Giao Lộ Mờ Sương

Chương 103: Hộp Thư Số Chín Trăm Lẻ Hai

Đăng: 30/08/2026 13:16 4,592 từ 1 lượt đọc

Tiếng búa đập của khẩu súng ngắn vang lên đanh gọn trong không gian nồng nặc mùi cồn y tế.

Tách.

Một âm thanh khô khốc, quen thuộc đến mức gai người. Nó không phải tiếng kim loại va đập ngẫu nhiên. Đó là tiếng lẫy chốt an toàn của khẩu K54 được gạt dứt khoát bằng ngón cái tay phải. Họng súng đặt cách đốt sống cổ thứ tư của tôi chưa đầy năm phân. Hơi thép lạnh ngắt phả thẳng vào lớp da gáy đang ướt đẫm mồ hôi lạnh.

Lê Hoàng đứng bên cạnh phản xạ nhanh như chớp. Nòng súng K59 của cậu ta lập tức vung lên, khóa chặt vào thái dương Đặng Thế Anh. Ngón trỏ của Hoàng siết nhẹ, mặt cò kim loại ép lún một phần ba hành trình.

"Bỏ súng xuống, Thế Anh," giọng Hoàng khàn đặc, gằn từng chữ qua kẽ răng. "Đừng để tôi phải bóp cò."

Thế Anh không chớp mắt. Gương mặt xương xẩu của gã bất động dưới ánh đèn huỳnh quang chập chờn của phòng cách ly 402. Vệt sẹo dài bên quai hàm gã giật nhẹ một nhịp.

"Cậu tưởng tôi muốn bắn nó à, Hoàng?" Thế Anh nói, thanh âm trầm đục như tiếng đá mài dưới lòng giếng cạn. "Nhìn ra ngoài cửa sổ đi."

Tôi không quay đầu lại. Đầu xương sườn số sáu bên ngực trái đang cọ rách màng phổi theo từng nhịp thở dốc, mang theo những cơn đau buốt xé toạc lồng ngực. Máu tươi rỉ qua chân ống dẫn lưu silicon rít lên những tiếng lách tách trong bình áp lực âm mà Hạ Băng đang giữ chặt bên hông. Tôi đảo mắt nhìn qua tấm kính mờ ngăn cách hành lang.

Ba bóng đen mặc áo khoác gió trùm đầu, mang theo dùi cui điện và súng ngắn bọc trong túi dù, vừa lướt qua góc rẽ cầu thang bộ số hai. Bọn chúng không mang phù hiệu của Cục Cảnh sát Hình sự, cũng không phải lực lượng quân y của Quân y 175. Bước chân của chúng nhẹ bẫng, sải chân đều tăm tắp theo đội hình tam giác tác chiến đô thị.

"Người của Cục Lưu trữ Trung ương," Thế Anh hạ giọng, nhưng nòng súng K54 trên tay gã vẫn không hề rời khỏi gáy tôi. Gã dùng mũi súng hất nhẹ về phía màn hình chiếc điện thoại Nokia đang nằm trên mặt bàn kim loại. "Tin nhắn hình ảnh đó không phải gửi từ một số máy ngẫu nhiên. Nó kích hoạt từ cổng dữ liệu bảo mật cấp năm của Cục Lưu trữ tại Hà Nội. Trong vòng sáu mươi giây kể từ khi bức ảnh được giải mã, tín hiệu định vị vệ tinh đã tự động chuyển giao vị trí của chiếc máy này về máy chủ tiếp nhận. Ba mươi giây nữa, căn phòng này sẽ bị phong tỏa danh chính ngôn thuận theo Lệnh niêm phong hiện trường đặc biệt."

Tôi cắn chặt môi dưới, nuốt ngược ngụm máu tanh tưởi trào lên cuống họng. Cơn choáng váng do huyết áp tụt xuống mức 70/40 làm viền mắt tôi tối sầm lại.

