Giao Lộ Mờ Sương

Chương 29: Chiếc Tủ Số 304

Đăng: 17/08/2026 17:40 3,679 từ 1 lượt đọc

Máu trong cuống họng tôi có vị tanh nồng của rỉ sắt và bùn đất đỏ.

Mỗi nhịp thở là một mũi dao cạo cứa qua màng phổi trái. Hai dẻ sườn số sáu và số bảy cọ vào nhau lạo xạo dưới lớp cơ dập nát, buốt nhói lên tận thái dương. Tôi ngồi bẹp dưới rãnh thoát nước sau chân đồi nghĩa trang, lưng dựa vào gốc thông sũng nước, hai hàm răng nghiến chặt vào điếu thuốc lá Vinataba ướt sũng không thể châm lửa.

Đằng xa, tiếng còi hú của đoàn xe Cảnh sát Cơ động xé nát màn sương mù đặc quánh của Đà Lạt. Tiếng nổ lốp đốp của đám cháy bom xăng do ông Trí tạo ra vẫn còn âm ỉ vọng lại từ phía sườn đồi. Người đàn ông đó đã chọn cách tự thiêu rụi cuộc đời mình giữa đống hoang tàn để mua cho tôi vài phút đồng hồ sống sót.

Trong lòng bàn tay phải của tôi, chiếc chìa khóa tủ gửi đồ bằng đồng thau dính bết máu khô cộm lên sắc lạnh. Trên mặt chìa khắc chìm ba con số: 304.

Ga xe lửa Đà Lạt.

Tôi nhổ một bọc đờm đen lẫn máu tươi xuống đám lá mục, dùng mu bàn tay quệt ngang khóe miệng. Mười giờ bốn mươi lăm phút sáng. Đồng hồ cát của kẻ giấu mặt không bao giờ chạy chậm lại vì một thằng cựu cảnh sát tàn tạ.

Tôi kéo chiếc áo khoác gió sờn rách trùm kín đầu, giấu đoạn xà beng sắt vào trong ống tay áo, lầm lũi men theo con đường mòn đất đỏ dẫn xuống thung lũng.

Đà Lạt mùa mưa không có cái vẻ lãng mạn rẻ tiền trên những tấm bưu thiếp du lịch. Nó bẩn, ẩm ướt và lạnh thấu xương. Cái lạnh của cao nguyên không làm người ta tê dại như băng giá phương Bắc, mà nó ngấm ngầm luồn qua từng thớ vải rách, liếm láp vào những vết thương hở, biến từng cơn co giật của cơ bắp thành một cực hình kéo dài.

Mười một giờ mười lăm. Tôi có mặt ở hàng rào phía sau Ga xe lửa Đà Lạt.

Ba chóp mái nhọn màu vàng đất phỏng theo đỉnh núi Langbiang sừng sững nhô lên giữa màn sương đục. Nơi này từng là biểu tượng của sự xa hoa thời thuộc địa, giờ đây biến thành một điểm dừng chân của những kẻ thích hoài niệm và những chuyến tàu du lịch chạy bảy cây số đi Trại Mát. Nhưng hôm nay, sân ga vắng ngắt một cách bất thường.

Một chiếc xe tải chuyên dụng của Cảnh sát Giao thông đỗ chắn ngang cổng chính trên đường Quang Trung. Hai viên cảnh sát mặc áo mưa cánh dơi đứng gác cạnh barie, mắt đảo liên tục về phía dòng người thưa thớt. Trịnh Văn Phát và Đỗ Khắc Khiêm đã không bỏ sót bất kỳ lối ra vào nào của cái thành phố này. Lệnh truy nã đặc biệt mang tên tôi và Lê Hoàng chắc chắn đã được dán đến tận từng đồn công an phường từ ba tiếng trước.

Tôi không đi cửa chính. Một kẻ sống sót qua mười năm chui rúc ở các con hẻm Quận 4 luôn biết rằng mọi công trình kiến trúc đều có một cái lỗ hậu môn bị bỏ quên.

