Giao Lộ Mờ Sương

Chương 104: Căn Phòng Dưới Đáy Móng

Đăng: 30/08/2026 13:16 3,226 từ 1 lượt đọc

Mùi vôi sống lưu cữu bốn mươi năm dưới chân móng tòa nhà xộc thẳng vào cuống họng, đắng ngắt như bột thạch cao trộn lẫn tro mục.

Không khí trong căn hầm ngầm đặc quánh, thiếu dưỡng khí đến mức ngọn đèn pin dã chiến gắn trên báng súng của Lê Hoàng chỉ quét ra một luồng sáng đục nhờ, nổi rõ những hạt bụi lơ lửng như phấn mốc.

Tôi quỳ một gối xuống nền xi măng nứt nẻ.

Lồng ngực trái nhói lên từng chặp, buốt thấu tận xương sống. Mũi kim dẫn lưu mười tám gút gắn tạm bằng van cao su ở khoang liên sườn hai đang bị một cục máu đông bít chặt miệng xả. Khí ứ lại trong khoang màng phổi bắt đầu ép lệch khí quản sang phải, mỗi nhịp hít vào nghe như tiếng một bao tải cát bị kéo lê trên sàn đá dăm.

Hạ Băng không nói nửa lời. Cô quỳ sụp bên cạnh tôi, đầu gối dập mạnh xuống lớp sỏi vụn phát ra tiếng lạo xạo khô khốc.

Bàn tay cô lạnh ngắt nhưng ngón tay luồn qua cổ áo tôi lại vững như kìm nguội. Chiếc kẹp phẫu thuật bằng thép không gỉ tanh nồng mùi cồn i-ốt chọc thẳng vào đầu nối cao su, xoay nhẹ nửa vòng rồi rút phắt mẩu máu bầm đen đặc quánh như thạch ra ngoài.

Một luồng khí đục lẫn bọt máu xì mạnh qua rãnh kim, phả vào mu bàn tay cô.

Tôi cắn chặt môi dưới. Vị mặn chát của máu tươi tứa ra từ vết nứt đầu môi giúp kéo cái đầu đang lùng bùng vì tụt huyết áp quay trở lại thực tại.

Hạ Băng rút miếng gạc tẩm cồn áp chặt vào chân kim, ấn mạnh ba ngón tay để cố định ống dẫn. Ánh mắt cô quét qua mặt tôi, dừng lại đúng hai giây ở quầng thâm xám ngoét quanh hốc mắt, rồi dời đi.

"Huyết áp dưới sáu mươi," cô nói, giọng đều đều như đọc một dòng bệnh án của người lạ. "Anh còn ba mươi phút trước khi khoang màng phổi tràn dịch ngược. Không có lần thông thứ hai đâu."

"Đủ để đọc hết một tờ giấy báo tử," tôi đáp, giọng khàn đặc như có sỏi cọ trong thanh quản.

Tôi chống một tay lên mép bàn gỗ lim đặt giữa căn hầm, gượng đứng thẳng dậy.

Chiếc bàn này được đóng bằng gỗ lim nguyên khối từ thời chiến tranh, chân bàn chôn chặt vào sàn bê tông chống rung. Bên trên mặt gỗ phủ một lớp bụi dày cả đốt ngón tay, ở chính giữa là chiếc hộp sắt quân dụng sơn màu cỏ úa, mang ký hiệu dập nổi bằng khuôn đồng: 902-B.

Ba con dấu niêm phong bằng sáp đỏ hình hoa sen tám cánh đóng đè lên mép rãnh nắp hộp đã khô giòn, chuyển sang màu đỏ thẫm như vẩy tiết.

Lê Hoàng bước tới, khẩu K59 lăm lăm trên tay trái, tay phải rút lưỡi dao găm tác chiến ra khỏi bao da bên hông. Mũi dao bằng thép đen lạnh ngắt cắm phập vào khe mép nắp sắt, bẩy nhẹ một tiếng tách gọn lỏn.

Từng mảng sáp đỏ vỡ vụn, rơi lả tả xuống mặt bàn.

Mùi giấy hút ẩm pha lẫn lưu huỳnh bảo quản hồ sơ bốc lên cay nồng.

Bên trong lòng hộp chia làm hai ngăn riêng biệt. Ngăn bên phải đặt một đầu đọc băng từ quân sự cầm tay hiệu Sony chạy pin mạ kền, vỏ máy phủ lớp sơn xanh rêu của khối kỹ thuật thập niên tám mươi, đi kèm một cuộn băng Betacam vỏ kim loại dày cộp dán nhãn niêm phong bằng giấy pơ-luya ố vàng.

