Giao Lộ Mờ Sương

Chương 27: Tiếng Thở Trong Sương

Đăng: 17/08/2026 17:40 4,011 từ 1 lượt đọc

Mùi lưu huỳnh bám chặt vào cổ họng tôi như một lớp màng nhầy.

Tôi quỳ trên lớp lá thông mục ở sườn dốc phía sau Grand Palace, ho thốc ra một búng đờm đen đặc lẫn máu tươi. Mỗi cơn co thắt ở lồng ngực làm hai cái xương sườn số sáu và số bảy bên trái nghiến vào nhau ken két. Cảm giác đau buốt như có ai lấy mũi dùi nung đỏ chọc thẳng vào màng phổi.

Phía trên đỉnh dốc, ngọn lửa từ tầng hầm khách sạn vẫn đang nuốt chửng sảnh chính. Tiếng bê tông nứt toác vọng qua màn sương mù đặc quánh. Trịnh Văn Phát cùng toán cảnh sát cơ động của ông ta giờ này có lẽ đang nếm trải chính cái nóng mà những đứa trẻ ở Mái ấm Hướng Dương phải chịu hai mươi năm trước.

Công lý đôi khi đến muộn, nhưng nó thường chọn cách tàn nhẫn nhất để thanh toán nợ nần.

Lê Hoàng đứng tựa lưng vào một gốc thông già, khẩu K54 hết đạn đã được nhét lại vào thắt lưng. Vết rách trên trán anh ta máu chảy dài xuống mí mắt, đỏ lòm một bên mặt. Hoàng không lau. Anh ta chỉ nhìn chằm chằm vào chiếc đồng hồ cơ trên cổ tay.

Mười một giờ mười lăm phút trưa.

"Đăng chỉ còn bốn mươi lăm phút," Hoàng nói, giọng khàn đặc vì khói độc. "Nếu Hạ Băng không mở được ngực trước mười hai giờ, thằng bé sẽ chết vì ép tim cấp."

Tôi không đáp. Bàn tay run rẩy siết chặt ống nhựa PVC màu xám vừa bóc ra từ chân bục tượng thạch cao.

Bên trong ống nhựa là hai thứ: nửa bản hợp đồng kinh tế rách mép có đóng dấu mật mã hình bông hoa dã quỳ của Bên B — tức Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Hạ tầng Tây Nguyên do bà Mai Thị Ngọc Lan đứng tên — và một bức ảnh chụp ngôi mộ tập thể không bia đá tại nghĩa trang Đồi Thông.

Dưới chân tôi, Hoàng Yến ngồi co ro giữa đống rác thải và cành cây khô. Bộ váy hàng hiệu đắt tiền rách bươm, dính đầy bùn đất đỏ và muội than. Lớp phấn son lem luốc khiến khuôn mặt kiêu kỳ thường ngày của cô ta trông thảm hại như một kẻ tâm thần vừa trốn trại.

Tôi bước lại gần, dùng mũi giày gạt đám cành thông vướng víu, cúi người nhìn thẳng vào mắt ả.

"Mẹ cô hẹn cô ở đâu tại Campuchia?"

Hoàng Yến giật bắn mình, ngước lên nhìn tôi bằng ánh mắt hoảng loạn. Hàm răng cô ta va vào nhau cầm cập:

"Tôi... tôi không biết chính xác. Mẹ chỉ bảo khi nào cầm được bản hợp đồng gốc và chuyển nốt phần tiền còn lại sang tài khoản chỉ định, bà ấy sẽ gửi tọa độ điểm hẹn qua hộp thư điện tử mã hóa. Địa chỉ IP máy chủ đặt ở Zurich, Thụy Sĩ. Mỗi lần gửi xong là thư tự hủy sau sáu mươi giây."

"Bà Lan không hề chết năm 2009," tôi gằn giọng. "Vụ cháy xe ở đèo Bảo Lộc là do Phát và bố cô dựng lên để mẹ cô ôm năm mươi triệu đô la trốn ra nước ngoài, đúng không?"

