Chương 81: Chén Trà Lúc Tám Giờ
Mùi thuốc sát trùng iodine bốc lên từ vạt áo sơ mi của tôi, lẫn với mùi khói xe ngột ngạt của đường Phan Đăng Lưu giờ tan tầm.
Đèn pha xe máy quét qua kính chắn gió từng đợt vàng vọt. Mưa tháng Bảy rỉ rả không ngớt, mặt đường nhựa nhão nhoét, trơn như mỡ. Nước cống từ mấy miệng hố ga trào ngược lên mép vỉa hè, sủi bọt xám xịt.
Tôi ngồi ở ghế phụ chiếc Ford Ranger, tay phải ghì chặt lấy mạn sườn trái. Dưới lớp băng thun quấn ba vòng siết cứng ngực, ống dẫn lưu silicon vẫn cọ vào màng phổi tạng theo từng nhịp thở ngắn. Mỗi lần chiếc xe giằng qua một ổ gà, đầu xương sườn số sáu gãy lìa lại nhói lên một cú buốt óc. Vị tanh của máu tươi dâng lên cuống họng. Tôi cắn chặt môi dưới, nuốt ngược thứ dịch lờ lợ đó xuống.
Hạ Băng ngồi ở băng ghế sau, hai tay giữ chặt chiếc bình áp lực âm ba ngăn đặt trong túi vải bạt. Dây dẫn lưu nối từ ngực tôi qua khe áo căng nhẹ. Cô không nói một lời nào suốt từ lúc rời Nhà khách Quân khu 7. Chỉ có tiếng van một chiều kêu lách tách đều đặn, hút từng mililit khí thừa và máu loãng ra khỏi khoang ngực tôi.
Lê Hoàng gạt cần số, rẽ ngoặt qua cổng số 45 Phan Đăng Lưu.
Người gác cổng mặc sắc phục cảnh vệ đứng nghiêm, nhìn lướt qua thẻ ngành của Hoàng rồi bấm nút mở barie. Sân trong của trụ sở Phòng Cảnh sát Hình sự sặc mùi xăng dầu và nước mưa đọng trên nền xi măng nứt nẻ. Hai chiếc xe bọc thép đặc chủng của Cảnh sát Cơ động đã nổ máy chờ sẵn ở góc sân, ống xả phả ra luồng khói đen đặc quánh. Mấy tay lính cơ động ôm tiểu liên báng gấp đứng quanh thùng xe, mặt lạnh tanh dưới vành mũ sắt.
Bảy giờ bốn mươi phút tối. Còn đúng hai mươi phút trước khi chuyến xe áp giải can phạm cuối cùng lăn bánh.
Tôi đẩy cửa bước xuống xe. Bàn chân vừa chạm mặt bê tông ướt, một cơn choáng ập tới làm đầu gối tôi khuỵu xuống nửa nhịp.
Một bàn tay mát lạnh đỡ lấy cùi chỏ tôi. Ngón tay Hạ Băng bóp chặt lớp vải áo khoác, giữ tôi đứng thẳng. Tôi liếc nhìn cô. Đôi mắt sau gọng kính kim loại phẳng lặng không một gợn sóng, nhưng cơ hàm bạnh ra căng cứng.
- Morphine còn tác dụng khoảng mười lăm phút - Hạ Băng nói, giọng phẳng lì như đọc một biên bản khám nghiệm - Sau đó anh sẽ sốc đau. Đừng thở sâu.
- Đủ để uống hết một chén trà - tôi đáp, đưa tay chỉnh lại mép áo khoác phủ kín bình áp lực âm.
Lê Hoàng đi trước, lưng thẳng tắp, sải bước dứt khoát qua dãy hành lang quét vôi vàng bong tróc từng mảng. Đèn tuýp trên trần nhấp nháy, phát ra tiếng vo vo mệt mỏi của chấn lưu cũ. Mùi hồ sơ ẩm mốc, mùi khói thuốc lá cán bộ trực ban và mùi cà phê khét đặc trưng của lính hình sự bám chặt vào từng thớ tường.
