Chương 28: Kẻ Ký Bản Án
Mùi sương mù Đà Lạt lúc nào cũng có vị ngai ngái của rêu mục và đất đỏ ẩm ướt. Nhưng sáng nay, trong lồng ngực tôi chỉ toàn mùi khói lưu huỳnh và tàn tro còn sót lại từ đám cháy sảnh Grand Palace.
Mỗi nhịp thở là một nhát dao rạch vào màng phổi. Hai cái xương sườn số sáu và số bảy bên ngực trái cọ vào nhau lục cục dưới lớp áo sơ mi rách bươm, kéo theo từng cơn đau buốt làm mồ hôi lạnh túa ra thái dương, hòa cùng nước mưa rịn trên trán. Tôi ho một tràng cộc cằn, nhổ toẹt một bãi đờm đen lẫn tia máu tươi xuống nền đất sũng nước dưới chân ngôi mộ tập thể không bia đá.
Trước mặt tôi, Nguyễn Hữu Trí vẫn đứng bất động. Bàn tay gầy guộc đầy vết chai và sẹo của ông ta giơ tờ biên bản kết luận điều tra gốc năm 2004 ra trước mặt tôi. Miếng sáp niêm phong màu đỏ sẫm vừa bị móng tay ông ta bẻ gãy rơi lả tả xuống cỏ dại.
Dưới ánh sáng nhờ nhợ của buổi ban trưa mờ mịt sương núi, con dấu tròn đỏ chót của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và dòng chữ ký bằng mực xanh đen hiện lên rõ mồn một.
Nét chữ sắc, gãy gọn, đuôi chữ ký kéo dài một vệt dứt khoát như một nhát chém.
Bên dưới là con dấu chức danh:
Thượng tá Đỗ Khắc Khiêm – Phó Cục trưởng, Trưởng ban Chuyên án 1104.
Cả người tôi đông cứng lại. Gió đồi thông rít qua các kẽ bia mộ nghe như tiếng rên siết của những linh hồn bị chôn vùi dưới ba tấc đất lạnh.
Đỗ Khắc Khiêm.
Bây giờ ông ta là Trung tướng, Thứ trưởng phụ trách khối Cảnh sát, người ngồi trên đỉnh tháp quyền lực của toàn bộ lực lượng điều tra hình sự cả nước.
Tôi biết cái tên đó. Tôi biết quá rõ.
Ba năm trước, lệnh điều động khẩn cấp mở rộng chuyên án triệt phá đường dây buôn người ở hẻm Cầu Muối không xuất phát từ Phòng Cảnh sát hình sự Công an Thành phố. Đó là công điện mật hỏa tốc có chữ ký phê duyệt từ cấp Cục, chỉ định đích danh Đại úy Nguyễn Tuấn làm mũi trưởng mũi xung kích số một, chốt chặn ở ngã ba hẻm cụt dẫn ra bờ kênh.
Tôi là người phân bổ vị trí cuối cùng dựa trên sơ đồ trinh sát. Khi phát súng oan nghiệt nổ ra từ bóng tối xuyên thủng tim Tuấn, tôi đã tự xé nát đời mình. Tôi ném tấm thẻ ngành, giấu khẩu K54 vào đáy tủ sắt, dạt về con hẻm ngập nước Quận 4 để uống rượu và gặm nhấm cảm giác tội lỗi của một kẻ đã gián tiếp giết chết thằng em thân nhất.
Hóa ra không phải tôi điều Tuấn vào chỗ chết.
Hóa ra ngay từ khoảnh khắc Tuấn bắt đầu chạm vào hồ sơ lưu trữ về hai trăm triệu đồng chuyển khoản giữa Công ty Tây Nguyên của Mai Thị Ngọc Lan và viên thanh tra Đinh Trọng Phúc năm 2004, bản án tử hình của Tuấn đã được ký duyệt bởi chính bàn tay này.
Bàn tay của viên Trưởng ban chuyên án đã nhận một triệu đô la và mười phần trăm cổ phần tài nguyên ngầm của Đồi Thông Xanh để kết luận tám mạng người chết cháy chỉ là do một mẩu dây điện bị chuột cắn.
– Cậu nhận ra chữ ký này chứ, Đội phó Vũ? – Giọng Nguyễn Hữu Trí khàn đặc, đục ngầu như nước suối đầu nguồn mùa lũ.