Tôi trườn qua khoảng hở dưới hàng rào rỉ sét ở bãi đầu máy hơi nước cũ phía sau ga. Mùi dầu mazut chết đọng lại trong các thùng sắt gỉ hòa cùng mùi gỗ mục và cỏ dại ngai ngái bốc lên nồng nặc. Tôi ép sát thân mình vào sườn một toa tàu gỗ bỏ hoang, nén tiếng ho khù khụ đang dâng lên trong lồng ngực.

Khu vực gửi đồ cá nhân nằm ở góc hành lang phía đông, cạnh phòng bán vé cũ. Đó là một dãy tủ sắt sơn màu xanh rêu tróc lở, có từ thời ga này còn chạy tuyến răng cưa nối thẳng xuống Tháp Chàm.

Tôi đảo mắt quan sát. Một nhân viên bảo vệ già mặc đồng phục xanh xám đang ngồi gục đầu ngủ gật sau quầy kiểm soát vé bằng gỗ lim. Không có camera an ninh góc chết này; hệ thống giám sát của nhà ga chỉ tập trung ở sảnh trung tâm và quầy lưu niệm.

Tôi bước nhanh qua vũng nước đọng trên sàn gạch hoa cổ, bước chân nhẹ và dứt khoát như một bóng ma. Cơn đau ở sườn trái giật nảy lên theo từng bước dồn trọng lực, nhưng đầu óc tôi tỉnh táo một cách kỳ lạ.

Tủ số 304 nằm ở hàng thứ hai, ngang tầm ngực.

Ổ khóa cơ kiểu cũ hoen rỉ vì độ ẩm cao nguyên. Tôi tra chiếc chìa bằng đồng thau vào ổ. Tiếng kim loại khô khốc ma sát nghe như tiếng bẻ xương.

Cạch.

Lẫy khóa bật mở. Cánh cửa sắt hé ra một khe hở hẹp.

Bên trong không có bẫy nổ, không có hóa chất độc hại. Chỉ có một chiếc túi da dù bộ đội đã bạc màu, khóa kéo bằng đồng bị kẹt cứng bởi lớp mốc xanh.

Tôi thò tay rút chiếc túi ra, giấu ngay vào bụng áo khoác, đóng sập cửa tủ lại rồi lùi nhanh vào bóng tối của buồng vệ sinh nhân viên bỏ hoang ở cuối dãy hành lang.

Tôi cài chốt cửa gỗ mục nát, ngồi thụp xuống bệ rửa tay bằng xi măng nứt toác, lôi chiếc túi dù ra soi dưới ánh sáng lờ mờ lọt qua ô thông gió.

Bên trong túi dù có hai thứ.

Thứ nhất là một cuốn sổ tay bìa bọc da đen khổ nhỏ, mép giấy quăn queo ố vàng vì nước ngấm. Tôi lật trang đầu tiên. Nét chữ viết tay bằng bút máy Parker mực xanh đen quen thuộc, nét chữ nghiêng và cứng nhắc của Huỳnh Trí Cao – cựu Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, kẻ vừa ngậm viên đá tẩm xyanua chết tức tưởi trên ghế bành ở Thảo Điền Riverside.

Đó là một cuốn nhật ký hối lộ.

Cao không chỉ ghi chép số tiền, mà còn ghi chi tiết đến từng địa điểm giao dịch, số seri vali tiền mặt và tên người nhận.

Trang ghi ngày 14 tháng 11 năm 2004:
"Giao 500.000 USD đợt một cho Đ.K.K tại Khách sạn Palace. K. yêu cầu bổ sung điều khoản 10% cổ phần ngầm không đứng tên trong liên danh Đồi Thông Xanh để lo thủ tục đóng hồ sơ tại Cục Cảnh sát điều tra. Đã chuyển nhượng qua công ty bình phong Tây Nguyên."

Trang ghi ngày 18 tháng 11 năm 2004:
"Nhận bản Kết luận điều tra số 1104/KLĐT-C16 có chữ ký tươi của Thượng tá Đỗ Khắc Khiêm. Vụ cháy Mái ấm Hướng Dương chính thức khép lại với nguyên nhân chập mạch bảng điện bếp ăn. Hồ sơ tử thi của 8 nạn nhân đã được lệnh tiêu hủy sau hỏa táng. Hợp đồng Bên C bắt đầu có hiệu lực."