"Tôi thề là tôi mới biết chuyện mẹ còn sống cách đây ba tháng!" Hoàng Yến khóc nấc lên, hai tay ôm lấy đầu. "Khi bố tôi nhận được bức ảnh đầu tiên gạch mặt ông ấy gửi về nhà... ông ấy bắt đầu phát điên. Ông ấy gom hết tiền mặt, chuyển sạch sang Thụy Sĩ. Ông ấy bảo kẻ châm lửa năm xưa đã quay lại đòi mạng từng người một. Bố tôi bảo chỉ có mẹ mới cứu được chúng tôi..."

Tôi bật cười, một nụ cười khô khốc và đầy mỉa mai.

Hóa ra cái gọi là tầng lớp thượng lưu, những kẻ mặc vest sang trọng ngự trị trên đỉnh cao ốc Quận 1 hay những căn biệt thự ven sông Thảo Điền, bản chất cũng chỉ là một lũ chuột cống dắt díu nhau chạy trốn khi căn nhà bắt đầu bén lửa. Chúng dùng máu của người nghèo để xây biệt phủ, rồi lại dùng tiền bẩn để mua đường sống cho bản thân.

"Hoàng," tôi quay sang cựu Đội trưởng Trọng án. "Cậu đưa cô ta xuống đường gom phía dưới. Tìm một chiếc xe ôm hoặc cướp một chiếc xe máy nào đó đưa cô ta về giấu ở ngoại ô. Giữ chặt ả. Hoàng Yến là chìa khóa duy nhất để lôi Mai Thị Ngọc Lan về nước."

Lê Hoàng nhíu mày nhìn tôi:

"Còn anh?"

Tôi giơ bức ảnh thứ bảy lên trước mặt anh ta. Bức ảnh chụp nấm mồ vô danh phủ đầy cỏ dại, phía trước đặt một bó hoa dã quỳ tươi và bao thuốc lá Thăng Long bóc dở.

"Tôi phải lên nghĩa trang Đồi Thông. Kẻ giữ chiếc chìa khóa cuối cùng đang đợi tôi ở đó."

"Anh điên rồi à Vũ?" Hoàng bước tới túm lấy vai tôi, ánh mắt rực lửa giận dữ. "Phát có thể đã chết cháy trong sảnh, nhưng lính cơ động và công an Lâm Đồng đang lùng sục khắp cái thành phố này. Anh là đối tượng truy nã đặc biệt! Hơn nữa, Đăng đang hấp hối ở Liên Nghĩa. Nếu không có người hỗ trợ, một mình Hạ Băng và Ba Cháy không thể giữ được trạm xá nếu cảnh sát ập vào!"

Tôi gạt tay Hoàng ra, lồng ngực lại nhói lên một cơn đau xé thịt.

"Chính vì Đăng đang nằm ở đó nên tôi mới phải đi," tôi nghiến răng, giọng trầm xuống. "Hoàng, cậu chưa nhìn ra sao? Toàn bộ chuyện này không phải là một chuỗi ám sát ngẫu nhiên. Nó là một kịch bản được tính toán chính xác tới từng giây suốt hai mươi năm. Từ cái chết của Quốc trong phòng kín, vụ xe bồn đè bẹp Ngô Bách Hưng, vụ thiêu sống Đinh Trọng Phúc, ly rượu xyanua của Huỳnh Trí Cao, cho tới vụ hỏa hoạn vừa rồi tại Grand Palace..."

Tôi dừng lại một nhịp, nhìn vào mắt người đồng đội cũ:

"Kẻ chủ mưu không chỉ muốn giết những kẻ thủ ác. Hắn muốn tái hiện toàn bộ tội ác năm 2004 ra giữa thanh thiên bạch nhật. Đăng là một phần của cỗ máy đó, nhưng Đăng không hành động một mình. Kẻ mặc áo mưa đen vừa châm lửa dưới hầm B1 là ai? Và ai là người đã đặt bó hoa dã quỳ lên ngôi mộ tập thể sáng nay?"