Ngăn bên trái là mười ba tập hồ sơ bọc trong bao giấy bóng kính chuyên dụng chống ẩm.

Từng tập hồ sơ đều có dập dấu đỏ tươi ở góc trên bên phải: TUYỆT MẬT - BẢO QUẢN VĨNH VIỄN.

Tôi với tay rút tập hồ sơ đầu tiên.

Bìa tập tài liệu bằng bìa ép màu xám tro, dòng chữ đánh máy bằng máy chữ cơ học thời bao cấp hiện rõ từng vệt mực đè: "Dự án Khảo sát Sinh trắc học và Đột biến Địa tầng - Trạm Nông hóa Thổ nhưỡng Đơn Dương - 1985".

Lật trang thứ nhất. Danh sách mười ba đứa trẻ sơ sinh được thu thập mẫu sinh phẩm tủy sống đầu tiên tại vùng mỏ phóng xạ Lâm Viên.

Mỗi cái tên đều đi kèm một mã số định danh, nhóm máu, và chỉ số lặp đoạn gen.

Ở vị trí số mười ba, dòng chữ in hoa nện thẳng vào mắt tôi:

"MẪU 13-KTS: NGUYỄN VĂN ĐEN. NGÀY THU MẪU: 04/11/1985. ĐỘT BIẾN: MẤT ĐOẠN NGẮN NHIỄM SẮC THỂ SỐ 9."

Phía dưới khung chữ ký của hội đồng giám định y khoa, có một dòng phê duyệt bổ sung bằng mực bút máy màu tím học trò, nét chữ đã phai nhưng tì rất sâu vào thớ giấy:

"Chỉ định người bảo trợ hành chính độc lập và tiếp nhận kinh phí bảo lưu mẫu: Trung tá Trần Viết Hùng - Cục Hậu cần Đặc biệt."

Dưới tên cha tôi, có một con dấu nhỏ hình chữ nhật khắc mã định danh công dân dự phòng. Dãy số đó trùng khớp từng ký tự với số chứng minh nhân dân cũ trên thẻ ngành công an đã bị tước của tôi ba năm trước.

Một cơn co giật nhẹ chạy dọc bắp tay trái tê dại.

Tôi đứng sững lại, ngón tay cái vô thức miết chặt lên vết mực tím đã khô cứng bốn mươi năm.

Hai mươi năm làm trinh sát hình sự, tôi từng nghĩ mình hiểu rõ mọi ngóc ngách bẩn thỉu nhất của thành phố này, từng tin rằng cái chết của Tuấn ở hẻm Cầu Muối chỉ là một cái bẫy tranh giành quyền lực giữa những kẻ mặc vest và bọn tội phạm ma túy. Tôi từng tin mình chỉ là một kẻ đứng ngoài bị cuốn vào vòng xoáy vì một quyết định điều quân sai lầm.

Hóa ra không phải.

Tên của tôi đã bị ghim lên bàn cờ này từ năm tôi chưa đầy mười tuổi, bằng một nét bút của người đàn ông nằm trong bức ảnh thờ phủ bụi ở căn nhà tập thể cũ.

"Vũ."

Tiếng Lê Hoàng gọi khẽ, cộc lốc. Cậu ta không nhìn tôi, chỉ đưa mắt nhìn chiếc đồng hồ đeo tay trên cổ tay trái. Kim giây đang nhích từng nấc giật cục.

Tôi buông tập hồ sơ xuống bàn. Tiếng giấy bìa va vào mặt gỗ khô vang lên một tiếng đục.

"Không sao," tôi nói, giọng lạnh tanh, rút bao thuốc lá Thăng Long bẹp dúm trong túi áo khoác ra. Bao thuốc rỗng tuếch, chỉ còn lại mẩu giấy bạc rách. Tôi vo tròn nó lại, nhét ngược vào đáy túi quần. "Xem cuộn băng trước."

Lê Hoàng cầm cuộn băng Betacam lên, thổi nhẹ lớp bụi mịn bám trên rãnh quay rồi ấn thẳng vào khay máy đọc Sony.

Tiếng bánh răng cơ học rít lên khô khốc trong không gian tĩnh mịch của căn hầm ngầm. Màn hình giám sát CRT cỡ chín inch gắn liền trên thân máy nhấp nháy ba lần, phát ra những vệt nhiễu sọc ngang màu xanh lá cây trước khi hình ảnh bắt đầu ổn định.