Căn phòng ở cuối hành lang tầng hai mở hé cửa. Biển mica xanh gắn trên cửa ghi rõ: Trưởng phòng - Thượng tá Đặng Thế Anh.
Hoàng không gõ cửa. Cậu ta dùng mu bàn tay đẩy nhẹ cánh cửa gỗ.
Phòng làm việc rộng chừng ba mươi mét vuông, ngăn nắp đến mức tàn nhẫn. Không có một tờ giấy nào nằm sai vị trí trên bàn làm việc bằng gỗ gụ. Trên tường không treo bằng khen hay huân chương, chỉ có tấm bản đồ hành chính thành phố khổ lớn ghim đầy các chấm tròn màu xanh đỏ.
Đặng Thế Anh ngồi sau bàn, mặc quân phục chỉnh tề, ve hàm Thượng tá gắn ngay ngắn. Ông ta không ngẩng đầu lên ngay mà thong thả rót nước sôi từ chiếc phích Rạng Đông vào ấm trà gốm Bát Tràng. Làn khói trắng bốc lên mang theo hương sen nồng đượm, đối lập hoàn toàn với mùi máu và bùn sình đang bám trên người chúng tôi.
- Đến sớm hơn tôi nghĩ năm phút - Thế Anh đặt ấm trà xuống, ngón trỏ gõ nhẹ ba nhịp lên mặt bàn gỗ - Ngồi đi, Vũ. Cả Hoàng và bác sĩ Băng nữa.
Tiếng cộc... cộc... cộc khô khốc vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch.
Tôi đứng im bên mép bàn, không ngồi xuống chiếc ghế bọc da đối diện. Cánh tay trái quấn băng trắng của tôi buông thõng, mấy đầu ngón tay vẫn tê dại do tổn thương dây thần kinh quay chưa hồi phục.
- Trà sen Tây Hồ - Thế Anh nâng chén trà con lên, thổi nhẹ cho bọt nước dạt sang một bên - Chị Nhàn từng thích mùi trà này. Ở Đà Lạt lạnh quanh năm, mỗi lần pha trà, chị ấy hay giữ lại bã sen để ủ vào gốc mấy khóm dã quỳ sau bếp.
Không khí trong phòng chùng xuống như một sợi dây cáp bị kéo căng quá mức.
Lê Hoàng đứng sát cửa, bàn tay phải đặt hờ bên hông, chỉ cách báng súng K59 ba phân. Quai hàm cậu ta siết chặt lại, từng đường gân nổi rõ dưới làn da mai mái vì dầm mưa gió suốt hai ngày qua.
- Ông gọi chúng tôi đến đây để khoe vị trà à, Thượng tá? - Tôi cất giọng, âm thanh khàn đặc như có cát cọ trong cổ họng - Hay để kiểm tra xem mười ba đứa trẻ năm đó còn sót lại đứa nào ngoài ông không?
Đặng Thế Anh không đổi sắc mặt. Ông ta nhấp một ngụm trà nhỏ, đặt chén sứ xuống đĩa lót một cách hoàn hảo, không để phát ra một tiếng va chạm kim loại hay sành sứ nào.
- Mười hai đứa đã nằm dưới nghĩa trang Đồi Thông và nghĩa trang thành phố - Thế Anh ngước mắt nhìn thẳng vào tôi. Ánh mắt ông ta sâu hoắm, phẳng lặng như mặt nước giếng không đáy - Đứa thứ mười ba không chết cháy năm hai nghìn lẻ bốn. Nó được bế đi trên một chuyến xe U-oát, mang theo một gói cơm cháy lá chuối và một cái tên giả. Nó phải sống, Vũ ạ. Sống để nhìn đám quan chức mặc vest dùng tro xương của anh em nó xây lên những tòa cao ốc triệu đô.
- Bằng cách tự tay rút ống thở của người đã nhét gói cơm cháy đó vào tã cho ông? - Tôi gằn từng tiếng.
Một khoảng lặng nghẹt thở rơi xuống.
Thế Anh không chớp mắt. Ngón tay ông ta lướt nhẹ qua chiếc bật lửa Zippo vỏ thép trắng đặt cạnh gạt tàn thủy tinh. Trên thân bật lửa, dòng chữ khắc thủ công vẫn còn sáng rõ dưới ánh đèn neon: Chị đã xong phần cơm cháy.