Hoàng im lặng. Gió núi thổi qua rặng thông rít lên từng hồi u uất, mang theo hơi nước buốt lạnh của cao nguyên.

"Bản án thứ năm không dành cho kẻ có tội," tôi lẩm bẩm lại dòng chữ viết tay sau bức ảnh. "Nó dành cho kẻ đã chọn cách im lặng. Nếu tôi không tới nghĩa trang Đồi Thông, bản án đó sẽ được thi hành. Và khi ấy, sự thật về sự hy sinh của Tuấn ba năm trước, về bản hợp đồng ba bên nhuốm máu này sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi dưới lòng đất."

Hoàng nhìn tôi hồi lâu. Cuối cùng, anh ta thò tay vào túi áo khoác, rút ra một chiếc điện thoại "cục gạch" cũ kỹ ném cho tôi.

"Số của Băng lưu ở phím số một. Giữ liên lạc. Nếu sau mười hai giờ trưa anh không gọi lại, tôi sẽ coi như anh đã chết."

Tôi bắt lấy chiếc điện thoại, gật đầu dứt khoát rồi quay người bước thọc sâu vào rừng thông, men theo con đường mòn phủ đầy sương mù hướng về phía nghĩa trang Đồi Thông.

*

Mười một giờ hai mươi lăm phút.

Tại trạm y tế tư nhân bỏ hoang ở ngoại ô thị trấn Liên Nghĩa, cách Đà Lạt ba mươi cây số về phía nam.

Căn phòng phẫu thuật dã chiến sặc sụa mùi cồn sát trùng, mùi rỉ sét của giường sắt cũ và mùi máu tanh nồng. Ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn dây tóc công suất thấp treo lơ lửng trên trần nhà đung đưa theo từng cơn gió lùa qua khe cửa sổ vỡ kính.

Ba "Cháy" đứng chắn ngay trước lối vào hành lang, hai tay nắm chặt cây xà beng thép dài một mét hai, dưới chân là hai can xăng loại hai mươi lít đã mở sẵn nắp. Gương mặt người tài xế già đen đúa, hằn sâu những nếp nhăn của gió bụi đường trường, đôi mắt vằn đỏ như mắt hổ rình mồi. Bên ngoài sân, tiếng còi xe tuần tra của công an huyện Đức Trọng thi thoảng lại rú lên từng chặp đứt quãng từ phía Quốc lộ 20 dội vào.

"Bác sĩ Băng!" Ba Cháy gầm gừ qua kẽ răng mà không ngoái đầu lại. "Mấy chiếc bồ câu trắng vừa lượn qua đầu ngõ. Tôi rải đinh và chuẩn bị sẵn xăng rồi. Đứa nào xông vào đây lúc cô đang mổ, tôi cho nó thành heo quay hết!"

Bên trong phòng mổ, Hạ Băng dường như không nghe thấy tiếng gầm của Ba Cháy. Cô hoàn toàn đắm chìm trong thế giới băng giá của một bác sĩ pháp y kiêm phẫu thuật viên ngoại khoa.

Nguyễn Minh Đăng nằm ngửa trên bàn mổ inox han rỉ. Lồng ngực trần của cậu ta tím tái, phập phồng yếu ớt và giật cục. Bên ngực trái phồng căng bất thường, tĩnh mạch cổ nổi ngoằn ngoèo như những con giun đất dưới lớp da nhợt nhạt. Khí và máu ứ đọng trong khoang màng phổi đang tạo ra một áp lực khổng lồ, chèn ép toàn bộ phổi trái và đẩy lệch khối trung thất sang bên phải, bóp nghẹt tâm thất trái của trái tim đang đập rời rạc.

Ống dẫn lưu tự chế bằng dây truyền dịch cắm ở khoang liên sườn số hai đã bị đông cứng hoàn toàn bởi một cục máu đông sẫm màu.

