Năm Câm'."
Tôi nheo mắt lại. Ký ức về những trang sổ điểm danh mục nát và cuốn nhật ký của Mai Lan lướt qua trong đầu tôi như những thước phim quay chậm.
"Chị Năm Câm..." tôi lẩm bẩm. "Người phụ nữ chết cháy trong căn hầm đá chẻ dưới chái bếp... là người đó?"
"Chính xác," Đặng Thế Anh tiếp lời, mở tập hồ sơ bìa đỏ ra. Bên trong là bản đối chiếu mẫu xương chậu và hàm răng của tử thi số 08. "Người phụ nữ chết vì ngạt khí CO và phù phổi cấp trong hầm đá chẻ mang dị tật bẩm sinh ở xương hàm dưới, hoàn toàn không có dấu vết sinh nở. Đó là người vô gia cư kia. Còn Mai Lan..."
"Mai Lan đã rời khỏi Mái ấm Hướng Dương từ trước khi 5.000 lít dầu diezen bị đổ vào sảnh chính," tôi ngắt lời, xâu chuỗi từng mảnh vỡ lại với nhau. "Chiếc xe U-oát của cha anh... Thượng tá Lê Văn Bản đêm đó đón đứa trẻ sơ sinh là Đặng Thế Anh lúc hai mươi ba giờ. Vậy còn Mai Lan? Ai đã đưa cô ấy đi?"
"Không phải xe của ba tôi," Lê Hoàng lắc đầu, giọng chùng xuống. "Ba tôi khai trước Viện Kiểm sát Quân sự rằng khi ông ấy bế Thế Anh lên xe, Mai Lan vẫn kiên quyết ở lại để bảo vệ mười hai đứa trẻ trong hầm. Nhưng đến mười hai giờ đêm, một chiếc xe cứu thương quân sự mang biển kiểm soát giả thuộc Cục Hậu cần đã dừng lại sau cổng phụ của mái ấm."
Tôi nhìn Đặng Thế Anh. Đôi mắt người Trưởng phòng CSHS co rút lại.
"Chiếc xe đó thuộc quyền điều động của ai?" Tôi hỏi.
"Thiếu tướng Phạm Gia Bảo," Đặng Thế Anh đáp gọn lỏn. "Trước khi bị tước quyền chỉ huy và sát hại năm 2006, cha tôi đã nhận thấy mối nguy hiểm cận kề từ liên minh của Tạ Đình Bách, Phạm Quang Đạt và Nguyễn Khắc Thắng. Ông ấy biết rõ căn hầm đá chẻ không thể chống đỡ nổi lượng dầu công nghiệp mà chúng dự định dùng. Ông ấy đã cử một tổ trinh sát kỹ thuật đặc biệt mang lệnh điều động khẩn cấp đưa Mai Lan ra khỏi khu vực nguy hiểm."
"Nhưng tại sao Mai Lan lại biến mất suốt hai mươi năm qua?" Tôi chống cẳng tay trái băng bó chằng chịt lên đùi, nhìn thẳng vào Thế Anh. "Nếu cô ấy còn sống, tại sao không bao giờ xuất hiện? Tại sao để Tuấn phải chết oan ở hẻm Cầu Muối? Tại sao để Đăng phải biến thành một con quái vật báo thù?"
Căn phòng tiểu phẫu chìm vào một khoảng lặng nghẹt thở. Tiếng máy hút áp lực âm đều đặn tút... tút từng hồi bên cạnh giường bệnh.
Hạ Băng bước lại gần, cầm lấy một tập tài liệu mỏng kẹp phía sau tờ giấy fax của Bộ Quốc phòng đưa cho tôi.
"Tôi vừa kiểm tra nhật ký lưu trữ hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 tại Biên Hòa," Hạ Băng nói, giọng trầm xuống khác thường. "Tháng Chạp năm 2004, một tháng sau vụ cháy Đà Lạt, Phân viện Pháp y Quân đội tiếp nhận một bệnh nhân nữ vô danh bị chấn thương sọ não nặng, mất trí nhớ toàn phần và câm phân ly do sang chấn tâm lý cực hạn. Bệnh nhân mang mã số quản lý nội bộ: KTS-00."
Tôi giật phắt tờ giấy từ tay Hạ Băng.
