Chương 102: Người Mang Khuôn Mặt Mượn
Gió biển ở phao số không quất vào mặt rát buốt như bị xát muối hột. Vị mặn đắng ngắt của bọt sóng quyện với mùi dầu diezen cháy dở từ tàu PTSC-08 và thứ mùi tanh nồng của máu tươi trong cuống họng tôi tạo thành một hỗn hợp lợm giọng.
Morphine đang rút nhanh như nước triều rút khỏi bãi bồi Cần Giờ.
Cơn sốc đau bắt đầu trỗi dậy từ khung sườn bên trái. Từng đầu xương sườn số sáu gãy lìa cọ ken két vào màng phổi tạng theo mỗi nhịp thở ngắn, buốt nhói như có ai cầm mảnh chai vỡ cạo dọc theo xương sườn. Bình dẫn lưu ba ngăn treo lủng lẳng bên hông tôi sủi bọt ùng ục, từng dòng dịch hồng lợt trào ngược qua khớp nối silicon mỗi lần ca-nô dập xuống mặt sóng.
Tôi bấm nút tắt điện thoại trên tay. Giọng nói của Thượng tá Đặng Thế Anh từ Phòng Trực ban Chỉ huy Công an thành phố vừa tắt ngấm, nhưng câu nói cuối cùng của hắn vẫn như một phát đạn giảm thanh găm thẳng vào màng nhĩ.
"Người đàn bà ở Viện 175... không phải Mai Lan."
Lê Hoàng đứng sừng sững bên mạn thuyền, một tay bám chặt vào khung thép buồng lái, tay kia vẫn giữ chặt khẩu K59 nòng còn ám khói. Gió giật tung vạt áo khoác dã chiến của gã, để lộ vết máu khô bết lại quanh thắt lưng. Đôi mắt gã nhìn chằm chằm vào chiếc phong bì niêm phong sáp đỏ hình thanh kiếm gãy vắt ngang hoa sen tám cánh đang nằm trên đùi tôi.
Bên trong là thẻ bài quân nhân 041-882-KT thứ hai và Biên bản bàn giao mẫu sinh phẩm gốc ngày 11 tháng 11 năm 2004 mang chữ ký tươi của cha gã, Thượng tá Lê Văn Bản, cùng Thiếu úy Đặng Thế Anh hai mươi năm trước.
"Anh nghe rõ Thế Anh nói gì không?" Lê Hoàng lên tiếng, giọng gã bị tiếng gầm của hai khối động cơ 1.200 mã lực nuốt chửng một nửa. "Nó nói người ở 175 là ai?"
"Hắn không nói." Tôi cắn chặt môi dưới, vị tanh rỉ ra đầu lưỡi giúp tôi giữ lại chút tỉnh táo cuối cùng trước khi cơn choáng hạ huyết áp kéo sập mí mắt. "Hắn chỉ bảo chúng ta phải có mặt ở phòng hồi sức đặc biệt tầng bốn trong vòng bốn mươi phút nữa. Nếu trễ, người ta sẽ rút ống thở."
Hạ Băng ngồi thụp dưới sàn ca-nô, hai đầu gối quỳ trên lớp đệm cao su ướt sũng. Bàn tay đeo găng y tế của cô thuần thục kiểm tra chân ống dẫn lưu bên hông tôi. Mũi chỉ lụa số hai đã rách toạc một nửa, mép da quanh vết mổ bầm tím và rỉ ra thứ dịch vàng sẫm. Cô rút trong túi cứu thương dã chiến ra một cuộn băng dính phẫu thuật bản lớn, dán đè ba lớp lên mạn sườn tôi, siết mạnh đến mức tôi nghe tiếng khớp sườn mình kêu răng rắc.
"Huyết áp bảy mươi trên bốn mươi," Hạ Băng ngẩng lên, khuôn mặt nhợt nhạt dưới ánh đèn pha hàng hải, tóc bết chặt vào trán. "Ống dẫn lưu bị nghẹt bọt khí. Khoang màng phổi trái của anh đang xẹp lại. Anh không còn hai mươi phút nữa đâu, Trần Vũ. Anh chỉ có đúng mười lăm phút trước khi tràn khí màng phổi áp lực ép lệch tâm thất phải. Đến lúc đó, tim anh sẽ ngừng đập."