"Một đứa trẻ sinh năm một chín tám chín..." Tôi nhếch mép, buông ra một nụ cười nhạt thếch nhuốm màu mỉa mai. "Làm thế nào có thể ký tên bảo trợ cho một dự án gen từ năm một chín tám lăm? Hả, Thượng tá?"

Thế Anh không trả lời ngay. Gã dùng tay trái thò vào túi áo ngực quân phục, rút ra một chiếc thẻ kim loại hình chữ nhật dập nổi logo hoa sen tám cánh vắt ngang thanh kiếm gãy, ném thẳng lên ngực tử thi bà Lê Thị Nguyệt đang nằm bất động trên giường bệnh.

"Năm một chín tám lăm, Dự án Sinh trắc học Đơn Dương được khởi động dưới vỏ bọc Trạm Nghiên cứu Nông hóa Thổ nhưỡng," Thế Anh nói, mắt vẫn găm vào khoảng không phía sau đầu tôi. "Nhưng toàn bộ danh sách đối tượng thử nghiệm và người bảo trợ pháp lý đều là danh tính chờ. Quy chế quản lý hồ sơ thời chiến của Bộ Nội vụ quy định: Khi người bảo trợ thực sự hy sinh hoặc bị xóa danh tính, một mã số công dân dự phòng từ kho lưu trữ sẽ được tự động gán đè lên vị trí đó sau ba mươi năm để phong tỏa quyền truy xuất. Cha của anh... cố Trung tá Trần Viết Hùng... là người đầu tiên đặt bút ký vào danh sách phân bổ ngân sách năm đó."

Lồng ngực tôi thắt lại như bị một bàn tay sắt bóp nghẹt. Một khoảnh khắc ngắn ngủi, chỉ chừng nửa nhịp thở, màng nhĩ tôi ù đi, âm thanh của máy theo dõi tim mạch và tiếng gió rít ngoài khung cửa sổ bệnh viện dường như biến mất hoàn toàn. Cha tôi. Người đàn ông đã nằm lại ở chiến trường biên giới Tây Nam với một tấm huân chương bằng đồng và một tấm ảnh đen trắng chụp vội. Tôi chưa từng nghĩ bóng ma của ông lại vắt ngang qua cái hố đen này.

Nhưng rồi tôi chớp mắt. Lớp vỏ bọc chai sạn lập tức đóng sầm lại. Tôi đưa tay gạt nhẹ nòng súng của Thế Anh sang một bên, giọng khô khốc:

"Nói chuyện gia phả sau đi. Giờ thì thu súng lại trước khi tôi bẻ gãy khớp cổ tay của anh."

Thế Anh từ từ hạ nòng súng xuống, gạt khóa an toàn trở lại vị trí đóng. Lê Hoàng cũng thu khẩu K59 về bao da ngang thắt lưng, nhưng ánh mắt cảnh giác vẫn không rời khỏi từng cử động của vị tân Trưởng phòng Cảnh sát Hình sự.

Hạ Băng bước vội tới. Cô quỳ một gối xuống nền gạch men lạnh ngắt, một tay đỡ lấy lồng ngực trái đang co rút của tôi, tay kia nhanh chóng rút chiếc kim tiêm mười tám gắn ống tiêm năm mươi mililít ra khỏi hộp cấp cứu dã chiến.

"Ngồi im," giọng Hạ Băng lạnh tanh, nhưng những đầu ngón tay mang găng cao su y tế của cô khẽ run lên khi chạm vào lớp băng thun ướt đẫm máu quanh xương sườn gãy của tôi. "Áp lực khoang màng phổi đang tăng vọt. Khí quản bị đẩy lệch sang phải gần hai mươi lăm độ. Nếu không giải áp ngay bây giờ, tim anh sẽ ngừng đập trước khi bước ra khỏi cửa phòng này."

Không đợi tôi đồng ý, Hạ Băng dùng ngón trỏ xác định khoang liên sườn số hai trên đường giữa đòn trái. Mũi kim lớn đâm thẳng qua da thịt, xuyên qua thành ngực với một tiếng "xực" sắc ngọt.

