Chương 95: Chuyến Bay Lúc Sáu Giờ Ba Mươi
Màn hình chiếc điện thoại nắp gập dính đầy bùn non vụt tắt sau tiếng tút dài lạnh lẽo.
Mùi bùn lợ của rễ đước Cù Lao Lá xộc thẳng vào mũi tôi, tanh nồng và ẩm mốc. Xung quanh, nước sông Soài Rạp vẫn đập từng đợt ì oạp vào mạn xác chiếc ca-nô vỡ toác. Gã đàn ông lái tàu nằm bẹp dưới chân mạn thuyền, cánh tay bị bắn gãy rũ xuống như một cành cây khô, rên rỉ từng tiếng ngắt quãng giữa bãi sình ngập đến đầu gối.
Tôi cắn chặt môi dưới. Vị tanh của máu tươi đánh thức cơn đau đang âm ỉ dưới lồng ngực trái.
Cái ống dẫn lưu silicon cắm giữa hai xương sườn số năm và số sáu bắt đầu rít lên từng hồi khẽ khàng mỗi khi tôi thở dốc. Bên trong ống nhựa trong suốt, dịch màu hồng cánh sen pha lẫn những bọt khí nhỏ li ti đang trào ngược ra, nhỏ giọt xuống bình áp lực âm mà tôi buộc chặt bên hông bằng một dải băng thun dã chiến. Mỗi nhịp tim đập là một nhát búa giáng thẳng vào màng phổi.
Lê Hoàng bước tới, đế ủng dẫm lún sâu vào lớp bùn nhão nhoét. Cậu ta cúi xuống, một tay xốc nách gã lái tàu lôi đứng dậy, tay kia siết chặt chiếc còng số tám khóa ngoặt hai cổ tay gã ra sau lưng.
"Số máy nội bộ không-bốn-một-một," Hoàng thở hắt ra, hơi thở mang theo mùi khói súng và muối biển. "Số máy bàn của Ban Chỉ huy Cảnh sát Cảng sông cũ. Nó đã bị niêm phong từ sau vụ án năm hai nghìn hai mốt."
"Nó chưa từng bị niêm phong," tôi nói, giọng khàn đặc như có sạn trong thanh quản. "Những kẻ có chìa khóa phòng máy trung tâm thì không bao giờ cần xin phép để mở một đường dây chết."
Tôi lật lại trang cuối cùng của tập hồ sơ bốn trăm trang vừa lấy ra từ chiếc va-ly màu cam. Vết sáp niêm phong màu đỏ bầm in hình hoa dã quỳ tám cánh bị một vệt gạch chéo vẫn còn nguyên vẹn dưới ánh đèn pin cá nhân. Dòng chữ viết tay bằng mực bi đỏ phê duyệt năm trăm ngàn đô-la để rút tổ bọc lót, khóa hồ sơ vụ bắn chết Tuấn ở hẻm Cầu Muối ba năm trước hiện rõ mồn một. Ký hiệu phê duyệt: Cố vấn Kỹ thuật Ban Chỉ đạo Cảng biển.
Trung úy Biên phòng điều khiển chiếc ca-nô tuần tra nhảy xuống bãi bùn, tay cầm khẩu tiểu liên giữ tư thế cảnh giới.
"Báo cáo anh Hoàng, tôi đã phát điện tín về Đồn Nhà Bè," Trung úy nói dứt khoát. "Tàu tuần tra lớn đang vào kéo chiếc ca-nô này về cảng cá Hiệp Phước. Đối tượng này sẽ được bàn giao ngay cho Đội Điều tra Biên phòng theo quy chế tố tụng."
"Giao hắn cho Biên phòng," Hoàng gật đầu, đưa mắt nhìn tôi. "Chúng ta không còn thời gian ở lại bãi đước này nữa."
Tôi liếc nhìn mặt đồng hồ điện tử gài trên cổ tay trái. Năm giờ năm mươi lăm phút.