"Mười lăm phút là đủ để chạy từ phà Bình Khánh về Gò Vấp nếu không vướng đèn đỏ," tôi mỉm cười nhạt thếch, hơi thở khè khè như ống bễ rách.
"Đây là đất liền, không phải phim hành động," Hạ Băng lạnh lùng cắt ngang, giọng cô đanh lại như dao mổ chạm vào khay inox. "Tôi không thể chọc kim giải áp lần thứ ba trên chiếc ca-nô đang nhảy sóng với vận tốc bốn mươi hải lý này. Anh sẽ chết vì tràn máu trung thất trước khi nhìn thấy cổng Bệnh viện 175."
"Tôi chưa chết được," tôi nói, tay lần vào túi áo ngực.
Đầu ngón tay tôi chạm vào bề mặt kim loại lạnh ngắt của chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm cháy xém một góc. Trong ba giây, lồng ngực tôi thắt nghẹn lại. Không phải vì xương sườn gãy, mà là vì một khoảng trống rỗng toác mở ra trong đầu. Ba năm nay, tôi sống trong vũng bùn của sự ân hận, tin rằng Tuấn chết vì phán đoán sai lầm của tôi, tin rằng bảo mẫu Mai Lan đã hóa thành tro bụi dưới căn hầm Mái ấm Hướng Dương, rồi lại tin cô ấy đang nằm câm lặng trên giường bệnh với vết sẹo chữ V trên ngón tay. Nhưng nếu tất cả những thứ đó chỉ là một chuỗi hình nộm được dựng lên bởi những kẻ mặc vest và mang quân hàm, thì máu của Tuấn đã đổ xuống vì cái gì?
Tôi rút tay ra khỏi túi, quẹt vệt máu bầm trên khóe miệng vào cổ tay áo sơ mi đã rách bươm, rồi quay sang người trung úy biên phòng đang ghì chặt bánh lái:
"Cắt qua luồng Tắc Suất. Đâm thẳng vào cầu bến Cảng cá Cần Thạnh. Xe của Ba Cháy đang đợi ở đó."
Chiếc ca-nô tuần tra BP-2804 xé toạc màn sương mù dày đặc của luồng hàng hải Soài Rạp, chồm lên những con sóng bạc đầu rồi lao vút về phía ánh đèn vàng đục của bờ biển Cần Giờ.
Cảng cá Cần Thạnh lúc sáu giờ bốn mươi lăm sáng mù mịt mùi cá ươn, mùi dầu máy thải và khói than tổ ong từ những quán hủ tiếu gõ ven bến. Chiếc bán tải Ford Ranger đen trùi trũi của Ba Cháy nổ máy giòn giã dưới chân cầu tàu, đèn gầm bật sáng rọi thẳng xuống những vũng nước mưa đục ngầu.
Ba Cháy đứng dựa lưng vào thùng xe, chiếc áo mưa cánh dơi rách tả tơi sũng nước, miệng ngậm điếu thuốc rê cháy dở xì xèo. Nhìn thấy chúng tôi nhảy từ mạn ca-nô lên bậc bê tông trơn trượt, gã không hỏi một câu. Gã đạp tung cửa sau, vứt phịch một can dầu sơ-cua xuống sàn xe rồi nghiêng đầu:
"Lên xe. Đường Rừng Sác thông thoáng. Nhưng qua phà Bình Khánh là kẹt cứng. Đội Cảnh sát Giao thông Hàng Xanh đang lập chốt kiểm tra nồng độ cồn và xe tải ở chân cầu Sài Gòn theo lệnh đặc biệt từ sáng sớm."
"Kệ mẹ bọn chúng," Lê Hoàng gầm gừ, đẩy tôi vào ghế sau rồi nhảy tót lên ghế phụ, khẩu K59 đã lên đạn đặt ngay trên đùi. "Bật còi ưu tiên. Bất kỳ ai chặn đầu, tôi chịu trách nhiệm."