Dòng chữ in kim màu xanh trên giấy pơ-luya đã ố vàng theo năm tháng hiện rõ:
*Bệnh nhân nữ, khoảng 24 tuổi. Chấn thương dập thùy trán do va đập cơ học. Rối loạn nhận thức sau sang chấn. Không phản ứng với âm thanh bên ngoài. Được chuyển giao bởi Tổ Nghiệp vụ KTS-01 theo diện bảo vệ nhân chứng đặc biệt cấp quốc gia.*
Góc dưới cùng của tờ bệnh án có một dấu vân tay ngón trỏ phải bằng mực đỏ. Dấu vân tay có một vết sẹo nhỏ hình chữ V ở tâm xoáy — trùng khớp tuyệt đối với dấu vân tay lưu trên cuốn sổ điểm danh Mái ấm Hướng Dương năm 2004 mà tôi đã soi dưới đèn UV tại gác xép Quận 4.
Mai Lan không hề bỏ trốn. Cô ấy không phản bội những đứa trẻ.
Cô ấy đã bị tấn công, bị đánh vỡ hộp sọ trước khi kịp lên chiếc xe cứu thương đêm đó, và bị giam cầm trong bóng tối của sự lãng quên suốt hai mươi năm ròng dưới danh nghĩa một "bệnh nhân tâm thần vô danh".
"Chiếc xe cứu thương năm 2004 đã bị phục kích trên đèo Ngoạn Mục," Đặng Thế Anh nói, giọng khàn đặc. "Tổ trinh sát của cha tôi hy sinh ba người. Mai Lan sống sót nhưng hộp sọ bị dập nát. Cha tôi buộc phải làm giả hồ sơ tâm thần, giấu cô ấy vào sâu nhất trong hệ thống phân viện quân y khép kín để cứu mạng cô ấy khỏi họng súng của Tạ Đình Bách."
"Hiện giờ cô ấy ở đâu?" Tôi siết chặt tờ giấy bệnh án đến mức ngón tay trắng bệch. Cơn đau nơi lồng ngực như bị lu mờ hoàn toàn trước luồng điện lạnh ngắt chạy dọc sống lưng.
"Bệnh xá Trại giam K3 - Xuân Lộc," Lê Hoàng đáp, ánh mắt sắc như thép. "Sau khi chuyên án 1104 nổ ra, toàn bộ hồ sơ y tế diện KTS bị phong tỏa. Sáng nay, Tí Bo quét dữ liệu định danh bệnh nhân cơ yếu và phát hiện một lệnh chuyển viện khẩn cấp được ký cách đây sáu tiếng."
"Ai ký?" Tôi gằn từng chữ.
"Chữ ký ủy quyền của Cục Quân y," Đặng Thế Anh rút chiếc điện thoại mã hóa ra, nhìn vào màn hình. "Nhưng lệnh điều động xe cứu thương lại xuất phát từ một địa chỉ IP nội bộ tại Quận 1. Một chiếc xe cấp cứu mang biển kiểm soát dân sự đã rời cổng Bệnh xá K3 lúc năm giờ ba mươi sáng nay."
Tôi nhìn đồng hồ trên vách tường phòng mổ. Bảy giờ mười lăm phút sáng. Chiếc xe đã rời đi gần hai tiếng.
"Mục tiêu của chúng là gì?" Tôi hỏi, chân đã thòng xuống mép bàn mổ, mặc kệ lời cảnh báo của Hạ Băng.
"Hồ sơ chuyển nhượng mỏ đất hiếm và các tài khoản vô danh của Quỹ Viễn Đông yêu cầu một thứ duy nhất để kích hoạt quyền thừa kế vĩnh viễn không thể hủy ngang," Lê Hoàng nghiến răng. "Không phải chữ ký của Bách, không phải của Quốc. Mà là mẫu sinh trắc học sống — võng mạc hoặc vân tay tươi — của người đại diện hợp pháp đứng tên ban đầu trên giấy phép thành lập Mái ấm Hướng Dương năm 2004."
Mai Lan.
Chúng cần cô ấy còn sống. Chúng cần cơ thể cô ấy để hoàn tất ván cờ cuối cùng trước khi các tài khoản bị cơ quan tư pháp quốc tế đóng băng vĩnh viễn vào trưa nay.
Hạ Băng bước tới, đặt hai tay lên vai tôi, ấn mạnh tôi ngồi lại trên giường. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào tôi, không né tránh.
"Anh không thể đi," cô nói cộc lốc. "Phổi anh sẽ xẹp hoàn toàn nếu vận động mạnh trong sáu tiếng tới. Anh sẽ chết vì tràn máu màng phổi trước khi chạm được vào chiếc xe đó."
Tôi nhìn chiếc ly nước rỗng trên bàn, rồi nhìn vào đôi bàn tay đầy vết chai sạn và sẹo đạn của chính mình. Tôi thò tay vào túi áo, lôi ra chiếc kẹp tóc hình con bướm bằng nhôm, đặt nhẹ vào lòng bàn tay Hạ Băng. Miếng nhôm lạnh ngắt cọ vào da thịt cô.