Trang ghi ngày 09 tháng 7 năm 2021:
"Thằng Tuấn (Đại úy Đội Trọng án) đã lần ra ủy nhiệm chi 200 triệu chuyển cho Đinh Trọng Phúc năm xưa qua tài khoản nông nghiệp. Nó đang chuẩn bị báo cáo Ban Giám đốc Công an TP. Đã báo cáo anh Khiêm (nay là Thứ trưởng). Anh Khiêm chỉ đạo: Dùng hồ sơ chuyên án buôn người hẻm Cầu Muối để xử lý dứt điểm. Sắp xếp cho Tuấn đi mũi một, chốt chặn hẻm cụt. Tuyệt đối không để nó mang tài liệu ra khỏi hiện trường."

Mắt tôi cay xè. Những dòng chữ nhảy múa trước mắt tôi như những ngọn lửa thiêu đốt lương tri.

Ba năm qua, tôi đã sống như một con chó hoang dằn vặt trong vũng lầy tội lỗi. Tôi đã tự nguyền rủa sự kiêu ngạo và phán đoán sai lầm của chính mình trong đêm mưa ở hẻm Cầu Muối. Tôi tưởng mình đã bắn nhầm tín hiệu điều động, tưởng mình đã đẩy Tuấn vào tầm súng của bọn buôn ma túy.

Hóa ra không phải.

Đó là một bản án tử hình được ký sẵn từ chiếc bàn làm việc bọc da của một vị Thứ trưởng Bộ Công an. Chúng lợi dụng sự ngạo mạn của tôi, mượn tay bọn tội phạm đường phố để găm bốn viên đạn chì vào ngực một người chiến sĩ công an trung kiên, chỉ để bảo vệ cho một khối tài sản ngàn tỷ xây trên tro tàn của tám mạng người.

Tôi thở dốc, lồng ngực co thắt dữ dội. Tôi mở vật thứ hai trong túi dù.

Đó là một chiếc máy cát-sét mini hiệu Panasonic đời 1998, bên trong gắn sẵn một cuộn băng từ băng cối loại nhỏ dán nhãn ghi tay: "Trần Khắc Luân - Lời trăn trối trước khi xuống nước".

Tôi bấm nút phát. Tiếng xè xè của dải băng từ vang lên khe khẽ trong góc phòng vệ sinh hoang phế, sau đó là giọng nói khàn đặc, đứt quãng của một gã giang hồ đang đối mặt với cái chết cận kề:

"Tao là Luân 'Mã Tấu'... Đứa nào nghe được cuộn băng này thì biết tao sắp bị bọn nó dìm chết dưới hồ Trị An rồi... Thằng Quốc và con Lan không tha cho tao đâu... Chúng nó sợ tao tống tiền vụ năm 2004... Đêm 12 tháng 11 năm đó, tao là thằng dẫn lính vây ngoài ngã ba đường để không cho đứa nào trong mái ấm chạy thoát... Nhưng tao thề tao không châm lửa... Lửa là do con Lan ký lệnh và thằng Phúc thanh tra châm... Bản hợp đồng gốc chia chác 20% cổ phần cho ông Khiêm và ông Phát được ký tại phòng trà Đồng Khởi trên đường Lê Hồng Phong... Người giữ con dấu vàng bảo kê cho toàn bộ vụ cướp đất này không phải thằng Cao, mà là Đỗ Khắc Khiêm... Hắn ăn dày nhất... Một triệu đô la và mười phần trăm cổ phần... Nếu tao chết, cuốn sổ của thằng Cao và cuộn băng này sẽ là dây thòng lọng siết cổ toàn bộ bọn mặc vest sang trọng..."

Tiếng thở dốc của Luân trong băng bị cắt ngang bởi một tiếng sầm lớn và tiếng nước bắn tung tóe trước khi dải băng chỉ còn lại tiếng rít vô tận của đầu từ.

Tôi tắt máy cát-sét, cẩn thận nhét cuộn băng và cuốn nhật ký vào túi áo trong, áp sát vào lồng ngực trái đang rỉ máu.

Điện thoại Nokia trong túi tôi rung bần bật. Màn hình đen trắng hiện lên một dãy số nội bộ bị mã hóa.

Tôi bấm nghe, không lên tiếng.

"Anh Vũ."