Chiếc Ranger chồm lên, bốn bánh xe bám chặt vào mặt đường nhựa ẩm ướt của Đại lộ Rừng Sác. Tốc độ leo lên chín mươi, rồi một trăm mười cây số một giờ. Rừng đước hai bên đường lướt qua vun vút như những bóng ma đen kịt trong mưa dầm tháng Bảy.
Hạ Băng ngồi cạnh tôi ở băng ghế sau, một tay giữ chặt bình áp lực âm, tay kia cầm ống tiêm thủy tinh chứa dung dịch không màu. Cô không dùng kim tiêm tĩnh mạch thông thường mà cắm thẳng mũi kim số mười tám vào đường truyền trung tâm đặt ở cổ tôi.
Cảm giác buốt lạnh chạy dọc từ xương quai xanh xuống lồng ngực. Cơn đau không biến mất, nó chỉ bị bọc lại trong một lớp sương mù dày đặc của hóa chất. Đầu óc tôi nặng trĩu, nhưng từng khớp giác quan lại căng ra như dây đàn.
"Tí Bo," tôi bấm phím gọi nhanh trên chiếc Nokia dán băng keo.
"Em nghe đây anh Vũ!" Tiếng gõ phím rào rào qua loa thoại, lẫn trong tiếng còi hụ của xe cứu thương từ phía đầu cầu Calmette. "Hệ thống máy chủ Bệnh viện Quân y 175 bị khóa ngoài từ năm phút trước. Thượng tá Đặng Thế Anh đích thân ký lệnh phong tỏa Khoa Hồi sức Ngoại Thần kinh. Hai tiểu đội Vệ binh Quân khu 7 đang gác cổng số ba đường Phạm Ngũ Lão. Không một ai được ra vào nếu không có thẻ tác chiến màu đỏ."
"Kiểm tra hồ sơ bệnh án chuyển viện từ Trại giam K3 Xuân Lộc sáng nay," tôi thở dốc, từng chữ phát ra đều kéo theo một tiếng rít từ kẽ sườn. "Tên bệnh nhân đăng ký ban đầu là gì?"
"Không có tên, anh Vũ. Mã tiếp nhận chỉ ghi: 'KTS-00 - Đối tượng giám hộ đặc biệt theo Chỉ thị 04'. Nhưng có một điểm cực kỳ bất thường. Em vừa quét lậu vào dữ liệu quét vân tay sinh trắc học lúc nhập viện lúc sáu giờ mười lăm... Dấu vân tay ngón trỏ phải có sẹo chữ V thực sự khớp với tàng thư căn cước của bảo mẫu Nguyễn Mai Lan năm 2004."
"Khớp?" Lê Hoàng ngoái đầu lại, mắt gã hằn lên những tia máu đỏ. "Nếu khớp thì tại sao Thế Anh lại khẳng định người đó là giả?"
"Em không biết," Tí Bo ngập ngừng, tiếng thở của thằng nhóc mười chín tuổi nghe nghẹn lại. "Nhưng độ sâu của rãnh vân tay ở ngón trỏ... nó nông hơn bình thường ba mươi phần trăm. Giống như... giống như một lớp biểu bì mới được tái tạo chưa đầy hai năm."
Tôi cúp máy, nhìn ra ngoài cửa kính nhòe nước. Thành phố hiện ra sau lớp sương mù của cây cầu Phú Mỹ. Những tòa cao ốc chọc trời của Quận 1 và Quận 2 dựng đứng như những khối bia mộ bằng kính và thép lạnh ngắt, đối lập hoàn toàn với những mái tôn rỉ sét, xập xệ của khu ổ chuột ven kênh Tàu Hủ phía bên dưới. Cái thành phố này luôn như vậy: người ta xây những tầng tháp triệu đô để nhìn xuống những con hẻm ngập nước cống, và dùng những tấm huân chương lấp lánh để che đậy xác chết của những đứa trẻ bị rút tủy dưới chân đồi cao nguyên.