Góc dưới màn hình hiển thị dòng mã thời gian kỹ thuật số màu vàng chanh: 11/11/2004 - 23:14:02.

Hiện trường trong thước phim là một căn phòng họp lát gỗ thông kiểu Pháp cổ, rèm nhung đỏ buông kín các ô cửa sổ vòm. Ánh sáng vàng vọt từ chiếc đèn chùm pha lê rọi xuống chiếc bàn dài trải khăn nỉ xanh lục.

Bốn người đàn ông đang ngồi quanh bàn.

Người ngồi ở đầu bàn bên trái mang quân phục Đại tá Công an, gương mặt xương xẩu, ánh mắt sắc lạnh như mắt chim ưng — cựu Thứ trưởng Đỗ Khắc Khiêm hai mươi năm trước. Bên cạnh ông ta là Trịnh Văn Phát thời còn mang hàm Trung tá, tay đang cầm một tập hồ sơ dày cộp, liên tục gõ đầu lọc điếu thuốc lá ba số xuống mặt bàn kính.

Người ngồi đối diện là Phạm Kiến Quốc thời ba mươi tám tuổi, mặc bộ vest xám rộng thùng thình, trán đẫm mồ hôi, hai tay run rẩy bấu chặt vào mép bàn.

Và người ngồi ở vị trí chủ tọa, quay lưng nửa phần về phía ống kính, là một người đàn ông mặc âu phục may đo màu xanh đen sang trọng. Trên ngón tay trỏ bàn tay trái của ông ta đeo một chiếc nhẫn vàng cẩn đá ruby đỏ hình bầu dục.

Âm thanh rè rè của máy thu âm thập niên hai nghìn phát ra từ chiếc loa nhỏ bên hông màn hình, xen lẫn tiếng mưa rào quất mạnh vào mái tôn bên ngoài:

"Báo cáo của Viện Địa chất khẳng định túi khoáng sản đất hiếm kéo dài từ chân đồi Robin chạy thẳng qua móng Mái ấm Hướng Dương," giọng Đỗ Khắc Khiêm vang lên, trầm và dứt khoát. "Trữ lượng đủ để vận hành ba nhà máy lọc tại Thụy Sĩ trong ba mươi năm. Quỹ Viễn Đông đã duyệt gói bảo lãnh một trăm hai mươi triệu đô la. Điều kiện tiên quyết của phía Geneva là mặt bằng sạch tuyệt đối trước sáng ngày mười lăm. Không có dân cư. Không có tranh chấp pháp lý. Và quan trọng nhất: không còn bất kỳ mẫu đối chứng sinh học nào tồn tại ngoài tầm kiểm soát."

Phạm Kiến Quốc nuốt nước bọt ực một tiếng, giọng run lẩy bẩy: "Nhưng... còn mười hai đứa trẻ và con bé Lan... Chúng nó có hồ sơ bảo trợ của Cục 01..."

Người đàn ông đeo nhẫn ruby gõ nhẹ ba nhịp ngón tay xuống mặt bàn gỗ.

Cộc. Cộc. Cộc.

Âm thanh cơ học chuẩn xác, đều đặn đến rợn người.

Căn phòng họp lập tức im bặt. Cả Khiêm lẫn Phát đều ngồi thẳng lưng, mắt hướng về phía người ngồi ghế chủ tọa.

Người đàn ông đó nghiêng đầu, để lộ một phần góc mặt nghiêng dưới ánh đèn chùm. Đó không phải Tạ Đình Bách, cũng không phải Nguyễn Khắc Thắng.

Khuôn mặt ấy thuộc về một người đàn ông có vết sẹo nhỏ hình lưỡi liềm ở đuôi mày trái, đôi mắt xám tro phẳng lặng không một chút gợn sóng cảm xúc.

"Cục Không Một đã bị đình chỉ hoạt động từ mười hai giờ trưa nay," giọng người đàn ông vang lên, âm lượng vừa đủ nghe nhưng mang sức nặng của một bản án đanh thép. "Bảo Gia đã bị cô lập ở Cam Ranh. Mười hai đứa trẻ đó không phải là con người trên giấy tờ quy hoạch. Chúng là mười hai mẫu sai số của một thí nghiệm cũ cần được thanh lý."

Ông ta đẩy chiếc hộp gỗ sơn mài đỏ về phía Trịnh Văn Phát.

"Năm nghìn lít dầu diezen pha dung môi công nghiệp của kho K-86 đã vào vị trí. Phát, anh điều tổ của Đinh Trọng Phúc khóa xích cửa sau. Đúng một giờ ba mươi, ngắt toàn bộ điện lưới khu vực đồi thông. Xe cứu hỏa của tỉnh sẽ nhận lệnh đi Đan Kia chữa cháy kho xăng giả lúc một giờ mười lăm."