"Tuấn đã chết vì nghĩ rằng chị gái mình đã thành tro bụi ở Đồi Thông," tôi nói, giọng trầm và khàn như tiếng sỏi cọ dưới đáy sông. "Đăng đã sống hai mươi năm như một hồn ma trong địa ngục cũng vì nghĩ như thế. Nếu tôi nằm đây thêm một giờ nữa, cái thành phố này sẽ nuốt chửng nốt người cuối cùng còn thở."
Hạ Băng nhìn chiếc kẹp tóc trong tay. Những ngón tay thon dài của cô khẽ co lại, siết chặt lấy món kỷ vật cháy xém. Cô im lặng suốt mười giây. Tiếng kim giây đồng hồ nhảy từng nấc khô khốc trên tường.
Rồi cô quay sang chiếc tủ thuốc cấp cứu dã chiến, giật phắt chiếc túi cứu thương đeo lên vai.
"Khóa van một chiều của bình áp lực âm lại," cô nói với viên y tá, giọng lạnh tanh nhưng dứt khoát như một mệnh lệnh hành quyết. "Lấy cho tôi hai ống Morphine dự phòng, ba cuộn băng thun cố định ngực cỡ lớn và một bình oxy cầm tay. Chúng ta đi."
Lê Hoàng không nói một lời. Anh rút khẩu súng ngắn K59 từ thắt lưng ra, kéo khóa nòng kêu rắc một tiếng rồi nhét lại vào bao da. Anh chìa tay ra trước mặt tôi. Tôi nắm lấy tay anh, mượn lực đứng thẳng dậy.
Cơn đau từ mạn sườn trái dội lên như một búa tạ giáng thẳng vào tim, nhưng tôi cắn chặt răng, nuốt ngụm máu tươi vừa trào lên miệng xuống lại dạ dày.
Bốn người chúng tôi rảo bước qua hành lang ngầm của Phân viện Quân y, tiến thẳng ra bãi đỗ xe phía sau. Trời Sài Gòn sáng nay không có nắng. Bầu trời xám xịt như một tấm bạt ướt trùm lên những nóc nhà cao tầng xa xa của Quận 1. Mưa phùn bắt đầu rơi lất phất, mang theo mùi sình lầy từ nhánh sông Soài Rạp thốc thẳng vào mặt.
Chiếc xe bán tải Ford Ranger của Lê Hoàng đã nổ máy sẵn, khói xả đen ngòm bốc lên từ ống xả phía sau.
Đúng lúc tôi chuẩn bị bước lên ghế phụ, chiếc điện thoại Nokia cũ kỹ trong túi quần tôi rung lên bần bật.
Màn hình đơn sắc chớp sáng. Không có số người gửi, chỉ có một dãy ký tự mã hóa nội bộ từ tổng đài trạm thu phí Long Phước:
*XE CẤP CỨU BIỂN SỐ 51B-094.22 VỪA VƯỢT TRẠM HƯỚNG VỀ CẢNG CÁ TẮC XUẤT - CẦN GIỜ. TRÊN XE CÓ MỘT NỮ BỆNH NHÂN MANG MÃ SỐ KTS-00 VÀ HAI TAY SÚNG THUỘC ĐỘI THANH TRỪNG GENEVA. CHÚNG ĐÃ NHẬN ĐƯỢC MẬT LỆNH: NẾU BỊ TIẾP CẬN TRONG BÁN KÍNH NĂM TRĂM MÉT, LẬP TỨC TIÊM NĂM MƯƠI MI-LI-LÍT KALI CLORUA VÀO ĐƯỜNG TRUYỀN TĨNH MẠCH ĐỂ HỦY BỎ VẬT CHỨNG SỐNG.*
Tôi nhìn dòng tin nhắn, ngón tay cái khẽ miết lên bàn phím nhựa mòn vẹt.
Mười hai giờ trưa. Cảng cá Tắc Xuất. Nơi con sông Lòng Tàu đổ thẳng ra biển Đông.
Bản án của ngọn lửa hai mươi năm trước chưa từng tắt. Nó chỉ đang chờ một mồi diêm cuối cùng để thiêu rụi toàn bộ những gì còn sót lại.
"Hoàng," tôi đóng sập cửa xe, kéo dây an toàn siết chặt qua lồng ngực đang băng bó cứng đờ. "Đạp hết ga đi. Chúng ta có đúng bốn mươi phút trước khi tim của Mai Lan ngừng đập."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.