Tôi không trả lời. Tôi giật lấy tờ giấy pơ-luya ố vàng. Mép giấy đã mủn vì thời gian, nhưng từng dòng chữ đánh máy cơ chữ sắc nét vẫn lạnh lùng phơi bày sự thật ghê tởm:
"Sau khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, giám định dấu vết cháy nổ và lấy lời khai các nhân chứng liên quan, Ban Chuyên án kết luận: Vụ cháy tại cơ sở Mái ấm Hướng Dương xảy ra lúc 01 giờ 30 phút ngày 12 tháng 11 năm 2004 phát sinh từ sự cố chập mạch điện tại bảng phân phối điện khu vực bếp nấu. Không phát hiện dấu hiệu tội phạm hình sự. Đề nghị đóng hồ sơ vụ việc..."
Đính kèm phía sau là Phụ lục số 01 của Hợp đồng nguyên tắc, ký ngày 15 tháng 11 năm 2004 — đúng ba ngày sau khi tro tàn của tám đứa trẻ và cô bảo mẫu còn chưa kịp nguội. Bên nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền khai thác khoáng sản và túi nước khoáng ngầm bên dưới mười lăm héc-ta đất rừng là một công ty bình phong đứng tên một người cháu ruột của Đỗ Khắc Khiêm.
– Hai mươi năm qua, tôi đã sống như một con chuột cống. – Trí gằn giọng, khóe môi kéo giật vết sẹo dài trên má. – Tôi nhìn bọn chúng thăng quan tiến chức. Nhìn Quốc thành đại gia nghìn tỷ, nhìn Hưng ngồi ghế thẩm định quy hoạch, nhìn Cao xây biệt thự ven sông Sài Gòn, nhìn Phát leo lên ghế Phó Giám đốc Công an thành phố, và nhìn Khiêm bước vào hàng ngũ lãnh đạo tối cao. Chúng xây lâu đài trên xương tủy của con Lan và những đứa trẻ mồ côi. Pháp luật của các người ở đâu? Huy hiệu công lý của các người để làm gì?
Tôi siết chặt tờ giấy trong tay đến mức ngón tay trắng bệch.
– Ông đã ở đó đêm 12 tháng 11. – Tôi nhìn thẳng vào mắt Trí. – Ông thấy Phúc đổ xăng. Ông thấy Phát đỗ xe U-oát đầu dốc. Ông thấy Luân cầm mã tấu. Tại sao suốt hai mươi năm ông không mở miệng?
– Mở miệng để làm gì? – Trí cười khẩy, nụ cười méo mó cay độc. – Mở miệng để bị một phát đạn vào đầu hay một vụ tai nạn xe bồn như Ngô Bách Hưng? Tôi phải sống. Tôi phải sống để nuôi thằng Tuấn ăn học thành người, để đưa hai đứa nhỏ còn sống sót trốn khỏi cái thành phố đầy sương độc này. Tôi chờ ngày thằng Tuấn đủ lông đủ cánh để tự tay lật lại hồ sơ. Nhưng các người... chính cái hệ thống thối nát của các người đã giết chết nó trước khi nó kịp đưa sự thật ra ánh sáng!
– Đăng... – Tôi buột miệng, lồng ngực lại nhói lên dữ dội. – Thằng Đăng là một trong hai đứa trẻ sống sót?
Trí im lặng. Đôi mắt sâu hoắm của ông ta nhìn chằm chằm vào ngôi mộ cỏ xanh rì.
– Thằng bé mang trên mình vết bỏng ăn sâu vào tận xương tủy từ năm sáu tuổi. Đêm đó, con Lan đã lấy thân mình che cho nó dưới gầm giường bếp rồi đẩy nó qua ô cửa thông gió trước khi mái nhà sập xuống. Nó sống không phải để làm cảnh sát. Nó thi vào ngành chỉ để đến ngày hôm nay.
– Nó đã hạ độc Huỳnh Trí Cao bằng xyanua bọc gelatin. Nó dàn cảnh đâm xe Ngô Bách Hưng. Nó ép Phạm Kiến Quốc phải đền mạng. – Tôi bước lên một bước, đối diện với Trí. – Nhưng thằng Đăng không thể một mình làm hết chừng đó việc. Người bẻ khớp tay tôi ở hành lang Grand Panorama, kẻ lặn dưới sông Sài Gòn mang can-ô nghi binh, kẻ vừa châm lửa giật sập tầng hầm khách sạn Grand Palace... là ai?