Giọng của Hạ Băng. Bình thản, lạnh lùng nhưng hơi thở có phần gấp gáp hơn thường lệ.

"Tôi nghe." Giọng tôi khản đặc như tiếng sỏi cọ vào sắt rỉ.

"Đăng vừa tỉnh lại được ba phút rồi rơi vào trạng thái sốc nhiễm trùng nhẹ. Phổi của cậu ta tạm thời giữ được áp lực, nhưng nhịp tim đang dao động ở mức 130. Tôi vừa tiêm một liều kháng sinh phổ rộng và thuốc trợ tim."

"Nó có nói gì thêm không?"

"Cậu ta không nói nhiều. Lúc tỉnh lại, tay phải của cậu ta cứ liên tục gõ ba nhịp xuống thành giường inox. Sau đó cậu ta nhìn tôi và bảo: 'Bảo anh Vũ đến phòng trà Ký Ức trước mười hai giờ. Nếu anh ấy đến sau mười hai giờ, anh ấy sẽ chỉ còn thấy tro than của kẻ đã giết anh Tuấn.' Ba Cháy đang nổ máy xe tải ở cổng sau trạm xá, chúng tôi phải di tản Đăng ngay bây giờ. Công an huyện Đức Trọng đang rà soát từng phòng khám tư nhân."

"Đưa Đăng đi ngay đi," tôi nói cộc lốc. "Tránh xa quốc lộ. Đi đường đèo Tà Nung."

"Anh... có ổn không?" Hạ Băng ngập ngừng nửa giây. Đó là sự ngập ngừng hiếm hoi của một bác sĩ pháp y quen nhìn tử thi hơn nhìn người sống. "Màng phổi của anh..."

"Tôi chưa chết được," tôi ngắt lời. "Ít nhất là trước mười hai giờ trưa nay."

Tôi cúp máy.

Một tin nhắn SMS khác vừa nhảy vào hộp thư đến. Từ số máy của Lê Hoàng:
"Máy chủ Zurich đã mở khóa toàn bộ. Mai Thị Ngọc Lan đang ngồi trong phòng VIP 1 phòng trà Ký Ức. Đoàn xe hộ tống của Đỗ Khắc Khiêm vừa rời trụ sở Tỉnh ủy lúc 11:30, hướng thẳng về đường Lê Hồng Phong. Khiêm muốn tự tay lấy lại nửa bản hợp đồng Bên B và thanh toán dứt điểm nhân chứng Lan trước khi chuyên cơ cất cánh lúc 13:00. Yến đang ở cùng tôi tại một xưởng cưa ngoại ô, tạm thời an toàn. Tôi đang mang súng bắn tỉa tiếp cận vị trí cao điểm đối diện phòng trà. Vũ, cẩn thận. Kẻ thứ ba đã vào trong đó."

Kẻ thứ ba. Kẻ mặc áo mưa đen đã châm lửa thiêu rụi tầng hầm Grand Palace.

Mười một giờ ba mươi lăm phút.

Tôi bước ra khỏi ga xe lửa bằng lối bãi phế liệu, lách qua con hẻm nhỏ dốc đứng dẫn ra đường Trần Hưng Đạo. Trời bắt đầu đổ mưa nặng hạt. Mưa Đà Lạt tháng Bảy buốt như kim châm vào da thịt.

Tôi chặn một chiếc xe ôm đứng nép dưới gốc cây anh đào cổ thụ ven đường. Gã tài xế nhìn bộ dạng lôi thôi, quần áo dính đầy bùn đất đỏ và vết máu khô trên cổ áo tôi với ánh mắt e dè, định vặn ga bỏ chạy. Tôi rút tờ năm trăm nghìn cuối cùng trong ví, vứt thẳng vào mặt gã, giọng lạnh băng:

"Đưa tôi đến số 42 Lê Hồng Phong. Nhanh nhất có thể. Dừng cách đó năm mươi mét."

Gã tài xế nuốt nước bọt, nhìn tờ tiền ướt sũng rồi gật đầu lia lịa. Chiếc xe máy Dream cũ kỹ gầm rú lao vút đi trong màn sương mù mịt mù, bánh xe trượt nhẹ trên những khúc cua gấp khúc đầy lá thông trơn trượt.