"Áp lực nội ngực vượt ngưỡng bốn mươi mi-li-mét thủy ngân," Hạ Băng lẩm bẩm một mình, giọng nói lạnh tanh không một gợn sóng dù trán cô ướt đẫm mồ hôi. "Nhịp tim tụt xuống bốn mươi hai chu kỳ một phút. Huyết áp động mạch không đo được."

Cô dùng kéo y tế cắt phăng lớp băng gạc cũ quấn quanh thắt lưng của Đăng.

Dưới ánh đèn vàng đục, một mảng sẹo lớn hiện ra. Đó là vết tích của một ca phẫu thuật ghép da diện rộng do bỏng sâu độ ba, bề mặt da lồi lõm, co rút và mất hoàn toàn tuyến mồ hôi. Mô sẹo kéo dài từ bờ sườn trái vòng qua mào chậu, một kiểu tổn thương đặc trưng chỉ xuất hiện khi nạn nhân bị đè dưới các thanh xà gồ gỗ đang cháy rừng rực trong một không gian kín.

Một đứa trẻ sống sót từ biển lửa.

Hạ Băng cầm dao mổ số mười một. Lưỡi thép sáng loáng phản chiếu ánh mắt kiên định của cô. Không có máy gây mê toàn thân, không có monitor theo dõi hiện đại, chỉ có một lọ thuốc gây tê tại chỗ Lidocain cạn đáy và bình oxy dã chiến sắp hết áp suất.

Cô đưa ngón tay trỏ tay trái xác định khoang liên sườn số năm trên đường nách giữa bên trái của Đăng.

"Đăng," Băng khẽ nói, dù biết cậu ta đang hôn mê sâu. "Cố mà thở. Tôi không để cậu chết dễ dàng thế đâu."

Một đường rạch dứt khoát dài bốn xăng-ti-mét rạch ngọt qua da và lớp mỡ dưới da. Máu đỏ sẫm trào ra. Băng không chớp mắt, dùng kẹp phẫu thuật tách từng thớ cơ liên sườn, luồn mũi kìm cong chọc thủng lá thành màng phổi.

*Xùy!*

Một tiếng rít chói tai vang lên kèm theo luồng khí nén và máu đen đặc bắn tung tóe lên tấm kính chắn giọt bắn của Hạ Băng.

Áp lực trong lồng ngực được giải tỏa tức thì. Lồng ngực Đăng hạ xuống một cách đột ngột.

Băng lập tức đưa ngón tay trỏ mang găng cao su luồn sâu vào vết mổ, phá vỡ các khoang dịch và cục máu đông đang bám chặt quanh nhu mô phổi. Đôi bàn tay thanh mảnh của cô di chuyển chuẩn xác và lạnh lùng như một cỗ máy, cảm nhận từng nhịp đập yếu ớt của trái tim chàng trinh sát trẻ ngay sát đầu ngón tay mình.

Trên bàn mổ, ngón tay trỏ bàn tay phải của Nguyễn Minh Đăng khẽ co giật.

Ba nhịp gõ nhẹ lên mặt bàn inox. Dừng một giây. Lại ba nhịp gõ.

Đó là một phản xạ vô thức đã ăn sâu vào tủy sống.

*

Mười một giờ ba mươi lăm phút.

Tôi đứng trước cổng Nghĩa trang Đồi Thông.

Đà Lạt trưa nay không có nắng. Sương mù từ các thung lũng sâu cuồn cuộn bốc lên, nuốt chửng những rặng thông ba lá và biến toàn bộ sườn đồi thành một nghĩa địa xám xịt, lạnh buốt thấu xương. Mùi đất ẩm mốc, mùi lá thông mục hòa quyện với mùi nhang tàn tạo nên một bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.

Tôi kéo sụp vành mũ áo khoác rách, bước chầm chậm qua cổng sắt hoen gỉ. Bàn tay phải thọc sâu trong túi áo, nắm chặt chiếc bật lửa kim loại và bức ảnh thứ bảy.