Trí không chớp mắt. Gió thổi tung mái tóc hoa râm xơ xác của ông ta.
– Công lý không bao giờ là việc của một người, Đội phó Vũ. Khi một đám cháy đã bùng lên, nó sẽ tự tìm đến những thứ cần bị thiêu rụi. Bản án thứ năm đã được kích hoạt. Không ai dừng nó lại được nữa.
– Mục tiêu thứ năm là Đỗ Khắc Khiêm? – Tôi hỏi dồn. – Ông ta đang ở Hà Nội. Các người định làm gì? Giết một Thứ trưởng ngay giữa thủ đô bằng bom hay thuốc độc? Các người nghĩ như vậy là trả thù xong sao? Cả cái đất nước này sẽ bị xáo trộn, và các người sẽ biến thành những kẻ khủng bố không hơn không kém!
– Khiêm không ở Hà Nội. – Trí lạnh lùng cắt ngang lời tôi. – Trịnh Văn Phát tổ chức cuộc diễn tập phòng chống khủng bố tại Grand Palace sáng nay không phải vì ngẫu nhiên. Khiêm đã bay chuyên cơ vào sân bay Liên Khương từ sáu giờ sáng để trực tiếp thị sát việc 'xóa sổ' toàn bộ bằng chứng và nhóm các người. Hắn đang ở Đà Lạt. Ngay lúc này.
Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng tôi.
Trịnh Văn Phát chỉ là con tốt gác cổng. Kẻ thực sự đứng sau giật dây chỉ đạo chiến dịch vây bắt, phát lệnh truy nã đặc biệt toàn quốc và điều động lực lượng phong tỏa toàn diện tỉnh Lâm Đồng chính là Đỗ Khắc Khiêm.
Đúng lúc đó, tiếng cành thông gãy răng rắc vang lên từ phía bìa rừng cách chúng tôi chừng năm mươi mét.
Tiếng động cơ xe bán tải gầm rú xé toạc không gian tĩnh mịch của nghĩa trang. Ánh đèn pha công suất lớn quét qua màn sương, rọi thẳng vào những hàng bia mộ xi măng xám xịt. Tiếng bộ đàm công vụ rọt rẹt vang lên đanh gọn:
"Tổ một khóa lối vào cổng nghĩa trang Đồi Thông! Tổ hai rà soát khu vực sườn đồi phía Đông! Đối tượng Trần Vũ có vũ trang, đặc biệt nguy hiểm. Phát hiện mục tiêu được phép nổ súng tiêu diệt tại chỗ!"
Lực lượng Cảnh sát Cơ động. Họ đã lần ra dấu vết của tôi nhanh hơn tôi tưởng.
Khói lửa ở khách sạn Grand Palace và cái chết chưa rõ ràng của Trịnh Văn Phát đã biến toàn bộ cao nguyên này thành một chảo lửa sôi sục. Khiêm không cho phép bất kỳ nhân chứng nào sống sót rời khỏi Lâm Đồng trước mười hai giờ trưa.
Tôi cúi người, bàn tay siết chặt đoạn xà beng sắt dính đầy bùn đất. Ngực trái tôi thắt lại khi cử động mạnh, cơn đau làm tầm nhìn của tôi nhòe đi trong một giây.
– Chạy đi! – Tôi nghiến răng nói với Trí. – Phía sau đồi có đường mòn dẫn xuống thung lũng rau.
– Tôi không chạy. – Nguyễn Hữu Trí thản nhiên cất nửa bản hợp đồng và tờ biên bản có chữ ký của Đỗ Khắc Khiêm vào túi ngực áo khoác gió sờn rách, kéo khóa lại cẩn thận. – Tôi đã đứng ở đây đợi chúng suốt hai mươi năm. Hôm nay là ngày giỗ của con Lan và tụi nhỏ. Tôi không đi đâu hết.
– Đừng có điên! – Tôi gắt lên, ho khùng khục ra một búng máu đặc. – Ông chết thì ai làm nhân chứng trước tòa?
– Tòa án của các người không bao giờ kết tội được những kẻ ngồi ở ghế Thứ trưởng. – Trí nhìn tôi, ánh mắt lạnh như tro tàn. – Đăng đã hoàn thành nhiệm vụ của nó. Bây giờ đến lượt cậu, Trần Vũ. Cậu nợ thằng Tuấn một mạng. Hãy mang chiếc phong bì này giao cho người có thể lật đổ bàn cờ.