Một luồng khí kèm theo máu sủi bọt xì mạnh ra ngoài qua đốc kim, phả vào lớp găng tay cao su mùi kim loại nồng nặc xen lẫn mùi mô hoại tử. Cảm giác đau đớn dữ dội như có một lưỡi dao nung đỏ xoay tròn trong ngực làm tôi gập người lại, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng ken két.

"Huyết áp sáu mươi trên bốn mươi," Hạ Băng rút ống tiêm, gắn nhanh van một chiều tự chế bằng ngón tay găng cao su cắt vát vào đuôi kim, rồi ngẩng lên nhìn tôi. Gương mặt cô trắng bệch dưới ánh đèn, những giọt mồ hôi đọng lại trên sống mũi. "Anh chỉ có tối đa bốn mươi lăm phút trước khi máu đọng làm tắc hoàn toàn đường dẫn lưu này. Sau đó, không có phòng mổ với máy hút trung tâm, phổi trái của anh sẽ xẹp vĩnh viễn."

"Bốn mươi lăm phút là quá thừa để đi hết một con đường ở Sài Gòn lúc nửa đêm," tôi lẩm bẩm, gượng đứng thẳng dậy dựa lưng vào mép giường kim loại. Tôi chỉ tay về phía bức tường đá phía sau thi thể bà Nguyệt. "Ba chữ số bằng máu đó. Giải thích đi, Thế Anh."

Thế Anh nhìn dòng máu khô mang hình số "9 - 0 - 2" in hằn trên nền ga trải giường trắng toát. Ánh mắt gã sâu hoắm, như hai hố tro tàn sau một vụ cháy rừng.

"Hộp thư số chín trăm lẻ hai không nằm trong hệ thống bưu chính hay lưu trữ thông thường," Thế Anh nói nhanh, mắt liếc qua khe cửa phòng bệnh. "Đó là tên gọi của căn hầm lưu trữ hồ sơ mật thời chiến, xây dựng từ năm một chín sáu sáu dưới tầng hầm móng của Tòa nhà Quốc hội cũ trên đường Lê Duẩn. Sau năm một chín bảy lăm, nó được chuyển giao cho Cục Lưu trữ Bộ Nội vụ quản lý độc quyền. Căn hầm đó được thiết kế chịu được bom phá hạng nặng, cửa thép hai lớp khóa bằng cơ chế cơ học kết hợp mã quay ba tầng."

"Bên trong chứa cái gì?" Lê Hoàng hỏi, tay đã đặt sẵn lên chốt cửa phòng cách ly.

"Toàn bộ mười ba bộ hồ sơ gốc của đợt thử nghiệm gen năm một chín tám lăm, danh sách tài khoản rửa tiền ban đầu của Quỹ Viễn Đông, và quan trọng nhất..." Thế Anh dừng lại nửa nhịp, giọng chùng xuống như một khối chì rơi xuống đáy nước. "... cuộn băng ghi hình gốc dài bốn mươi lăm phút về cuộc họp kín đêm mười một tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn tại Đà Lạt. Cuộc họp đã quyết định số phận của Mái ấm Hướng Dương."

Một tiếng động cơ gầm rú xé toạc màn đêm tĩnh mịch từ dưới sân bệnh viện.

Tiếng còi hú của xe quân cảnh vang lên dồn dập, tiếp nối bởi tiếng rít lốp khét lẹt trên mặt đường nhựa ướt sũng. Tiếng loa phóng thanh cầm tay vang lên sắc lạnh:

"Yêu cầu toàn bộ cán bộ chiến sĩ tại Khoa Hồi sức Ngoại Thần kinh giữ nguyên vị trí. Bàn giao ngay đối tượng can phạm mang mã số KTS-00 cho Đoàn công tác của Viện Kiểm sát Trung ương."