Ba mươi lăm phút nữa. Sáu giờ ba mươi sáng, chuyến bay đặc biệt từ Đà Lạt sẽ hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất.
"Ba Cháy đang đậu xe ở bến đò tạm bên kia rạch," tôi kéo lại vạt áo khoác dính bết sình non để che chiếc bình dẫn lưu, giọng đanh lại. "Bảo Tí Bo quét ngay lịch bay quân sự và dân dụng đặc biệt từ Liên Khương về Tân Sơn Nhất sáng nay. Bằng mọi giá phải biết chiếc máy bay đó chở cái gì."
Hoàng không nói thêm lời nào. Cậu ta túm lấy cánh tay phải lành lặn của tôi, kéo tôi vượt qua bờ rãnh bùn trơn trượt để bước lên sàn chiếc ca-nô tuần tra. Động cơ máy thủy gầm lên, rẽ màn sương mù dày đặc hướng thẳng về phía bờ bắc sông Soài Rạp.
Gió sớm thổi rát rạt vào mặt. Hơi lạnh mang theo vị mặn của cửa biển làm vết mổ bên sườn tôi co giật từng cơn. Tôi tựa lưng vào thành ca-nô, móc trong túi quần ra điếu thuốc lá Thăng Long cuối cùng. Nó đã bị nước sông ngấm ướt một nửa, đầu lọc bẹp dúm. Tôi ngậm vào môi, ngửi mùi thuốc lá ẩm lẫn mùi lưu huỳnh khét lẹt từ động cơ, rồi thở dài nhét lại vào túi.
Mười phút sau, mũi ca-nô đâm sầm vào mép đất cứng của bến đò tạm xã Long Thới.
Chiếc xe bán tải Ford Ranger của Ba Cháy đã nổ máy chờ sẵn dưới rặng dừa nước. Đèn pha quét qua màn mưa phùn lất phất, chiếu rọi thân xe bám đầy bụi đỏ cao nguyên và bùn sình đường rừng. Ba Cháy ngồi sau vô-lăng, miệng ngậm tăm tre, mắt thâm quầng sau hơn một ngày đêm ôm tay lái không ngủ.
Cửa sau bật mở. Tôi và Hoàng trèo lên khoang lái. Mùi dầu máy, mùi cao su cháy và mùi mồ hôi chua loét đặc trưng của những chuyến xe đường dài xộc vào buồng phổi khiến tôi ho sặc sụa.
"Đi đâu, hai ông nội?" Ba Cháy gạt cần số, bánh xe quay tít bắn bùn tung tóe rồi chồm lên đường nhựa liên tỉnh. "Tao vừa đổ đầy bình dầu ở trạm ngã ba. Đi đứt thêm một bộ phuộc nhún rồi đấy."
"Đại lộ Nguyễn Văn Linh. Hướng thẳng về sân bay Tân Sơn Nhất," Hoàng đáp ngắn gọn, tay thoăn thoắt bấm số trên chiếc điện thoại vệ tinh rồi áp vào tai. "Tí Bo, nghe rõ không?"
Tiếng lách cách bàn phím vang lên giòn giã qua loa ngoài, xen lẫn tiếng quạt gió rít gào của chiếc máy tính ráp nối tại căn phòng trọ ngập nước ở Quận 4.
"Em nghe đây anh Hoàng," giọng Tí Bo khàn đặc vì thiếu ngủ. "Em vừa thâm nhập được vào cổng chuyển tiếp dữ liệu của Trung tâm Quản lý Bay Miền Nam. Băng thông quân sự vừa cấp phép cho một chuyến bay vận tải hạng nhẹ cánh quạt mang số hiệu VN-P88 xuất phát từ sân bay quân sự Cam Ly - Đà Lạt lúc năm giờ bốn mươi phút."
Tôi nghiêng người về phía trước, nén cơn nhói buốt ở mạn sườn:
"Máy bay loại gì? Đăng ký dưới danh nghĩa cơ quan nào?"