Trịnh Văn Phát nhận lấy chiếc hộp, ngón tay run nhẹ khi chạm vào nắp gỗ: "Còn con bé Lan? Nó là em gái của thằng Tuấn bên đội điều tra..."

Người đàn ông đeo nhẫn ruby nhếch mép, một nụ cười nhạt thếch thoáng qua trên đôi môi mỏng dính:

"Thằng Tuấn sẽ có một suất đi học sĩ quan chỉ huy ở miền Bắc vào tuần sau. Kẻ nào không biết nhìn về phía trước thì để nó ở lại phía sau. Nếu con bé Lan không chịu rời khỏi căn hầm đá chẻ, thì đóng khóa van nước sinh hoạt Danfoss lại. Một que diêm sẽ giải quyết toàn bộ những gì mà hai mươi năm thủ tục hành chính không làm nổi."

Đoạn phim giật mạnh một cái.

Hình ảnh chuyển sang góc quay cận cảnh tờ biên bản thỏa thuận bốn bên được trải ra trên bàn.

Bốn bàn tay lần lượt đặt bút ký.

Chữ ký đầu tiên: Đỗ Khắc Khiêm.

Chữ ký thứ hai: Trịnh Văn Phát.

Chữ ký thứ ba: Phạm Kiến Quốc.

Và chữ ký cuối cùng, nằm ở ô bên A - Người phê duyệt tối cao của Ban Điều phối Chiến lược, được ký bằng mực bút máy Parker Penman Sapphire pha lục bảo, kèm theo con dấu sáp hình hoa sen tám cánh vắt ngang thanh kiếm gãy:

"ĐẶNG TRẦN QUANG - THƯỜNG TRỰC TIỂU BAN AN NINH NỘI CHÍNH ĐẶC BIỆT."

Màn hình CRT kêu xoẹt một tiếng rồi vụt tắt, chỉ còn lại luồng tuyết trắng xóa và tiếng xì rè vô tận của dải băng từ rỗng.

Trong căn hầm ngầm, sự im lặng đè nặng như một khối chì ngàn cân.

Lê Hoàng đứng chôn chân tại chỗ. Bàn tay cậu ta siết chặt cán súng K59 đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, gân xanh nổi cộm trên mu bàn tay.

"Đặng Trần Quang..." Hoàng lẩm bẩm, giọng khản đặc. "Cựu Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra... người vừa ký quyết định thành lập Đoàn giám sát đặc biệt chiều nay..."

"Kẻ cầm diêm thực sự," tôi nói, từng chữ rớt xuống sàn đá lạnh ngắt. "Tạ Đình Bách chỉ là bình phong ký duyệt tài chính. Thắng và Cửu chỉ là những con tốt dọn dẹp hiện trường. Đặng Trần Quang mới là kẻ ngồi trong bóng tối điều phối toàn bộ đường dây từ năm một chín tám lăm đến tận bây giờ."

Hạ Băng bước tới bên cạnh chiếc hộp sắt 902-B, ngón tay mang găng y tế lật nhanh các tập tài liệu trong ngăn bên trái.

Cô dừng lại ở tập hồ sơ số mười hai.

Đó là bản báo cáo giải phẫu tử thi gốc lập lúc bốn giờ sáng ngày 12/11/2004 tại chân đồi Hướng Dương, do chính Bác sĩ Giám định viên trưởng Lê Văn Bản ký nháy từng trang.

Nhưng ở trang kết luận cuối cùng, bên dưới danh sách mười hai nạn nhân tử vong vì ngạt khí và ngộ độc hydrocacbon, có một con dấu tròn thứ tư được đóng đè lên bằng mực đỏ tươi, kèm theo dòng bút phê viết tay bằng bút bi xanh:

"HỦY BỎ TƯ CÁCH TỐ TỤNG. TẬP TRUNG TOÀN BỘ MẪU SINH PHẨM VỀ PHÒNG THÍ NGHIỆM NGẦM TẦNG B4 - TRỤ SỞ BAN CHỈ ĐẠO 104 TẠI ĐƯỜNG NGUYỄN THỊ MINH KHAI."