- Chị Nhàn bị liệt hai mươi năm, nằm một chỗ trong căn phòng sặc mùi nước tiểu và đờm dãi của khoa hồi sức - Giọng Thế Anh trầm xuống, đều đều như đọc một bản báo cáo hành chính - Màng não chị ấy đã chết từ tuần trước do di chứng ngạt khói năm hai mươi bốn tuổi. Tim chị ấy đập chỉ nhờ máy bơm áp lực. Chị ấy phải chịu đựng hai mươi năm chỉ để chờ ngày nhìn thấy bản án cuối cùng. Đêm nay, bản án thi hành xong. Chị ấy xứng đáng được ngủ.
- Ông không có quyền quyết định mạng sống của người khác - Lê Hoàng cất tiếng, giọng đanh như thép nguội - Kể cả khi ông mang danh nghĩa công lý hay ân nghĩa. Giết người là giết người.
Thế Anh quay sang nhìn Hoàng. Ánh mắt ông ta thoáng chút thương hại, thứ thương hại của một kẻ từng trải nhìn một người lính trẻ vẫn còn giữ nguyên sự ngây thơ về luật lệ.
- Cậu rất giống cha mình, Hoàng ạ - Thế Anh nói - Ông Bản là một người lính tử tế. Tử tế đến mức để cho Nguyễn Khắc Thắng và Đỗ Khắc Khiêm dùng bệnh án ung thư của vợ ép ông ấy ký vào biên bản nghiệm thu khống. Ông ấy tử tế đến mức phải trốn dưới đáy thuyền hút cát suốt năm năm, ăn cơm chan nước mắm, để giữ lại chiếc thẻ bài Zurich. Nhưng sự tử tế của cha cậu có cứu được ai không? Có cứu được mười hai đứa trẻ ở Mái ấm Hướng Dương không? Có cứu được Nguyễn Tuấn ở hẻm Cầu Muối không?
Cái tên "Nguyễn Tuấn" rơi xuống phòng làm việc như một khối chì nặng ngàn cân.
Tôi thấy lồng ngực mình thắt lại. Một cơn đau buốt nhói xé toạc màng sườn trái. Không phải cơn đau của vết mổ.
Tôi mở ngăn kéo ký ức. Hình ảnh Tuấn nằm sấp trên vũng nước sình lầy hẻm Cầu Muối ba năm trước, mắt vẫn mở trừng trừng nhìn về phía khoảng tối đầu ngõ, hiện lên rõ mồn một. Tôi nhớ chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm đẫm máu nhét trong túi áo ngực của cậu ấy. Tôi nhớ cuộc gọi cuối cùng mà tôi đã không kịp nghe.
Tôi thọc tay vào túi áo khoác, ngón tay chạm vào chiếc kẹp tóc nhôm lạnh ngắt. Tôi không rút nó ra. Tôi vuốt nhẹ cạnh kim loại gồ ghề, rồi rút bao Thăng Long bẹp dúm trong túi quần.
Bao thuốc rỗng không. Đáy bao rách toạc.
Tôi bóp nát vỏ bao giấy bạc trong lòng bàn tay, ném bẹp vào sọt rác dưới chân bàn.
- Đừng lôi Tuấn vào để biện minh cho việc ông biến cả cái thành phố này thành bãi chiến trường - Tôi nhìn thẳng vào mắt Thế Anh - Ông biết rõ Phạm Quang Đạt là kẻ khóa van nước Danfoss. Ông biết rõ Đạt là kẻ mớm tin giả cho tổ trinh sát của Tuấn. Ông nắm toàn bộ hồ sơ trong tay suốt ba năm, nhưng ông không nộp cho Viện Kiểm sát. Ông để mặc Đăng siết cổ Quốc, để mặc ông Hùng vác súng bắn tỉa ở đèo Khánh Lê. Ông mượn tay họ dọn sạch từng con tốt trên bàn cờ, để cuối cùng ông xuất hiện như một vị cứu tinh, ngồi vào chiếc ghế Trưởng phòng CSHS này.