"Không phải máy bay dân dụng," Tí Bo gõ phím dồn dập. "Là một chiếc máy bay hai động cơ cánh quạt loại sáu chỗ ngồi của Cục Không quân Hàng hải bàn giao cho Bộ Giao thông Vận tải quản lý kỹ thuật. Hồ sơ bay ghi chú: Bay công vụ hỏa tốc - vận chuyển tài liệu giám định hiện trường địa chất công trình quốc gia. Phê duyệt hạ cánh: Đường lăn A bảy mươi mốt, bãi đỗ VIP phía tây Tân Sơn Nhất lúc sáu giờ hai mươi lăm phút."
"Ai là người ký lệnh cất cánh từ Đà Lạt?" Hoàng hỏi dồn.
"Chữ ký số nội bộ mang mã hiệu VK-1104," Tí Bo đáp. "Kèm theo công điện hỏa tốc đóng dấu mật của Ban Chỉ đạo Cảng biển miền Nam. Đặc biệt, chuyến bay này không làm thủ tục hải quan hay an ninh thông thường qua nhà ga. Xe đặc chủng đón khách được cấp thẻ kiểm soát đặc biệt vào thẳng chân cầu thang máy bay tại Hangar số Ba."
VK-1104.
Mã số duyệt quy hoạch năm 2004 của Võ Khang, kết hợp với ngày thảm sát Mái ấm Hướng Dương: ngày 11 tháng 11 năm 2004.
Chiếc xe bán tải lao vút qua trạm thu phí Nguyễn Văn Linh với tốc độ hơn một trăm cây số một giờ. Ngoài cửa kính, Sài Gòn đang bắt đầu cựa mình thức giấc. Những quán cà phê cóc vỉa hè bắt đầu đỏ lửa đun nước, những chiếc xe đẩy chở hủ tiếu gõ lạch cạch lăn bánh trên vỉa hè ẩm ướt, và những dòng người lao động sớm bắt đầu đổ ra đường từ các con hẻm ngoằn ngoèo của Quận 7, Quận 8.
Cái thành phố này luôn như vậy. Người ta vội vã mưu sinh để kiếm từng đồng bạc lẻ trang trải cho một ngày sống, hoàn toàn không hề hay biết rằng bên dưới lòng cống ngầm hay trên những chuyến bay bí mật trên bầu trời kia, những kẻ mặc vest sang trọng đang chuyển giao những bản hợp đồng máu trị giá hàng chục triệu đô-la để che đậy xác chết của những đứa trẻ vô tội.
Tôi rút tờ biên bản duyệt chi năm trăm ngàn đô-la ra trước ánh đèn trần của xe.
Ngày mười tháng bảy năm hai nghìn hai mốt.
Đúng ba năm trước. Đêm hôm đó, trời cũng mưa dầm như sáng nay.
Tôi nhớ như in cái cảm giác đứng ở đầu hẻm Cầu Muối, nhìn đồng hồ đếm ngược từng giây chờ mũi bọc lót của tổ cơ động tiếp cận. Tôi đã tin vào bản kế hoạch tác chiến nằm trên bàn làm việc của mình. Tôi đã tin rằng chỉ cần khép chặt hai đầu hẻm, toán buôn hàng trắng sẽ không còn đường lùi. Nhưng tổ bọc lót đã không bao giờ tới. Họ bị một cú điện thoại nặc danh điều động sang ngã tư Chợ Quán để ứng cứu một vụ cướp giả tạo.
Tuấn bước vào con hẻm cụt đó một mình. Tiếng súng nổ đanh gọn xé toạc màn mưa đêm.
Ba năm qua, tôi đã sống như một cái bóng rách nát trong căn hẻm Quận 4. Tôi uống từng ly cà phê đắng ngắt để tự nguyền rủa sự tự mãn và phán đoán sai lầm của chính mình. Tôi tưởng mình là kẻ đã đẩy đồng đội vào họng súng của tội phạm.