Nghĩa trang này là nơi chôn cất những người vô danh, những kẻ chết đường chết chợ hoặc những gia đình nghèo không có tiền mua đất ở nghĩa trang thành phố. Những ngôi mộ đất nhấp nhô, cỏ dại mọc lút đầu gối.

Tôi đi men theo con đường mòn phủ đầy rêu trơn trượt, hướng về phía khuất nhất của đồi thông — nơi có một khoảnh đất bằng phẳng nằm dưới chân một cây thông cổ thụ bị sét đánh cháy xém một nửa thân.

Ngôi mộ tập thể nằm ở đó.

Không có bia đá hoa cương sang trọng như mộ phần của các đại gia ở Sài Gòn. Chỉ có một khối bê tông thô ráp hình chữ nhật dài năm mét, rộng ba mét, phủ đầy rêu phong và hoa dại. Phía trước khối bê tông là một tấm bia xi măng nhỏ đã nứt nẻ, nét chữ khắc chìm mờ nhạt:

*Nơi yên nghỉ của các nạn nhân vụ hỏa hoạn ngày 12 tháng 11 năm 2004.*

Tám sinh mạng. Bảy đứa trẻ mồ côi và một cô bảo mẫu hai mươi tư tuổi tên Nguyễn Mai Lan.

Họ nằm lại đây, dưới lớp đất đỏ bazan lạnh lẽo suốt hai mươi năm, trong khi những kẻ thiêu sống họ dùng chính mảnh đất đó để xây dựng các khu nghỉ dưỡng triệu đô, dùng tiền đền bù để leo lên những chiếc ghế quyền lực trong bộ máy công quyền và giới tài phiệt.

Trên mặt khối bê tông, một bó hoa dã quỳ vàng rực rỡ vừa được đặt xuống, những cánh hoa vẫn còn đọng những giọt sương mai chưa kịp tan. Cạnh bó hoa là một bao thuốc lá Thăng Long bao mềm đã bóc dở, ba điếu thuốc cắm ngược trên một chiếc bát hương gốm cũ kỹ, khói thuốc màu xanh lơ lờ lững trôi trong màn sương mù.

Và cạnh bát hương là một chiếc bật lửa Zippo bằng đồng xước mờ.

Tôi dừng bước cách ngôi mộ năm mét. Khẩu súng không còn, nhưng tay tôi siết chặt một đoạn xà beng sắt nhặt được ở bãi phế liệu ven đường.

"Đến rồi à, Đội phó Trần Vũ?"

Một giọng nói trầm, khàn đục vang lên từ phía sau gốc thông bị sét đánh.

Một bóng người chầm chậm bước ra từ màn sương.

Gã đàn ông mặc một chiếc áo khoác măng-tô cũ kỹ màu xanh rêu của bộ đội phục viên, chiếc mũ nồi len che khuất nửa vầng trán. Gương mặt gã gầy guộc, làn da sạm đen vì sương gió cao nguyên, khóe mắt chằng chịt những nếp nhăn của một người đã trải qua quá nhiều đau thương.

Nhưng đôi mắt gã thì sáng kỳ lạ. Một ánh sáng sắc lẹm, lạnh lẽo và tuyệt đối không có sự sợ hãi.

Tôi nhìn thẳng vào gã, ngón tay thả lỏng khỏi thanh xà beng.

Tôi nhận ra gã.

Không phải người đàn ông sẹo đang nằm ở Chợ Rẫy. Không phải kẻ mặc áo mưa đen dưới hầm B1 Grand Palace.

"Ông là thầy giáo dạy vẽ của Mái ấm Hướng Dương hai mươi năm trước," tôi nói, giọng bình thản giữa tiếng gió rít. "Hồ sơ lưu trữ của Ty Giáo dục Lâm Đồng năm 2004 có tên ông: Nguyễn Hữu Trí. Anh ruột của cô bảo mẫu Nguyễn Mai Lan, và là bác ruột của Đại úy Nguyễn Tuấn."