Hạ Băng ngẩng đầu lên nhìn tôi, đôi mắt sâu thẳm ánh lên một vẻ sắc lạnh kỳ lạ:

"Mười hai mẫu tủy sống trên tàu HP-09 không phải là bản sao duy nhất. Chúng chỉ là mẫu đối chứng thương mại gửi ra nước ngoài. Bộ mẫu gen gốc hoàn chỉnh của mười ba đứa trẻ... cùng toàn bộ hồ sơ thử nghiệm sinh học năm 1985... chưa từng rời khỏi Sài Gòn."

"Nó đang nằm ở đâu?" Lê Hoàng hỏi dồn, hơi thở gấp gáp.

"Tầng hầm B4 tòa nhà liên cơ quan số 104 Nguyễn Thị Minh Khai," Hạ Băng đáp, ngón tay chỉ thẳng vào con dấu niêm phong màu đỏ. "Nơi Đặng Trần Quang đang chủ trì phiên họp kín của Đoàn Giám sát Đặc biệt vào lúc bảy giờ ba mươi sáng nay để công bố quyết định khép lại toàn bộ Chuyên án Hướng Dương."

Tôi nhìn đồng hồ trên vách hầm. Sáu giờ mười lăm.

Còn đúng một giờ mười lăm phút trước khi bản án hành chính cuối cùng được tuyên, hợp thức hóa việc xóa sổ toàn bộ chứng cứ và chôn vùi danh dự của những người đã chết vĩnh viễn dưới danh nghĩa an ninh quốc gia.

Đúng lúc đó, từ phía miệng cống ngầm thông ra đường Nguyễn Du, một tiếng rền rĩ cơ học trầm đục truyền qua lớp đất đá dày.

Tiếng động cơ của máy hút bùn công suất lớn kết hợp với tiếng xích sắt rào chắn bị kéo lê trên miệng nắp gang.

Chiếc bộ đàm dã chiến dắt bên hông Lê Hoàng bất ngờ phát ra tiếng rè chói tai, sau đó là giọng nói đứt quãng, nghẹt thở vì sặc khói của Tí Bo truyền qua sóng ngắn:

"Anh... anh Vũ! Rút ngay... Xe đặc chủng của Cục Bảo vệ Chính trị vừa phong tỏa toàn bộ trục đường Pasteur và Lê Duẩn... Chúng nó... chúng nó đang bơm khí gas công nghiệp vào đường cống xả số bốn để cô lập căn hầm... Anh Hoàng... nghe rõ không..."

Tiếng nổ bụp của một quả lựu đạn cay vang lên từ đầu dây bên kia, rồi toàn bộ tín hiệu vô tuyến bị cắt đứt hoàn toàn thành một chuỗi âm thanh trắng vô tận.

Lê Hoàng lập tức lên đạn súng K59, tiếng kim loại va vào nhau đanh gọn trong bóng tối.

Tôi thò tay vào túi áo ngực, chạm vào chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm cháy xém của bảo mẫu Mai Lan và cuốn sổ tay bìa simili đã ố vàng năm 2004.

Một cơn đau buốt xé toạc mạn sườn trái khi tôi cúi người ôm lấy hộp sắt 902-B, kéo mạnh nắp khóa cơ học để niêm phong lại toàn bộ cuộn băng và mười ba tập tài liệu gốc.

Máu tươi từ chân kim dẫn lưu màng phổi bắt đầu thấm ướt đẫm lớp băng thun, tràn ra ngoài mặt áo sơ mi dán chặt vào da thịt lạnh ngắt.

Hạ Băng cầm lấy chiếc túi da dù đựng dụng cụ cấp cứu, mắt nhìn thẳng vào tôi, không có sự do dự, không có một lời khuyên can thừa thãi.

Cô biết, và tôi cũng biết, cái giá của việc bước ra khỏi căn hầm này lúc này là gì.

"Lối thoát hiểm của cống ngầm đường Nguyễn Du đã bị khóa," Lê Hoàng nói, mắt quét nhanh qua sơ đồ kết cấu móng cũ khắc trên vách đá. "Chỉ còn một đường duy nhất: trục xả áp lực của tháp nước ngầm Dinh Thống đốc cũ dẫn thẳng lên vườn hoa sau lưng Hội trường."

Tôi cắn chặt răng, nuốt ngụm máu tanh nghẹn ở cuống họng xuống lồng ngực đang rát bỏng, siết chặt chiếc xà beng mini trong tay phải.

"Đi," tôi nói. "Đến giờ trả lại que diêm cho kẻ cầm con dấu."

Ba bóng người lao về phía cửa vòm đá đen ngòm dẫn vào lòng tháp nước ngầm, đúng khoảnh khắc một làn khói trắng nồng nặc mùi clo và khí gas bắt đầu tràn qua khe nắp cống phía sau lưng.

0