Thế Anh khẽ mỉm cười. Nụ cười lạnh ngắt, không chạm tới đáy mắt.
- Nếu tôi đưa tập hồ sơ đó ra ba năm trước, chuyện gì sẽ xảy ra? - Ông ta hỏi ngược lại tôi - Thắng là Phó Bí thư Thường trực Thành ủy. Cửu là Trưởng ban Chỉ đạo Chuyên án Đặc biệt. Khiêm là Thứ trưởng. Đạt là Trung tướng, Phó Giám đốc Học viện Cảnh sát. Ai sẽ ký lệnh bắt họ? Tòa án nào sẽ thụ lý? Hay hồ sơ sẽ bốc cháy trong một vụ chập điện lưu kho, và tôi sẽ là cái xác thứ hai nổi trên sông Sài Gòn giống như Luân Mã Tấu?
Thế Anh đứng dậy. Ông ta bước tới bên cửa sổ, nhìn xuống hai chiếc xe bọc thép đang nổ máy dưới sân.
- Muốn nhổ một cái cây đại thụ mục ruỗng, anh không thể dùng kéo cắt cành, Vũ ạ - Thế Anh nói lưng chừng - Anh phải để cho rễ của nó tự thối rữa, hoặc đổ axít vào gốc. Đăng và ông Hùng là ngọn lửa. Tôi chỉ là người dọn đường để ngọn lửa đó cháy đúng chỗ. Tôi cung cấp sơ đồ cho Hoàng Yến. Tôi mở góc chết camera ở The Grand Panorama. Tôi lùi thời gian báo động ở Thảo Điền. Tôi đưa chiếc chìa khóa cho anh tiếp cận Hộp thư 88. Và tôi ký lệnh điều chuyển lực lượng để anh có đủ bốn mươi lăm phút truy đuổi Phạm Quang Đạt ở Cù Lao An Lợi.
- Và ông rút hồ sơ K-4 ở Tòa án Tối cao để xóa sạch cái tên Trần Khắc Định - Tôi ngắt lời ông ta.
- Đúng - Thế Anh thừa nhận, giọng không hề có một chút do dự - Thiếu tướng Phạm Gia Bảo là cha tôi. Ông ấy bị thủ tiêu ở Cam Ranh năm hai nghìn lẻ sáu vì không chịu ký nhượng mỏ đất hiếm cho Quỹ Viễn Đông. Danh dự của cha tôi, tôi đã đòi lại. Danh dự của ông Bản, tôi đã trả lại. Danh dự của Nguyễn Tuấn, các anh đã rửa sạch. Toàn bộ mười tám tài khoản ủy thác ở Thụy Sĩ đã bị phong tỏa vĩnh viễn. Đất nước không mất một tấc quặng nào vào tay bọn tư bản nước ngoài.
Ông ta quay người lại, hai tay chắp sau lưng, dáng đứng uy nghi của một sĩ quan chỉ huy cao cấp.
- Bàn cờ đã dọn xong. Những kẻ cần chết đã chết. Những kẻ cần ngồi tù đang trên đường ra Hà Nội. Chuyên án kết thúc hoàn hảo. Anh còn muốn gì nữa, cựu Đội phó Trần Vũ?
- Tôi muốn biết chiếc va-ly titan thu được từ Phạm Quang Đạt đang ở đâu - Tôi bước lên một bước, đối diện trực tiếp với Thế Anh qua mép bàn.
Lồng ngực tôi phập phồng. Van áp lực âm sau lưng Hạ Băng lại lách tách nhả bọt máu.
Thế Anh nhìn tôi, ánh mắt hơi nheo lại:
- Chiếc va-ly chứa sơ đồ rửa tiền và mã khóa B.09 đã được niêm phong theo Quyết định số 120 của Viện Kiểm sát Tối cao. Nó đang nằm trên chiếc xe bọc thép thứ nhất dưới sân, chuẩn bị lăn bánh ra sân bay Tân Sơn Nhất lúc đúng tám giờ tối.
- Ông nói dối - Tôi nói cộc lốc.
Đặng Thế Anh khựng lại nửa nhịp.