Phòng trà Ký Ức – tiền thân là phòng trà Đồng Khởi hai mươi năm trước – là một căn biệt thự Pháp cổ kính hai tầng lợp ngói đá đen, nằm lọt thỏm giữa một khu vườn thông rậm rạp trên dốc đường Lê Hồng Phong. Tường bao quanh bằng đá hộc cao quá đầu người, phủ đầy rêu phong và dây leo bò chằng chịt.

Cách cổng chính năm mươi mét, tôi đập vai gã xe ôm bảo dừng xe. Tôi nhảy xuống, nép ngay vào sau một bốt điện bằng bê tông cũ.

Dưới làn mưa xối xả, hai chiếc xe Toyota Land Cruiser màu đen mang biển số xanh của Bộ Công an đỗ ngay ngắn trong sân biệt thự. Bốn người đàn ông mặc âu phục đen, đeo tai xoắn bảo vệ, đứng phân tán ở bốn góc sân, ô đen che nghiêng, tay luôn đặt ở vị trí mép áo vest – tư thế sẵn sàng rút vũ khí tác chiến cận thân.

Không khí đặc quánh mùi quyền lực và sát khí.

Nhưng tôi ngửi thấy một thứ mùi khác. Một mùi hương cực kỳ quen thuộc và ghê tởm, luồn lách qua những giọt mưa lạnh buốt và lá thông mục.

Mùi dầu hỏa công nghiệp và phốt-pho trắng.

Tôi nheo mắt quan sát cấu trúc căn biệt thự. Tầng trệt được thiết kế theo lối kiến trúc phòng trà thập niên 90, tường cách âm bằng gỗ thông ép và mút xốp dày. Toàn bộ cửa sổ chớp gỗ bên ngoài đều đã bị đóng chặt từ bên trong. Phía sau góc vườn, một sợi dây đồng mỏng như sợi chỉ luồn qua khe thông gió của tầng hầm củi cũ, dẫn thẳng lên tán cây tùng cổ thụ gần cổng phụ.

Bẫy hỏa thiêu đã được giăng sẵn. Giống hệt như cách chúng đã làm với Mái ấm Hướng Dương hai mươi năm trước. Giống hệt như cách Grand Palace đã nổ tung cách đây bốn tiếng.

Kẻ báo thù không hề có ý định để cho Mai Thị Ngọc Lan hay Đỗ Khắc Khiêm bước ra khỏi cánh cửa đó còn sống. Hắn muốn biến nơi ký kết bản hợp đồng tội ác thành một lò thiêu tập thể, chôn vùi cả kẻ chủ mưu lẫn kẻ bao che vào cùng một nấm mồ lửa.

Mười một giờ năm mươi phút.

Tôi nhìn lại đoạn xà beng sắt trong tay mình, hít một hơi thật sâu nén chặt cơn đau đang rách toạc lồng ngực. Tôi không đến đây để cứu Đỗ Khắc Khiêm hay Mai Thị Ngọc Lan. Bọn chúng xứng đáng bị đày xuống chín tầng địa ngục.

Nhưng tôi không thể để chân lý bị chôn vùi trong biển lửa. Bản án của pháp luật phải được tuyên bố bằng sự thật, bằng những tài liệu nằm trong túi áo tôi, chứ không phải bằng một hành vi thảm sát mù quáng sẽ biến những đứa trẻ của Mái ấm Hướng Dương thành những kẻ thủ ác máu lạnh muôn đời.

Tôi luồn qua bờ rào đá hộc ở góc khuất phía sau vườn, tránh góc quan sát của hai tên cận vệ mặc vest đen, tiếp cận cánh cửa thoát hiểm bằng gỗ lim dẫn vào cánh gà sân khấu tầng một.

Ổ khóa cửa sau đã bị cắt đứt bằng kìm thủy lực từ trước. Một vệt dầu hỏa trong suốt còn mới loang lổ trên bậc thềm gỗ.

Tôi đẩy nhẹ cánh cửa, lách người bước vào bên trong bóng tối của phòng trà.

Bên trong sảnh chính, ánh đèn vàng mờ ảo hắt lên những dãy bàn ghế bọc nhung đỏ phủ bụi. Không gian im ắng đến rợn người, chỉ có tiếng nhạc phát ra từ chiếc máy hát đĩa than cổ đặt trên quầy bar: một bản tình ca tiền chiến rè rè, ma quái.