Ngón tay tôi run lên nhè nhẹ khi miết qua vết sáp đỏ dập nổi hình hoa dã quỳ tám cánh. Một khoảnh khắc ngắn ngủi, cổ họng tôi nghẹn đắng, lồng ngực như bị ai đó bóp nghẹt không thở nổi.
Tôi nhìn ra ngoài cửa kính, thấy bóng mình phản chiếu trên mặt kính mờ hơi nước. Mặt hốc hác, râu ria lởm chởm, một gã thám tử tàn tạ mang trên mình một lá phổi rách nát.
Tôi khẽ nhếch mép, buông một tiếng cười khẩy khô khốc.
"Năm trăm ngàn đô," tôi nói, giọng lạnh tanh như sắt nguội. "Mạng của thằng Tuấn được bọn chúng định giá bằng đúng một phần mười phần trăm tiền hối lộ một chuyến tàu chở quặng lậu."
Lê Hoàng quay sang nhìn tôi, ánh mắt cậu ta thoáng rung động trong nửa giây rồi lập tức đanh lại. Cậu ta với tay bật cần gạt nước kính lái, tiếng chổi cao su quét ken két trên mặt kính ướt.
"Người ngồi trên chuyến bay đó là ai?" Hoàng hỏi, mắt nhìn thẳng vào dải đèn đường đại lộ Nguyễn Văn Trỗi đang trôi ngược về phía sau. "Võ Khang đang nằm ở Bệnh viện Ba Mươi tháng Tư dưới sự giám sát của Viện Kiểm sát. Nguyễn Khắc Thắng đã bị còng tay ở Thành ủy. Đỗ Khắc Khiêm và Trịnh Văn Phát đã bị tống đạt lệnh tạm giam. Kẻ nào còn đủ thẩm quyền để điều động một chiếc máy bay quân sự từ Đà Lạt về Tân Sơn Nhất bằng mã số của Võ Khang?"
"Một kẻ hiểu rất rõ toàn bộ hệ thống lưu trữ kỹ thuật của cảng biển và sở ban ngành suốt hai mươi năm qua," tôi đáp, ngón tay gõ nhẹ lên mép tập hồ sơ. "Kẻ mang danh nghĩa Cố vấn Kỹ thuật. Một kẻ chưa từng xuất hiện trong các biên bản thanh tra đất đai, chưa từng chụp ảnh cắt băng khánh thành dự án Đồi Thông Xanh, nhưng là kẻ trực tiếp phê duyệt các khoản chi tài chính bẩn để xóa dấu vết."
"Ý anh là..." Hoàng nhíu mày.
"Thắng và Khiêm là những kẻ cầm quyền ra quyết định chính trị. Quốc và Khang là những kẻ bơm tiền," tôi phân tích, từng mắt xích logic ráp nối trong đầu như những bánh răng kim loại. "Nhưng để một guồng máy tội ác vận hành trơn tru suốt hai thập kỷ qua mà không bị bất kỳ đoàn thanh tra nào phát hiện, chúng cần một chuyên gia kỹ thuật hình sự và an ninh nội bộ. Kẻ đó biết chỗ nào có camera, chỗ nào dây cáp bị ngắt, và làm thế nào để biến một vụ hỏa hoạn thiêu sống chín mạng người thành một sự cố chập điện do chuột cắn dây dẫn."
Chiếc Ford Ranger rẽ ngoặt sang đường Trường Sơn, lao về phía khu vực kỹ thuật phía tây của sân bay Tân Sơn Nhất.
Sáu giờ mười lăm phút.
Bầu trời phía trên các nhà xưởng sửa chữa máy bay xám xịt một màu chì. Tiếng gầm rú của động cơ phản lực từ đường băng chính vọng lại làm rung chuyển cả bầu không khí ẩm ướt.