"Bọn chúng tới rồi," Lê Hoàng nhìn qua rèm cửa sổ, nói ngắn gọn. "Ba xe bán tải đặc chủng, một xe bọc thép mười hai tấn chặn cổng số một. Lối thoát duy nhất là máng trượt rác thải y tế nối xuống tầng hầm khoa Dược."

"Ba Cháy đang đợi ở đâu?" Tôi quay sang hỏi Hoàng, tay giữ chặt bình áp lực âm bên hông.

"Cửa xả hầm Dược, hẻm phụ đường Nguyễn Oanh," Hoàng đáp, rút khẩu K59 ra khỏi bao, kéo trượt khóa nòng lên đạn lần thứ hai. "Xe tải Ba Cháy đã cài số sẵn."

Thế Anh bước tới bên cạnh tôi. Gã không rút súng nữa, mà đưa tay tháo chiếc đồng hồ cơ dây dù màu xanh rêu trên cổ tay trái ra, dúi mạnh vào lòng bàn tay tôi. Chiếc đồng hồ mang nhãn hiệu Poljot mạ crôm cũ kỹ, mặt kính xước dăm chằng chịt, nhưng ở nắp đáy phía sau có khắc chìm một dãy ký tự gồm sáu chữ số: `04-11-85`.

"Đây là chìa khóa cơ của tầng khóa thứ hai Hộp thư chín trăm lẻ hai," Thế Anh nói nhanh, giọng gắt gao như tiếng gió rít qua khe cửa sắt. "Tầng khóa thứ nhất là mã số ngày sinh của Mai Lan. Tầng khóa thứ ba... chỉ có người nắm giữ mẫu gen số mười ba mới mở được bằng dấu vân tay tươi. Thằng bé Đăng đã chết... nhưng mẫu máu của nó vẫn còn lưu trong lọ bảo quản trên ca-nô."

Tôi siết chặt chiếc đồng hồ kim loại trong lòng bàn tay. Cạnh thép sắc nhọn cứa vào da thịt tạo ra một cơn đau nhói buốt, nhưng nó giúp tôi giữ được sự tỉnh táo giữa cơn mê sảng của cơn sốt mất máu.

"Tại sao anh lại đưa thứ này cho tôi?" Tôi nhìn thẳng vào mắt Thế Anh. "Anh có thể tự mình đến đó."

Thế Anh khẽ nhếch mép, một nụ cười tàn nhẫn và trống rỗng xuất hiện trên gương mặt sương gió của gã.

"Bởi vì tôi không phải là người bảo trợ của thằng bé," gã nói, quay lưng về phía cánh cửa chính của phòng bệnh. "Và bởi vì... tôi là kẻ đã ký biên bản tiếp quản hiện trường đêm ngọn lửa bùng lên. Tôi nợ nó một mạng sống, Trần Vũ."

Cánh cửa gỗ ép của phòng cách ly 402 bất ngờ bị đạp tung với một tiếng "rầm" chát chúa.

Hai gã đàn ông mặc áo khoác gió sẫm màu, tay cầm tiểu liên báng gấp MP5 xông vào, nòng súng đen ngòm lập tức quét ngang căn phòng. Không một lời cảnh báo, không một thủ tục tố tụng.

Đoàng!

Phát đạn từ khẩu K54 của Đặng Thế Anh xé toạc không khí, găm thẳng vào giữa trán tên đi đầu. Gã sát thủ ngã bật ngửa ra sàn hành lang, khẩu tiểu liên văng ra xa tạo nên một vệt tia lửa chát chúa trên nền đá hoa cương. Tên thứ hai lập tức lùi lại sau bức tường chịu lực, quét một loạt đạn chín milimét xuyên qua cánh cửa gỗ, biến nó thành một đống dăm vụn.

"Đi ngay!" Thế Anh hét lên, khom người bắn trả hai phát đạn áp chế ra ngoài hành lang.