Tám giờ kém mười lăm.
Chiếc xe bán tải húc tung thanh chắn bãi giữ xe cổng phụ Bệnh viện Quân y 175 trên đường Nguyễn Kiệm. Ba Cháy đánh một cú rê bánh điệu nghệ, đuôi xe quệt vào cột bê tông cứu hỏa làm tóe lên một chùm tia lửa sáng lóa trước sảnh Khoa Cấp cứu Chấn thương Chỉnh hình.
Bốn người lính Cảnh sát Quân sự mang tiểu liên báng gấp lập tức giương súng, nhưng Lê Hoàng đã đạp tung cửa xe, giơ cao tấm thẻ Trưởng phòng Trọng án đỏ rực cùng tờ Lệnh phục hồi tư cách đặc biệt của Viện Kiểm sát Tối cao.
"Tránh ra! Nhiệm vụ khẩn cấp của Ban Chỉ đạo Trung ương!"
Không ai dám nổ súng. Chúng tôi lao qua cánh cửa kính tự động sực nồng mùi thuốc tẩy clo và cồn y tế.
Hành lang tầng bốn Khoa Hồi sức Ngoại vắng lặng đến rợn người. Ánh đèn tuýp trắng bệch hắt xuống sàn gạch men loang lổ những vệt bánh xe cáng thương còn ướt. Cuối hành lang, trước cánh cửa kim loại nặng nề của Phòng Cách ly Áp lực Âm số 402, một bóng người cao lớn đang đứng lặng lẽ.
Thượng tá Đặng Thế Anh.
Hắn vẫn mặc bộ cảnh phục không đeo phù hiệu, chiếc bật lửa Zippo bằng đồng khắc hình hoa dã quỳ tám cánh xoay tròn giữa các ngón tay gầy guộc. Nghe tiếng bước chân lẹp xẹp của chúng tôi, hắn không quay đầu lại, chỉ nhìn chằm chằm qua ô kính tròn quan sát buồng bệnh.
"Các anh đến muộn ba phút," Thế Anh nói, giọng hắn trầm đục, không mang chút biểu cảm nào. "Dung dịch ức chế thần kinh trung ương sắp làm tê liệt hoàn toàn vỏ não của bà ta."
"Mày đang chơi trò gì, Thế Anh?" Lê Hoàng bước tới, mũi súng K59 chĩa thẳng vào thắt lưng viên Thượng tá. "Tại sao mày ký biên bản bàn giao mẫu tủy năm 2004? Tại sao người nằm trong kia lại không phải là dì Lan của tao?"
Thế Anh từ từ quay lại. Đôi mắt hắn trũng sâu, quầng thâm đen sì như người mất ngủ nhiều tuần lễ. Hắn nhìn khẩu súng của Hoàng, rồi dời ánh mắt xuống lồng ngực đang rò khí của tôi.
"Vào mà tự nhìn đi, Trần Vũ," hắn nói, giọng lạnh tanh như thép nguội. "Anh là dân trọng án, anh biết cách đọc một cái xác còn thở."
Hạ Băng đẩy mạnh cánh cửa cách ly áp lực âm. Tiếng rít cơ học của hệ thống hút khí chân không vang lên khô khốc.
Căn phòng rộng chưa đầy mười lăm mét vuông, lạnh buốt. Ở giữa phòng, người phụ nữ nằm bất động trên chiếc giường điều khiển điện tử, chằng chịt các loại dây nhợ y tế. Máy thở cơ học phập phồng bơm từng khối dưỡng khí vào khí quản qua một ống mở khí quản ở cổ. Máy theo dõi điện tim gắn trên vách tường phát ra những tiếng bíp rời rạc, báo nhịp tim đang tụt dần: bốn mươi hai, bốn mươi mốt...
Tôi lê bước chân nặng như chì tiến lại gần đầu giường.