Trí rút từ túi quần ra một chiếc chìa khóa tủ sắt cũ kỹ có khắc số 304, dằn mạnh vào lòng bàn tay tôi.
– Tủ gửi đồ ga xe lửa Đà Lạt. Bên trong là toàn bộ bản ghi âm lời khai của Luân 'Mã Tấu' trước khi chết đuối ở hồ Trị An và nhật ký hối lộ của Huỳnh Trí Cao. Cầm lấy và biến khỏi đây!
Ánh đèn pha thứ hai quét trúng lưng tôi. Tiếng đạn lên nòng lách cách vang lên sắc lạnh giữa rừng thông.
"Đứng im! Bỏ vũ khí xuống đất! Giơ hai tay lên đầu!"
Hai bóng đen mặc áo giáp chống đạn, cầm tiểu liên báng gấp lao ra từ sau gốc thông cổ thụ, họng súng chĩa thẳng vào ngực tôi. Khoảng cách chưa đầy mười lăm mét.
Tôi không có súng. Khẩu K54 của tôi đã hết sạch đạn từ trận chiến ở gác xép Quận 4.
Nguyễn Hữu Trí đột ngột gầm lên một tiếng như thú dữ bị dồn vào đường cùng. Ông ta không bỏ chạy. Ông ta rút từ trong bọc áo mưa ra một chai thủy tinh chứa đầy chất lỏng màu vàng nhạt có gắn đoạn giẻ lau tẩm dầu hỏa, châm lửa bằng một que diêm gạt dứt khoát.
Ngọn lửa bùng lên trong chớp mắt. Trí ném thẳng chai xăng về phía hai tay súng cơ động.
Bùm!
Một bức tường lửa bùng lên giữa màn sương mù ẩm ướt. Sức ép của vụ nổ hất tung bùn đất và lá thông khô. Hai người lính cơ động hoảng loạn lùi lại, vừa bắn trả một loạt đạn vu vơ xé toạc thân cây thông phía sau.
– Chạy mau! – Trí hét lên trong màn khói lửa bốc cao, thân hình gầy cộc của ông ta lao ngược về phía luồng đèn pha của chiếc xe bán tải để thu hút toàn bộ hỏa lực.
Tôi nghiến răng, cơn đau từ hai xương sườn gãy như muốn bẻ đôi lồng ngực. Tôi không thể chần chừ. Tôi xoay người, cắm đầu lao xuống con dốc trơn trượt phủ đầy lá thông mục phía sau ngôi mộ tập thể.
Tiếng súng nổ rát phía sau lưng tôi. Tiếng đạn găm vào thân cây thông bôm bốp như pháo nổ. Tôi lăn tròn qua hai bờ đất cao, bùn đỏ và nước mưa dính bê bết vào mặt, vào miệng có vị mằn mặn của đất và máu.
Đến đáy thung lũng, tôi nấp sau một khối đá lớn rêu phong, thở dốc từng hơi ngắt quãng. Phổi tôi như đang bị bóp nghẹt.
Trên đỉnh đồi, tiếng súng đã ngớt. Ánh đèn pha gom lại một điểm duy nhất bên cạnh ngôi mộ tập thể. Tôi biết Nguyễn Hữu Trí đã bị khống chế hoặc đã ngã xuống.
Tôi nhìn xuống bàn tay mình. Chiếc chìa khóa tủ sắt số 304 ướt đẫm nước mưa và máu tươi từ vết thương rách toạc trên ngón tay tôi.
Rung.
Chiếc điện thoại Nokia cục gạch trong túi quần tôi rung lên bần bật. Tôi bấm nghe, áp sát vào tai, cố nén tiếng thở hổn hển.
Giọng Hạ Băng vang lên gấp gáp nhưng rành rọt qua đường truyền rè đặc:
– Vũ! Anh đang ở đâu?
– Tôi vừa thoát khỏi nghĩa trang Đồi Thông. Cơ động đã phong tỏa khu vực. – Tôi thì thào, cổ họng bỏng rát. – Tình hình ở Liên Nghĩa thế nào?