Lê Hoàng túm chặt lấy quai áo khoác của tôi, giật mạnh về phía góc phòng nơi có nắp máng trượt rác thải bằng tôn tráng kẽm. Hạ Băng ôm chặt bình dẫn lưu áp lực âm, lách người chui vào trước. Tôi cắn chặt răng, trườn theo sau cô ấy vào lòng ống kim loại tối om, trơn nhẫy dung dịch tẩy rửa và rác y tế.

Độ dốc của máng trượt cuốn chúng tôi lao xuống bóng tối ngột ngạt với tốc độ chóng mặt.

Mỗi một khúc cua gấp của đường ống kim loại là một cú va đập chí mạng vào mạn sườn trái của tôi. Cơn đau dữ dội như có hàng trăm mảnh thủy tinh cắm sâu vào phổi làm tôi không thở nổi, máu tươi từ chân kim màng phổi trào ra ướt đẫm cả vạt áo sơ mi. Tôi không kêu lên một tiếng nào. Trong cái thế giới ngầm này, kẻ nào phát ra tiếng rên rỉ là kẻ đầu tiên bị bỏ lại dưới đáy cống.

Bịch!

Chúng tôi rơi xuống một đống bao tải đựng bông băng và rác khử trùng tại tầng hầm khoa Dược. Mùi thuốc sát trùng, mùi formalin và mùi cống rãnh xộc thẳng vào mũi nồng nặc.

Ánh đèn pha vàng đục của chiếc xe tải bán tải biển số 49C lập tức bật sáng, rọi thẳng vào đống rác. Tiếng còi xe bíp ngắn hai nhịp.

Cửa sau thùng xe bật mở. Ba Cháy, người nồng nặc mùi dầu máy và khói thuốc rê, thò đôi bàn tay thô ráp như vỏ cây xà cừ kéo giật tôi lên sàn xe.

"Lên nhanh! Quân cảnh đang khóa van lối thoát hầm!" Ba Cháy gầm lên, đạp sập cánh cửa tôn sau xe rồi lao vút về buồng lái.

Chiếc xe bán tải rú ga điên cuồng, bánh sau quay tít trên mặt sàn xi măng trơn trượt trước khi chồm lên, đâm gãy thanh chắn barie bằng nhôm của cổng phụ khoa Dược, lao thẳng ra hẻm phụ đường Nguyễn Oanh trong màn mưa dầm tầm tã của Sài Gòn lúc hai giờ sáng.

Mưa tháng Bảy quất xối xả vào thành xe kim loại. Nước mưa hòa lẫn với nước cống đen ngòm từ các rãnh thoát nước ngập tràn lên mặt đường, bắn tung tóe thành những vệt bùn nhớp nháp.

Tôi nằm ngửa trên sàn xe, mắt nhìn trừng trừng lên trần thùng xe lạnh ngắt. Hạ Băng quỳ bên cạnh, nhanh chóng dùng gạc tiệt trùng ép chặt vào chân kim dẫn lưu trên ngực tôi, bàn tay cô lạnh ngắt như đá.

"Mạch một trăm mười, huyết áp tám mươi trên năm mươi," Hạ Băng nói, giọng cô khô khốc, át đi tiếng mưa gầm rú trên nóc xe. "Kim dẫn lưu bị nghẹt một nửa do máu đông. Tôi phải dùng dây thông nòng để chọc thông."

"Cứ làm đi," tôi thều thào, nhắm nghiền mắt lại. "Đừng bận tâm."

Một cảm giác nhói buốt chạy dọc từ ngực lên tận xương ức khi Hạ Băng luồn sợi dây thép mảnh qua nòng kim. Tiếng máu và bọt khí lại rít lên rin rít trong bình áp lực âm. Tôi mở mắt ra, nhìn sang Lê Hoàng đang cắm chiếc máy tính bảng quân dụng vào đầu phát sóng vệ tinh gắn trên vách xe.