Người phụ nữ trạc năm mươi tuổi, khuôn mặt gầy guộc, hốc hác, làn da trắng bợt như sáp nến. Đỉnh đầu bà ta có hai vết sẹo tròn lõm sâu—dấu tích của kỹ thuật khoan sọ giảm áp thời chiến. Trên khóe mắt trái có một nốt ruồi son mờ nhạt, thoạt nhìn giống hệt bức ảnh đen trắng năm 2004 của bảo mẫu Mai Lan mà tôi đã nhìn hàng trăm lần.
Hạ Băng không chần chừ. Cô bước tới, cầm lấy bàn tay phải của người phụ nữ, bật chiếc đèn soi dấu vết sinh học ánh sáng xanh bước sóng 450nm.
Dưới ánh sáng chuyên dụng, mu bàn tay và các ngón tay hiện rõ cấu trúc biểu bì. Ở đốt thứ hai của ngón trỏ, một vết sẹo hình chữ V dài khoảng một xăng-ti-mét nổi rõ.
"Vết sẹo chữ V," Lê Hoàng thì thầm, giọng gã run lên bần bật. "Đúng là ngón tay của dì Lan. Hồi nhỏ tao từng thấy dì dùng dao gọt khoai mì bị trượt tay cứa vào đúng chỗ này..."
"Nhìn kỹ lại đi, Hoàng," tôi ngắt lời, giọng khàn đặc.
Tôi dùng ngón tay cái miết nhẹ lên mép vết sẹo. Da ở vùng này không có tính đàn hồi tự nhiên. Dưới lớp đèn xanh, mép vết sẹo phát quang một dải màu trắng đục—dấu hiệu không thể chối cãi của chất kết dính sinh học cyanoacrylate dùng trong phẫu thuật thẩm mỹ tái tạo.
"Vết sẹo này được ghép da cách đây chưa đầy hai năm," tôi nói, từng chữ rớt xuống sàn nhà lạnh ngắt. "Ai đó đã dùng vạt da tự thân từ vùng đùi, rạch một đường hình chữ V rồi khâu bằng chỉ vi phẫu số mười-không để tạo sẹo giả. Đường khâu tinh xảo đến mức mắt thường không thể phát hiện, nhưng nó không có các thụ thể thần kinh cảm giác."
Hạ Băng lập tức lật mí mắt người phụ nữ lên. Đồng tử giãn to, mất hoàn toàn phản xạ ánh sáng. Cô lấy kẹp phẫu thuật nhẹ nhàng vạch môi trên của bệnh nhân.
"Cung hàm số hai và số ba đã bị nhổ bỏ toàn bộ răng hàm và thay bằng cầu răng sứ titan," Hạ Băng nói nhanh, giọng chuyên môn lạnh lùng. "Bảo mẫu Mai Lan theo hồ sơ nha khoa năm 2004 có một chiếc răng khểnh bên hàm trên bên trái và mòn mặt nhai răng số sáu do thói quen nhai một bên. Người phụ nữ này... có cấu trúc xương hàm vuông, xương gò má cao đặc trưng của người vùng duyên hải miền Trung, hoàn toàn không phải nhân trắc học của phụ nữ gốc Đơn Dương."
"Vậy bà ta là ai?" Lê Hoàng gầm lên, bàn tay nắm chặt báng súng đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. "Tại sao lại có người mang mẫu gen, mang vết sẹo và nằm trong buồng bảo vệ của Cục Tình báo Kỹ thuật suốt hai mươi năm qua?"
"Bà ta là Lê Thị Nguyệt," giọng Đặng Thế Anh vang lên từ ngưỡng cửa buồng bệnh. Hắn đứng dựa vào khung kim loại, hai tay đút sâu vào túi quần. "Cựu y tá trưởng của Trạm Y tế Dã chiến Đơn Dương năm 2004. Người đã trực tiếp đứng cạnh bàn mổ, cầm khay inox tiếp nhận mười hai mẫu tủy sống của lũ trẻ Mái ấm Hướng Dương từ tay viên trung úy kỹ thuật mang số hiệu 041-882-KT."
Căn phòng rơi vào một khoảng lặng chết chóc. Chỉ còn tiếng máy thở cơ học rít lên từng hồi đều đặn và tiếng máy theo dõi nhịp tim đang tụt dần xuống ba mươi tám.