Người đàn ông họ Nguyễn khẽ nhếch mép, để lộ hàm răng ố vàng vì khói thuốc. Gã bước lại gần ngôi mộ, cúi người nhặt bao thuốc Thăng Long lên, rút một điếu châm lửa. Ngọn lửa từ chiếc Zippo đồng bùng lên một tia sáng xanh lét trong sương mù.

"Cậu có trí nhớ tốt đấy, Vũ," ông Trí rít một hơi thuốc sâu, nhả làn khói đặc vào không khí. "Nhưng cậu đoán sai một nửa rồi. Tôi không chỉ là thầy giáo dạy vẽ. Tôi là người duy nhất có mặt tại hiện trường lúc hai giờ sáng ngày mười hai tháng mười một năm đó, khi ngọn lửa vừa bùng lên từ gian bếp."

Tôi tiến lên một bước, mắt dán chặt vào từng cử động của ông ta:

"Ông đã thấy Đinh Trọng Phúc dùng xích khóa cửa sau?"

"Tôi thấy tất cả," giọng ông Trí run lên, không phải vì lạnh mà vì một cơn uất hận dồn nén suốt hai thập kỷ. "Tôi thấy chiếc xe U-oát của Trịnh Văn Phát đỗ ở đầu dốc. Tôi thấy Đinh Trọng Phúc xách hai can xăng đổ qua khe cửa sổ. Tôi thấy thằng Luân 'Mã Tấu' cầm mã tấu đứng chặn ở ngã ba đường để ngăn người dân vào cứu hỏa... Tôi nghe thấy tiếng con Lan gào thét, tiếng mấy đứa nhỏ đập cửa... Cửa bị xích chặt bằng xích thép phi mười hai."

"Tại sao hai mươi năm qua ông không tố cáo?" tôi gằn giọng.

"Tố cáo với ai?" Ông Trí cười lớn, một tràng cười chua chát vang vọng khắp sườn đồi nghĩa trang. "Tố cáo với Huỳnh Trí Cao — kẻ vừa ký quyết định giao đất? Tố cáo với Trịnh Văn Phát — kẻ nắm toàn bộ quyền điều tra và tư pháp ở cái tỉnh này? Cậu nghĩ một thằng giáo viên dạy vẽ nghèo kiết xác có thể sống sót được bao nhiêu ngày nếu mở mồm ra?"

Ông ta ném mẩu tàn thuốc xuống nền cỏ, giẫm nát dưới đế giày vải:

"Tôi đã chọn cách im lặng để nuôi thằng Tuấn và cứu hai đứa nhỏ sống sót thoát khỏi thành phố này. Tôi nghĩ thời gian sẽ làm nguôi ngoai... Nhưng ba năm trước, khi thằng Tuấn tìm ra manh mối khoản tiền hai trăm triệu hối lộ và bị bọn chúng gài bẫy bắn chết ở hẻm Cầu Muối... tôi hiểu ra một điều: loài quỷ dữ không bao giờ dừng lại. Nếu pháp luật không thể trừng phạt chúng bằng những bản án trên giấy, thì máu phải trả bằng máu."

"Nên các người lập ra kế hoạch này?" tôi hỏi. "Một mạng lưới báo thù. Người đàn ông sẹo thế mạng ở kho số bốn, kẻ mặc áo mưa đen giật sập Grand Palace, và Nguyễn Minh Đăng cài vào Đội Trọng án để dẫn dắt cuộc điều tra?"

Ông Trí nhìn tôi, ánh mắt sâu thẳm như đáy vực đèo Bảo Lộc:

"Đăng không phải là kẻ cầm đầu, Vũ à. Thằng bé chỉ là một đứa trẻ mang trên mình những vết sẹo không bao giờ lành. Nó vào ngành công an chỉ để tìm lại công lý cho người chị nuôi đã chết cháy để bảo vệ nó. Nhưng kẻ nắm giữ chiếc chìa khóa thực sự... kẻ đã lên kế hoạch chi tiết từng bước đi cho ngày hôm nay... không phải là tôi, cũng không phải là Đăng."