"Tí Bo," Hoàng nói vào tai nghe bộ đàm. "Quét sơ đồ tầng ngầm Tòa nhà Quốc hội cũ trên đường Lê Duẩn. Chúng tôi cần lối vào không đi qua sảnh chính."

Giọng của Tí Bo vang lên qua loa ngoài máy tính bảng, xen lẫn tiếng lách cách gõ phím điên cuồng và tiếng quạt thông gió của tiệm net Quận 4:

"Anh Hoàng... Tòa nhà đó hiện đang được trùng tu giai đoạn hai. Toàn bộ khu vực mặt tiền đường Lê Duẩn và Pasteur đều bị rào tôn kín. Hệ thống camera giám sát của Sở Xây dựng bị mất tín hiệu từ mười phút trước. Có ít nhất hai tổ trinh sát mặc thường phục đang chốt ở cổng số ba đường Hàn Thuyên. Nhưng..."

"Nhưng sao?" Tôi gượng ngồi dậy, tựa lưng vào lốp xe dự phòng.

"Hệ thống thoát nước thải thời Pháp dưới chân móng tòa nhà nối thẳng ra van cống hộp số sáu trên đường Nguyễn Du, ngay sau lưng Nhà thờ Đức Bà," Tí Bo thở dốc qua tai nghe. "Cửa van đó bằng gang đúc năm một chín ba mươi, khóa bằng chốt xích cơ học. Nếu các anh chui từ cống lên, sẽ tiếp cận được cửa hầm Hộp thư chín trăm lẻ hai mà không kích hoạt cảm biến chuyển động của tầng bán hầm."

"Tốt," tôi nói, giọng đứt quãng. "Ba Cháy, rẽ vào đường Nguyễn Du. Đỗ xe cách ngã tư Pasteur năm mươi mét."

"Rõ," tiếng Ba Cháy đáp gọn qua ô cửa kính ngăn cách buồng lái.

Chiếc xe bán tải lướt qua những đại lộ vắng ngắt của trung tâm thành phố. Đèn đường vàng đục phản chiếu trên mặt đường ướt sũng như những vệt dầu loang. Những tòa cao ốc kính triệu đô ở Quận 1 sừng sững chọc thẳng vào bầu trời đêm mây đen vần vũ, đối lập hoàn toàn với mùi ẩm mốc, tanh tưởi của bùn đất và máu tươi đang bốc lên nồng nặc bên trong thùng xe.

Tôi thò tay vào túi áo trong, những đầu ngón tay chạm vào bề mặt kim loại lạnh lẽo của chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm và cuốn sổ tay bìa simili đã cháy xém một góc.

Một ký ức vụn vỡ hiện về trong đầu tôi. Năm tôi mười tuổi, cha tôi trở về từ một chuyến công tác dài ngày ở Tây Nguyên. Ông không mang theo quà bánh, chỉ có một cuốn sổ tay bìa da bọc kín trong túi ni-lông quân y và mùi khói thuốc Thăng Long khét lẹt bám trên chiếc áo khoác bạc màu. Đêm đó, ông ngồi một mình bên bàn làm việc dưới ngọn đèn dầu, cặm cụi viết những dòng số vô tận mà tôi không tài nào hiểu nổi. Ba tháng sau, ông nằm lại ở một cánh rừng biên giới không tên.

Tôi rút bao thuốc lá Thăng Long bẹp dúm trong túi quần ra. Bao thuốc ướt sũng nước mưa, chỉ còn trơ lại một điếu duy nhất bị gãy gập làm đôi ở phần thân. Tôi ngậm nửa điếu thuốc vào môi, thò tay tìm chiếc bật lửa.

Bật lửa rỗng gas, chỉ phát ra những tia lửa xẹt nhỏ màu xanh yếu ớt rồi tắt ngấm.

Tôi nhìn điếu thuốc gãy trên tay mình trong ba giây, rồi buông tay để nó rơi xuống vũng nước bẩn dưới sàn xe.