"Sau đêm mười một tháng mười một năm đó," Thế Anh tiếp tục, mắt hắn nhìn vào khoảng không vô định, "cha tôi—Tướng Phạm Gia Bảo—biết rằng toàn bộ những người có mặt tại trạm y tế sẽ bị thanh trừng để bịt đầu mối. Ông ấy đã bí mật tráo đổi thân phận của bà Nguyệt, đưa bà ta vào Trại giam K3 dưới mã số KTS-00 để bảo vệ một nhân chứng sống duy nhất biết rõ quy trình trích xuất sinh phẩm. Nhưng Tạ Đình Bách và Nguyễn Khắc Thắng đã đi trước một bước. Chúng dùng sốc điện và thuốc an thần liều cao hủy hoại thùy trán của bà ta, biến bà ta thành một kẻ mất trí nhớ vô thức."
"Còn bảo mẫu Mai Lan thật sự?" Tôi nhìn thẳng vào mắt Thế Anh, lồng ngực tôi nhói lên một cơn đau xé toạc. "Mai Lan ở đâu?"
Thế Anh không trả lời ngay. Hắn rút từ trong túi áo ra một chiếc hộp nhựa nhỏ màu đen, đặt lên mặt bàn kim loại cạnh giường bệnh. Hắn mở nắp hộp.
Bên trong là một ống nghiệm chứa một mẫu đất đỏ khô khốc, lẫn với vài mẩu xương vụn đã bị than hóa hoàn toàn, cùng một chiếc nhẫn bạc nhỏ xíu bị méo mó, trên mặt nhẫn khắc hình một bông hoa dã quỳ đã mờ nhạt.
"Đêm mười một tháng mười một năm 2004," Thế Anh nói, giọng hắn chùng xuống, khàn đục như tiếng đá cọ vào nhau. "Mai Lan chưa từng bước chân lên chiếc xe U-oát nào cả. Sau khi phát hiện âm mưu trích xuất tủy của lũ trẻ, cô ấy đã quay lại căn hầm đá chẻ để cố gắng mở van xả nước cứu những đứa bé còn kẹt lại. Nhưng van Danfoss đã bị Phạm Quang Đạt khóa chết. Ngọn lửa từ năm ngàn lít dầu diezen đã thiêu rụi cô ấy cùng với đứa trẻ thứ mười một ngay tại ngưỡng cửa hầm."
Tôi chết lặng.
Bàn tay tôi vô thức siết chặt chiếc kẹp tóc nhôm trong túi áo ngực. Chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm này... Tuấn đã mang theo nó suốt mười mấy năm, tôi đã mang theo nó qua hàng chục hiện trường đẫm máu, qua những làn đạn và những cái bẫy chết người ở Cần Giờ, ở Đa Phước, ở hầm Bát Quái... Tất cả chỉ để đi tìm một người phụ nữ đã tan thành tro bụi từ hai mươi năm trước.
Một giọt mồ hôi lạnh chảy dài từ thái dương tôi, rớt xuống mu bàn tay nhăn nheo của người đàn bà đang hấp hối trên giường.
"Thế còn đứa trẻ thứ mười ba?" Tôi ngẩng lên, nhìn chằm chằm vào vết sẹo hình tam giác sau gáy Thế Anh. "Mày là ai, Đặng Thế Anh?"
Thế Anh khẽ nhếch mép, một nụ cười cay đắng và tàn nhẫn thoáng qua trên khuôn mặt góc cạnh của hắn rồi biến mất ngay lập tức.
"Tôi đã nói rồi, đứa trẻ thứ mười ba thực sự đã chết trên đèo Ngoạn Mục," Thế Anh lạnh lùng nói. "Tôi chỉ là một đứa trẻ mồ côi vô danh ở Gia Lai được Tướng Bảo nhặt về để đóng vai một quân cờ thế mạng. Nhưng người đàn bà đang nằm đây... trước khi bị tiêm mũi kali clorua triệt hạ vào sáng nay ở K3, bà ta đã tỉnh lại trong ba phút."