Căn phòng rơi vào sự im lặng tuyệt đối. Chỉ có tiếng kim giây chiếc đồng hồ treo tường Orient bằng kim loại nhích từng nấc: tạch... tạch... tạch.
- Tôi là người trực tiếp bẻ trật khớp cổ tay của Phạm Quang Đạt tại bãi bồi Cù Lao An Lợi - Tôi nói, giọng chậm rãi, rành rọt từng từ - Khóa cơ học của chiếc va-ly titan đó là loại khóa số bốn vòng kết hợp cảm biến vân tay của lính tình báo. Khi tôi tước chiếc va-ly, nắp đậy cổng kết nối quang học ở cạnh đáy vẫn còn nguyên lớp sáp niêm phong từ năm hai nghìn lẻ bốn. Nhưng lúc nãy, khi bước qua sân trụ sở, tôi nhìn thấy một mảnh sáp đỏ rơi ở bậc thềm buồng kỹ thuật xe bọc thép.
Tôi chỉ tay ra phía cửa sổ:
- Chiếc va-ly dưới xe bọc thép đã bị mở. Người duy nhất có mã vân tay dự phòng của Cục Tình báo Kỹ thuật KTS-01 để mở lớp khóa kép đó mà không làm kích nổ khối xung nhiệt tự hủy... chính là con trai của Thiếu tướng Phạm Gia Bảo.
Lê Hoàng lập tức rút khẩu K59 ra khỏi bao da. Tiếng kéo khóa nòng vang lên sắc lạnh: rắc.
Hạ Băng lùi một bước, che chắn cho bình áp lực âm, mắt dán chặt vào từng cử động nhỏ nhất trên hai bàn tay của Đặng Thế Anh.
Thế Anh không hề giật mình trước họng súng của Hoàng. Ông ta nhìn tôi, một thoáng kinh ngạc lướt qua gương mặt sắt đá rồi nhanh chóng biến mất, nhường chỗ cho sự mỉa mai chua chát.
- Anh quả thực là trinh sát hiện trường giỏi nhất mà Đội Trọng án từng có, Vũ ạ - Thế Anh thở hắt ra một hơi dài - Đáng tiếc, anh lại quá cố chấp vào những chi tiết vụn vặt.
- Ông đã lấy thứ gì ra khỏi chiếc va-ly? - Tôi gằn giọng - Danh sách mười tám tài khoản ủy thác? Hay bản gốc thỏa thuận nhượng quyền mỏ đất hiếm?
- Không có thỏa thuận nhượng quyền nào bị lấy đi cả - Thế Anh lắc đầu - Toàn bộ tài liệu chống lại Khiêm, Thắng, Đạt và Quỹ Viễn Đông đều nguyên vẹn một trăm phần trăm. Tôi chỉ rút ra một thứ duy nhất. Một phong bì tài liệu đóng dấu Tuyệt mật của Cục Tình báo năm hai nghìn lẻ tư.
- Tài liệu gì?
Thế Anh thò tay vào ngăn kéo bàn làm việc. Lê Hoàng siết nhẹ cò súng, nhưng Thế Anh không rút vũ khí. Ông ta đặt lên mặt bàn một tập hồ sơ mỏng bọc trong giấy xi măng đã ngả màu vàng úa, mép giấy có vết cháy xém hình bán nguyệt.
- Báo cáo khám nghiệm hiện trường ban đầu của Viện Khoa học Hình sự lập lúc năm giờ sáng ngày mười hai tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn - Thế Anh nói, giọng lạnh như băng tuyết - Được niêm phong bởi chính cha tôi trước khi ông ấy bị tước quyền điều tra.
Tôi bước tới, dùng bàn tay phải còn lành lặn lật trang bìa tập hồ sơ.
Mùi giấy cũ hai mươi năm xộc vào mũi, khét lẹt mùi muội than và dầu hỏa. Dưới ánh đèn neon, dòng chữ đánh máy bằng máy chữ cơ học hiện lên sắc nét:
"KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TỒN DƯ DUNG MÔI TẠI HIỆN TRƯỜNG MÁI ẤM HƯỚNG DƯƠNG:
1. Phát hiện dấu vết hydrocacbon nặng từ 5.000 lít dầu diezen tại sảnh chính.
2. Tại khu vực chái bếp (điểm phát hỏa đầu tiên), phát hiện tàn tích 02 can xăng mười lít do Đinh Trọng Phúc đổ qua khe cửa.