– Đăng đã qua cơn nguy kịch tạm thời. Tôi đã đặt ống dẫn lưu khoang màng phổi trái, dịch máu và khí đã được giải phóng hoàn toàn, huyết áp ổn định ở mức 110 trên 70. Nhưng... có chuyện không ổn.
– Chuyện gì?
– Khi Đăng tỉnh lại cách đây mười phút, cậu ấy không hỏi về vết thương của mình. Cậu ấy chỉ nhìn đồng hồ trên tường trạm xá rồi nói đúng một câu: 'Mười một giờ ba mươi, phòng trà Đồng Khởi ở Đà Lạt sẽ mở cửa đón vị khách cuối cùng.'
Đồng Khởi.
Cái tên đó giáng mạnh vào tâm trí tôi.
Đó chính là địa điểm mà Phạm Kiến Quốc đã nhắc đến trong đoạn băng ghi âm trăn trối: nơi hai mươi năm trước bản hợp đồng cướp đất Đồi Thông Xanh và cái chết của tám sinh mạng được đóng dấu ký kết dưới sự chứng kiến của kẻ giữ con dấu vàng. Một phòng trà xưa cũ nằm khuất trên đường Lê Hồng Phong, nay đã đổi tên thành phòng trà Ký Ức.
– Lê Hoàng đâu? – Tôi hỏi dồn.
– Hoàng vừa liên lạc bằng máy vệ tinh. – Hạ Băng đáp, giọng cô chùng xuống đầy căng thẳng. – Hoàng Yến đã khai ra tọa độ máy chủ. Hộp thư điện tử từ Zurich vừa gửi về một thông điệp tự hủy: Mai Thị Ngọc Lan không ở Campuchia. Mụ ta đã có mặt tại phòng trà Ký Ức từ nửa tiếng trước để gặp Đỗ Khắc Khiêm giải quyết nốt món nợ cổ phần trước khi chuyên cơ cất cánh.
Một cái bẫy hoàn hảo.
Đăng không chỉ dùng thân mình làm mồi nhử ở Chí Hòa. Cậu ta đã tính toán từng giây, từng phút để kéo toàn bộ những kẻ thủ ác còn sống sót về đúng nơi tội ác bắt đầu hai mươi năm trước.
Phát đã bị thiêu ở Grand Palace. Phúc chết cháy ở Rạch Lăng. Hưng nát thây ở ngã tư Hàng Xanh. Cao ngộ độc ở Thảo Điền. Quốc treo cổ ở penthouse.
Và màn hạ màn cuối cùng được sắp đặt cho hai kẻ cầm đầu tối cao: Mai Thị Ngọc Lan và Trung tướng Đỗ Khắc Khiêm.
Kẻ mặc áo mưa đen cầm bật lửa Zippo ở hầm Grand Palace không biến mất. Hắn đang trên đường đến phòng trà Ký Ức để thi hành bản án thứ năm.
– Băng. – Tôi nói, giọng khàn đặc nhưng đanh lại như thép nguội. – Báo cho Ba Cháy chuẩn bị xe. Đưa Đăng rời trạm xá ngay lập tức. Công an huyện Đức Trọng sắp ập vào rồi.
– Còn anh? Anh định làm gì với hai cái xương sườn gãy đó?
Tôi nhìn lên đỉnh đồi thông mù sương, nơi ánh đèn xe cảnh sát vẫn đang lùng sục. Tôi siết chặt chiếc chìa khóa số 304 trong lòng bàn tay, cảm nhận góc kim loại sắc nhọn cắm sâu vào da thịt để giữ cho đầu óc mình tỉnh táo.
– Tôi phải đến phòng trà Ký Ức. – Tôi nhổ bãi máu trong miệng ra nền đất đỏ. – Tôi không đến để cứu Đỗ Khắc Khiêm. Tôi đến để thay thằng Tuấn đòi lại món nợ ba năm trước.
Tôi cúp máy, nhét chiếc điện thoại vào túi, chống đoạn xà beng gượng đứng dậy.
Đúng lúc tôi bước chân đầu tiên lên con đường mòn xuyên qua rừng thông để hướng về trung tâm thành phố, màn hình chiếc Nokia trong túi lại sáng lên một lần nữa.
Không có chuông. Chỉ có một tin nhắn SMS ngắn gọn gửi từ một số máy nội bộ của Bộ Công an, vỏn vẹn sáu chữ:
"Mười hai giờ. Đừng đến muộn."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.