Hạ Băng giật mình, ngón tay cô dừng lại trên máy đo nhịp tim: "Bà ta đã nói gì?"
"Bà ta không nói được vì khí quản đã bị cắt đứt," Thế Anh bước tới cạnh giường, rút chiếc máy tính bảng quân dụng ra, bật một đoạn video ngắn mười giây quay lại hiện trường buồng bệnh K3 lúc năm giờ sáng.
Trên màn hình nhòe nhoẹt ánh đèn vàng, người phụ nữ gầy guộc dùng ngón tay run rẩy nhúng vào vũng máu tươi rỉ ra từ vết mổ dẫn lưu, vạch lên mặt ga trải giường ba chữ số nguệch ngoạc:
"9 - 0 - 2."
"Chín không hai?" Lê Hoàng nhíu mày. "Đó là số hiệu chuyến bay vận tải AFR-902 mà chúng ta vừa chặn ở Tân Sơn Nhất sáng nay?"
"Không," tôi lắc đầu, cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng khi từng mảnh ghép cuối cùng va đập vào nhau trong đầu tôi. "AFR-902 chỉ là một bình phong ngoại giao. Chín không hai... là số hiệu của Hộp thư Lưu trữ Tuyệt mật tại Tổng kho Hồ sơ Lưu trữ Bộ Nội vụ thời chiến tranh, đặt dưới tầng hầm Tòa nhà Quốc hội cũ."
Đúng lúc đó, máy theo dõi điện tim trên vách tường phát ra một tiếng rít dài đinh tai nhức óc.
Tít... tít... tttttttttttt—
Đường biểu diễn điện tâm đồ trên màn hình phẳng lì thành một đường chân trời màu xanh lá cây chết chóc. Nhịp tim về số không.
Hạ Băng lập tức đặt hai tay lên lồng ngực người phụ nữ định ép tim, nhưng tôi đưa bàn tay trái còn quấn băng trắng giữ chặt lấy cổ tay cô. Tôi lắc đầu.
Bà Nguyệt đã chết. Nhân chứng sống cuối cùng của Trạm Y tế Dã chiến Đơn Dương đã trút hơi thở cuối cùng, mang theo toàn bộ những bí mật đen tối của đêm mười một tháng mười một năm 2004 xuống lòng đất.
Nhưng trò chơi vẫn chưa kết thúc.
Chiếc điện thoại Nokia cũ kỹ trong túi quần tôi bỗng rung lên bần bật. Màn hình đơn sắc chớp sáng trong ánh đèn trắng lạnh của nhà xác.
Một tin nhắn MMS vừa được gửi đến từ một đầu số cố định của Cục Lưu trữ Quốc gia tại Hà Nội.
Tôi mở tin nhắn. Trên màn hình hiện lên hình ảnh một trang tài liệu lưu trữ quân sự đã ố vàng, góc trên có đóng dấu đỏ 'TUYỆT MẬT - THỜI HẠN BẢO QUẢN VĨNH VIỄN', bên dưới là dòng chữ đánh máy chữ cơ học từ năm 1985:
'DANH SÁCH MƯỜI BA ĐỨA TRẺ ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH THỬ NGHIỆM GEN ĐẶC BIỆT TẠI VÙNG QUẶNG ĐƠN DƯƠNG - MẪU SỐ 13: NGUYỄN VĂN ĐEN. NGƯỜI BẢO TRỢ DUY NHẤT: TRẦN VŨ.'
Tôi quên thở nửa nhịp.
Ngón tay tôi cứng đờ trên bàn phím nhựa. Tên của tôi... nằm trong danh sách bảo trợ thử nghiệm sinh học từ ba mươi chín năm trước, khi tôi thậm chí còn chưa bước chân vào trường Cảnh sát.
Phía sau lưng tôi, tiếng chốt súng của Đặng Thế Anh vang lên một tiếng 'cạch' dứt khoát trong khoảng lặng nghẹt thở của căn phòng cách ly.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.