3. ĐẶC BIỆT: Khóa ngắt tự động nguồn điện tổng của mái ấm không bị chập mạch. Khóa ngắt đã bị kéo sập thủ công từ bên trong trước khi xăng bốc cháy mười lăm phút. Trên cần gạt cầu dao tổng thu được mẫu biểu bì mô da mang cấu trúc gen đồng hợp tử..."
Tôi khựng lại. Đồng tử tôi co thắt kịch liệt.
Hơi thở tôi nghẽn lại nơi lồng ngực. Một cơn choáng váng ập đến dữ dội hơn bất kỳ cơn đau thể xác nào.
"Mẫu biểu bì mang cấu trúc gen đồng hợp tử... trùng khớp với mẫu AND của nạn nhân Nguyễn Mai Lan."
Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ đó ba lần.
Từng chữ, từng dấu chấm phẩy như những mũi kim nung đỏ đâm thẳng vào màng nhĩ.
- Chị Lan biết trước đêm đó người ta sẽ đến đốt mái ấm - Giọng Đặng Thế Anh vang lên bên tai tôi, xa xăm như vọng lại từ một hầm ngục - Cha tôi đã gửi mật báo cho chị ấy từ chiều ngày mười một, dặn chị ấy đưa lũ trẻ trốn xuống hầm trú ẩn bằng đá chẻ dưới nền bếp. Chị Lan đã tự tay dập cầu dao điện để tránh chập nổ, gom hết lũ trẻ xuống hầm và khóa chốt trong để chờ xe của ông Bản đến đón.
Thế Anh chỉ ngón tay vào dòng kết luận cuối cùng của bản báo cáo:
- Nhưng chị ấy không ngờ, Phạm Quang Đạt đã khóa van nước Danfoss từ sáu tiếng trước. Chị ấy không ngờ năm nghìn lít dầu diezen công nghiệp đổ vào sảnh chính sẽ hút sạch toàn bộ dưỡng khí trong căn hầm kín chưa đầy năm phút. Chị ấy đã tự tay đưa mười hai đứa trẻ vào chiếc bẫy chết người đó, vì tin vào lời hứa bảo vệ của những kẻ mang sắc phục.
Tôi đứng chết lặng. Bàn tay vịn vào mép bàn gỗ run lên bần bật.
Hạ Băng bước lên nửa bước, mắt cô nhìn lướt qua trang giấy pơ-luya ố vàng. Bác sĩ pháp y trong cô lập tức hiểu ra toàn bộ cơ chế giải phẫu bệnh học của thảm kịch năm xưa. Mười hai đứa trẻ và người bảo mẫu không chết vì bị lửa thiêu trực tiếp. Họ chết vì ngạt khí và phù phổi cấp trong căn hầm đá chẻ do chính sự cẩn trọng tuyệt vọng của người chăm sóc họ tạo ra.
Một bi kịch hoàn hảo. Một vết thương không bao giờ có thể liền sẹo.
- Nếu bản báo cáo này được chuyển ra Hà Nội cùng chiếc va-ly titan - Thế Anh nhìn thẳng vào mắt tôi - Tòa án sẽ công bố nó trong phiên xử công khai. Báo chí sẽ giật tít. Người ta sẽ mổ xẻ xem ai là kẻ trực tiếp đưa lũ trẻ xuống hầm. Hình ảnh bảo mẫu Mai Lan - người phụ nữ đã dùng thân mình che chắn cho đứa bé ba tháng tuổi đến hơi thở cuối cùng - sẽ bị vấy bẩn bởi những lời phán xét vô nghĩa của dư luận.
Thế Anh cầm chiếc bật lửa Zippo trắng lên.
Ngón tay cái của ông ta bật nắp kim loại: Tách.
Ngọn lửa vàng bùng lên, soi rõ gương mặt góc cạnh, lạnh lùng của người đứng đầu lực lượng Cảnh sát Hình sự thành phố.