"Hút thuốc lúc này thì phổi anh sẽ nổ tung đấy," Hạ Băng nói, mắt nhìn thẳng vào mặt tôi. Cô không đưa bật lửa cho tôi, nhưng bàn tay đang giữ băng gạc trên ngực tôi khẽ siết nhẹ thêm một chút.

"Biết rồi," tôi càu nhàu, quay mặt nhìn ra khe hở của cửa thùng xe. "Tôi chỉ muốn kiểm tra xem phản xạ của mình còn dùng được không thôi."

Xe giảm tốc độ rồi tấp vào lề đường Nguyễn Du, dưới bóng râm rậm rạp của những hàng cây dầu cổ thụ. Tiếng mưa rơi lộp bộp trên tán lá nghe như tiếng đất rơi xuống nắp quan tài.

Lê Hoàng đẩy cửa thùng xe, nhảy xuống trước. Cậu ta cầm theo chiếc xà beng mini và đèn pin tác chiến bọc đầu cao su giảm quang. Tôi vịn vào vai Hoàng, bước thấp bước cao nhảy xuống mặt đường nhựa sũng nước. Cơn đau từ mạn sườn lại bùng lên như một nhát búa nện thẳng vào tim, làm mắt tôi hoa lên, đầu gối khuỵu xuống mặt đường. Hạ Băng lập tức đỡ lấy cánh tay phải của tôi, ghì chặt lấy người tôi để giữ thăng bằng.

Chúng tôi băng qua dải phân cách, tiến về phía miệng cống ngầm nằm sau hàng rào tôn công trường.

Miệng cống số sáu phủ đầy lá cây mục và rác thải đô thị. Nắp cống bằng gang đúc chữ nổi tiếng Pháp đã bị rỉ sét ăn mòn nham nhở. Hoàng cắm mũi xà beng vào khe hở của nắp gang, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể bẩy mạnh một nhịp.

Cạch!

Một tiếng kim loại gãy vang lên khô khốc. Sợi xích sắt mục nát đứt lìa. Mùi khí metan nồng nặc quyện với mùi bùn thối rữa dưới lòng cống bốc lên xộc vào mũi làm tôi suýt nôn khan.

Hoàng trườn xuống trước, soi đèn pin dẫn đường. Tôi và Hạ Băng bám theo sau, tụt xuống lòng cống sâu hơn hai mét. Nước cống đen ngòm ngập tới ngang bắp chân, lạnh buốt và nhớp nháp.

Chúng tôi lội ngược dòng nước cống khoảng ba mươi mét thì chạm phải một bức tường đá chẻ dày hơn nửa mét. Trên mặt đá, một cánh cửa sắt kiên cố sơn màu xanh rêu thời chiến tranh hiện ra, chìm sâu trong hốc tường móng của Tòa nhà Quốc hội cũ. Trên cánh cửa có gắn ba ổ khóa xoay cơ học bằng đồng thau nặng trịch, phủ đầy rêu mốc và mạng nhện.

Ở chính giữa cánh cửa, một tấm biển bằng đồng dập nổi dòng chữ đã ố xanh vì thời gian:

`TỔNG KHO HỒ SƠ BỘ NỘI VỤ - KHU VỰC PHÍA NAM // HỘP THƯ SỐ: 902 // TUYỆT MẬT`

"Đúng là nơi này rồi," Lê Hoàng thì thào, đưa đèn pin rọi vào cụm khóa ba tầng.

Tầng khóa thứ nhất là một vòng quay số La Mã. Tôi dùng những đầu ngón tay tê dại lau sạch lớp rêu xanh bám trên mặt số, xoay dãy số về ngày sinh của bảo mẫu Nguyễn Mai Lan: `1-2-1-1-8-0`.

Cạch.

Một tiếng lẫy thép bên trong cánh cửa bật mở giòn giã.