Ở chiếc bàn tròn lớn giữa trung tâm phòng trà, dưới ánh đèn chùm pha lê u ám, hai bóng người đang ngồi đối diện nhau.

Một người phụ nữ trung niên mặc đầm lụa đen sang trọng, gương mặt sắc sảo nhưng nhợt nhạt như sáp nến, ngón tay run rẩy cầm điếu thuốc lá Esse mỏng dính – Mai Thị Ngọc Lan.

Và người đàn ông ngồi đối diện bà ta: một người đàn ông trạc gần sáu mươi tuổi, tóc cắt ngắn chải chuốt gọn gàng, mặc áo khoác gió sẫm màu có phù hiệu ngành công an trên ngực áo, gương mặt vuông vức đầy uy quyền nhưng đôi mắt sâu hoắm lạnh như đáy giếng cạn – Trung tướng Đỗ Khắc Khiêm.

Trên mặt bàn gỗ giữa hai người đặt một chiếc cặp da số bằng kim loại mở toang và một khẩu súng ngắn K59 đã lên đạn sẵn.

"Bà Lan," giọng của Đỗ Khắc Khiêm trầm thấp, vang lên đều đều không một gợn sóng cảm xúc. "Hai mươi năm trước, tôi đã cho bà cơ hội làm lại cuộc đời bằng cái chết trên đèo Bảo Lộc. Lẽ ra bà nên ở yên bên Thụy Sĩ với số tiền đó. Việc bà quay về đây tìm con gái và đòi lại phần cổ phần khai thác mỏ... là một nước cờ cực kỳ ngu xuẩn."

Mai Thị Ngọc Lan bật cười khùng khục, một nụ cười cay đắng và điên dại:

"Ngu xuẩn? Đỗ Khắc Khiêm, năm đó nếu không có chữ ký của tôi duyệt chi 200 triệu cho thằng Phúc châm lửa, liệu ông có leo lên được cái ghế Thứ trưởng hôm nay không? Ông cầm một triệu đô la của tôi, nuốt trọn mười phần trăm cổ phần của dự án Đồi Thông Xanh suốt hai mươi năm qua... Giờ ông muốn xóa sổ mẹ con tôi để bịt miệng sao? Bản hợp đồng Bên B tôi đã giấu ở một nơi mà ông có đào nát cái đất Đà Lạt này lên cũng không tìm thấy!"

"Bà nhầm rồi," Đỗ Khắc Khiêm khẽ lắc đầu, khóe môi nhếch lên một nụ cười tàn nhẫn. "Bản hợp đồng đó... sắp theo bà và toàn bộ những kẻ liên quan biến thành tro bụi ngay tại đây."

Tôi bước một bước ra khỏi bóng tối của cánh gà, thanh xà beng sắt trong tay tôi gõ nhẹ một tiếng đanh gọn xuống sàn gỗ:

"Bản hợp đồng Bên B đang nằm trong tay tôi, thưa Trung tướng."

Cả hai người đồng loạt quay phắt lại. Mai Thị Ngọc Lan mở to hai mắt kinh hoàng, còn bàn tay phải của Đỗ Khắc Khiêm lập tức di chuyển cực nhanh về phía khẩu K59 trên bàn.

Nhưng trước khi ngón tay của Khiêm kịp chạm vào báng súng, một tiếng cạch khô khốc vang lên từ góc trần nhà phía sau lưng tôi.

Chiếc hộp nhạc thiếu nhi treo trên xà nhà đột ngột quay tròn, phát ra giai điệu quen thuộc của bài hát Mái ấm Hướng Dương năm 2004.

Và từ trong bóng tối của ô cửa thông gió trên tầng lửng, một giọng nói thì thầm lạnh buốt vang lên qua loa phóng thanh mini giấu kín:

"Đúng mười hai giờ trưa. Bản án cuối cùng... chính thức thi hành."

Phụt.

Một ngọn lửa xanh lét bùng lên từ bốn góc chân tường, và toàn bộ cửa ra vào của căn biệt thự đồng loạt sập chốt sắt từ bên ngoài.

0