Tim tôi đập mạnh một nhịp.

"Là ai?"

Ông Trí từ từ thò tay vào túi áo khoác măng-tô, rút ra một phong bì ni-lông dày cộm dán kín miệng bằng sáp niêm phong màu đỏ.

"Bản hợp đồng ba bên năm 2004 không chỉ có nửa phần của Luân hay nửa phần giấu trong bức tượng thạch cao," ông Trí nói, giọng trầm đặc. "Bên A là Phạm Kiến Quốc. Bên B là Mai Thị Ngọc Lan. Bên C là Trịnh Văn Phát. Nhưng còn một Phụ lục Hợp đồng số 01 ký ngày mười lăm tháng mười một năm 2004 — ba ngày sau vụ cháy — chuyển nhượng toàn bộ quyền khai thác khoáng sản và nguồn nước ngầm dưới lòng Đồi Thông Xanh cho một nhân vật thứ tư."

"Kẻ đã chọn cách im lặng..." tôi thì thầm.

"Đúng," ông Trí giơ phong bì lên. "Kẻ đó hai mươi năm trước là một điều tra viên cao cấp của Bộ Công an được cử về thụ lý vụ cháy Mái ấm Hướng Dương. Hắn đã nhận một triệu đô la Mỹ và mười phần trăm cổ phần ngầm để ký vào biên bản kết luận nguyên nhân vụ cháy là 'chập điện do sự cố lưới sinh hoạt'. Sau đó, hắn dùng số tiền và quyền lực đó để leo lên tột đỉnh danh vọng."

Đúng lúc đó, chiếc điện thoại cục gạch trong túi áo tôi rung lên bần bật.

Tôi rút máy ra, bấm nút nghe. Giọng nói của Hạ Băng vang lên qua loa ngoài, dồn dập và nghẹt thở giữa tiếng bíp bíp của máy đo nhịp tim tự chế:

"Vũ! Ca mổ mở ngực thành công rồi... Phổi trái của Đăng đã tái nở, áp lực màng phổi đã giải tỏa... Nhưng Đăng vừa tỉnh lại... Cậu ấy vừa nói một câu trước khi lịm đi vì thuốc tê..."

"Cậu ấy nói gì?" tôi siết chặt điện thoại.

Hạ Băng hít một hơi thật sâu, giọng cô run rẩy một cách bất thường — điều tôi chưa từng thấy ở người phụ nữ thép này:

"Đăng bảo... người ký biên bản khám nghiệm hiện trường giả mạo năm 2004... người giữ chiếc chìa khóa cuối cùng... chính là người ba năm trước đã ra lệnh điều động Nguyễn Tuấn chốt chặn ở hẻm Cầu Muối..."

Máu trong người tôi như đông cứng lại.

Một cơn ớn lạnh chạy dọc từ sống lưng lên đỉnh đầu, buốt giá hơn cả sương mù Đà Lạt.

Tôi từ từ hạ chiếc điện thoại xuống, ngước mắt nhìn người đàn ông họ Nguyễn đang đứng bên ngôi mộ tập thể.

Ông Trí không nói gì. Ông ta chỉ lẳng lặng xé lớp sáp niêm phong màu đỏ trên chiếc phong bì, rút ra tờ biên bản kết luận điều tra gốc ố vàng năm 2004, lật đến trang cuối cùng và giơ thẳng chữ ký của vị Trưởng ban chuyên án năm xưa ra trước mắt tôi.

Dưới ánh sáng nhờ nhợ của buổi trưa mờ sương, nét mực đen và con dấu đỏ hiện lên rõ mồn một.

Cái tên ký dưới văn bản đó... là người mà tôi chưa bao giờ ngờ tới.

0