Tôi rút chiếc đồng hồ Poljot của Đặng Thế Anh đưa ra, soi vào hàng chữ số khắc ở nắp đáy: `0-4-1-1-8-5`. Tôi tra núm xoay của chiếc đồng hồ vào hốc khóa tầng thứ hai, vặn ngược chiều kim đồng hồ đúng ba vòng rưỡi cho đến khi một tiếng "khục" trầm đục vang lên từ sâu bên trong bức tường đá.

Tầng khóa thứ hai đã được giải mã.

Chỉ còn lại tầng khóa thứ ba. Đó không phải là một ổ khóa số, mà là một khay quét sinh trắc học cơ học đời đầu, được bọc kín dưới một lớp nắp kính dày chống đạn. Bên trong khay là một kim chọc hút mẫu mô và một cảm biến phản ứng sinh hóa.

"Khóa sinh trắc học máu tươi..." Hạ Băng soi đèn vào khe kim loại, giọng cô chùng xuống đầy ớn lạnh. "Nó yêu cầu mẫu máu có đột biến mất đoạn ngắn trên nhiễm sắc thể số chín của dòng họ Nguyễn ở Đơn Dương. Đăng... Đăng đã chết rồi. Mẫu máu của cậu ấy..."

"Mẫu máu của Đăng không ở đây," tôi nói, thở dốc từng cơn, mồ hôi chảy ròng ròng xuống cằm.

Tôi thò tay vào túi áo ngực, rút ra chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm bị cháy xém một góc. Dưới ánh đèn pin của Hoàng, ở chân ghim kim loại của chiếc kẹp tóc vẫn còn lưu lại một vệt máu khô thẫm màu nâu đen — vệt máu của bảo mẫu Nguyễn Mai Lan khi cô dùng chiếc kẹp tóc này che chắn cho đứa trẻ sơ sinh đêm mười một tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn.

Tôi đưa chiếc kẹp tóc cho Hạ Băng: "Dùng nước muối sinh lý hòa tan vết máu khô này. Bơm vào khay nhận diện."

Hạ Băng lập tức hiểu ý. Cô rút ống nước muối sinh lý vô trùng trong túi cấp cứu, nhỏ từng giọt cẩn thận lên chân chiếc kẹp tóc nhôm, dùng đầu kim cạo nhẹ lớp máu khô rồi hút toàn bộ dung dịch màu hồng nhạt vào ống tiêm. Cô cắm mũi kim vào khe nhận diện của tầng khóa thứ ba, đẩy pít-tông dứt khoát.

Giọt dung dịch máu từ từ ngấm qua màng lọc sinh hóa của ổ khóa cổ xưa.

Một giây.

Hai giây.

Ba giây.

Không gian dưới đáy cống ngầm im phăng phắc, chỉ còn lại tiếng nước nhỏ giọt tong tòng từ trần đá và tiếng thở dốc khó nhọc của tôi.

Két... rắc!

Một chuỗi bánh răng cơ học khổng lồ bên trong cánh cửa sắt bắt đầu chuyển động. Âm thanh kim loại nghiến vào nhau phát ra những tiếng rít chói tai. Cánh cửa thép dày mười lăm phân từ từ hé mở ra một khoảng trống rộng chừng nửa mét, phả ra một luồng không khí khô khốc, lạnh ngắt và nồng nặc mùi giấy mục, mùi sáp niêm phong và mùi chì của mực in thời chiến.

Hoàng đẩy nhẹ cánh cửa, cầm súng bước vào trước. Tôi và Hạ Băng lách người theo sau.

Bên trong căn hầm rộng chưa đầy hai mươi mét vuông. Xung quanh bốn bức tường đá là những kệ sắt ba tầng xếp đầy những hộp kim loại bọc da dù chống ẩm. Ở chính giữa căn phòng, đặt trên một chiếc bàn gỗ lim đen bóng, là một chiếc hộp sắt quân dụng sơn màu cỏ úa mang số hiệu `902-B` được niêm phong bằng ba con dấu sáp đỏ tươi hình hoa sen tám cánh.

Lê Hoàng bước tới, dùng lư

0