- Tôi giữ lại tập hồ sơ này không phải để bảo vệ mình - Thế Anh nói, đưa góc tờ giấy xi măng vào ngọn lửa - Tôi giữ lại nó để bảo vệ sự yên nghỉ cuối cùng của người đã nuôi nấng tôi trong ba tháng đầu đời. Để chị Lan mãi mãi là người mẹ anh hùng trong ký ức của những người ở lại.
Ngọn lửa liếm vào thớ giấy khô khốc. Tờ biên bản hai mươi năm tuổi bốc cháy rừng rực, tàn tro đen cuộn lại, rơi lả tả xuống chiếc gạt tàn pha lê. Mùi giấy cháy khét lẹt đặc quánh trong căn phòng kín.
Lê Hoàng từ từ hạ nòng súng xuống. Cậu ta không bắn. Tôi biết, cậu ta không thể bắn.
Đúng lúc đó, tiếng còi hú dõng dạc vang lên dưới sân trụ sở.
Đồng hồ treo tường điểm đúng tám giờ tối.
Đoàn xe đặc chủng bắt đầu chuyển bánh. Ánh đèn chớp xanh đỏ quét qua khung cửa kính phòng làm việc, hắt lên tường những vệt sáng ma quái, chập chờn như bóng của mười ba đứa trẻ năm xưa.
Thế Anh thả mẩu giấy cháy dở cuối cùng vào gạt tàn, dùng nắp Zippo dập tắt ngọn lửa. Ông ta chỉnh lại vạt áo quân phục, bước vòng qua bàn làm việc, tiến về phía cánh cửa.
Khi đi ngang qua tôi, Thế Anh dừng lại một giây.
- Chuyến xe đã đi rồi, Vũ - Ông ta nói khẽ, giọng chìm trong tiếng gầm rú của động cơ xe bọc thép dưới sân - Vụ án Mái ấm Hướng Dương đã chính thức khép lại. Anh có thể quay về con hẻm ngập nước ở Quận 4 của mình, mở lại văn phòng thám tử, và quên cái thành phố này đi được rồi.
Tôi không trả lời. Tôi đứng trơ ra như một pho tượng gỗ giữa mùi tro tàn khét lẹt.
Đặng Thế Anh mở cửa, sải bước dứt khoát ra hành lang. Tiếng giày ghệt gõ cộp cộp đều đặn trên nền gạch hoa xa dần rồi chìm hẳn vào tiếng mưa rào ngoài sân.
Căn phòng chỉ còn lại tôi, Hạ Băng và Lê Hoàng.
Một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng tôi. Cơn sốc đau bắt đầu trỗi dậy khi liều Morphine tan hết. Lồng ngực tôi như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt, xương sườn số sáu nghiến ken két vào màng phổi.
Tôi quay đầu nhìn ra khung cửa sổ mở hé.
Dưới sân, chiếc xe bọc thép thứ hai vừa quẹo đuôi qua cổng sắt số 45 Phan Đăng Lưu, hòa vào dòng xe cộ tấp nập trên đường phố Sài Gòn. Đèn hậu màu đỏ thẫm mờ dần trong màn mưa trắng xóa.
Bất chợt, chiếc điện thoại Nokia cổ lỗ sĩ trong túi quần tôi rung lên bần bật.
Tôi nuốt khan một ngụm máu tanh, run rẩy rút máy ra.
Màn hình đơn sắc xanh lét nhấp nháy một tin nhắn SMS gửi từ đầu số nội bộ của Phân viện Pháp y Quân đội phía Nam - nơi lưu trữ thi thể của Nguyễn Minh Đăng:
"BÁC SĨ BĂNG, ANH VŨ. HẦM LẠNH B2 VỪA BỊ ĐỘT NHẬP LÚC MƯỜI CHÍN GIỜ NĂM MƯƠI LĂM PHÚT. TỦ LƯU TRỮ SỐ 04 BỊ CẠY KHÓA TỪ BÊN TRONG. THI THỂ CỦA NGUYỄN MINH ĐĂNG... ĐÃ BIẾN MẤT."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.