Ba Cháy giảm tốc độ, tấp chiếc xe bán tải vào góc khuất sau một dãy container rỗng đối diện Cổng kiểm soát an ninh A71.
Phía trước cổng sắt xếp, hai chiếc xe SUV bảy chỗ màu đen không biển số đang đỗ chắn ngang lối vào. Bốn người đàn ông mặc thường phục, áo khoác gió sẫm màu, đeo tai nghe bộ đàm không dây đang đứng rải rác tạo thành vòng bảo vệ nghiêm ngặt. Dưới gấu áo khoác của họ cộm lên hình dáng vuông vức của những khẩu súng ngắn bán tự động.
"Cổng A bảy mươi mốt dẫn thẳng vào Hangar số Ba," Hoàng quan sát qua ống nhòm mini. "Có ít nhất sáu tay súng vòng ngoài. Chúng đã khóa chốt kiểm soát tự động."
"Tí Bo," tôi bấm tai nghe. "Tọa độ máy bay thế nào rồi?"
"Chiếc phi cơ hai động cơ cánh quạt vừa vào không phận Tân Sơn Nhất," tiếng Tí Bo vang lên gấp gáp. "Đang hạ độ cao tiếp cận đường băng không chín phải. Dự kiến ba phút nữa bánh xe chạm đất."
"Hoàng, cậu giữ thẻ ngành Trưởng phòng Trọng án và văn bản của Viện Kiểm sát Tối cao," tôi nói, tháo dây an toàn, tay với lấy chiếc xà beng mini bằng thép tôi giấu dưới gầm ghế. "Đi thẳng vào cổng chính, dùng tư cách tố tụng công khai chặn đầu đoàn xe đón khách. Thu hút toàn bộ sự chú ý của nhóm cận vệ."
"Còn anh?" Hoàng quay lại nhìn tôi, ánh mắt dừng lại ở bình dẫn lưu dính máu bên sườn tôi.
"Tôi và Ba Cháy sẽ luồn qua hàng rào kỹ thuật thông gió phía sau Hangar số Ba," tôi đáp cộc lốc, nhét chiếc xà beng vào thắt lưng. "Chúng ta cần mắt thấy tai nghe kẻ bước xuống từ chiếc máy bay đó."
Hoàng nhìn tôi thêm ba giây. Cậu ta không khuyên tôi dừng lại, cũng không hỏi về vết thương. Giữa những người lính hình sự từng trải qua sống chết, sự im lặng là thỏa thuận dứt khoát nhất. Cậu ta mở cửa xe, bước xuống màn mưa, rút chiếc thẻ da đỏ dập quốc huy cầm chắc trong tay và sải bước thẳng về phía cổng A71.
"Đi thôi, Ba Cháy," tôi thì thầm.
Ba Cháy không nói một lời, xách theo chiếc kìm cộng lực bọc cao su dài nửa mét, theo sát sau lưng tôi.
Chúng tôi luồn qua rãnh thoát nước bê tông chạy dọc chân tường rào sân bay. Mùi nước thải lẫn mùi dầu máy bay nồng nặc bốc lên từ các hố ga kỹ thuật. Mỗi bước chân giẫm trên nền sỏi làm xương sườn tôi ma sát dữ dội, một luồng đau buốt nhói chạy dọc sống lưng lên tận đỉnh đầu. Tôi nghiến răng đến mức nghe tiếng xương hàm nghiến ken két, dùng tay phải đè chặt bình áp lực âm vào hông để giảm thiểu sự rung lắc của ống silicon trong lồng ngực.
Đến góc tường rào phía sau Hangar số 3, Ba Cháy đưa kìm cộng lực vào chân lưới thép B40.
Tiếng "cách" đanh gọn vang lên. Ba mắt xích thép bị cắt đứt ngọt xớt. Chúng tôi bẻ cong mảng lưới thép, chui lọt vào bên trong khu vực sân đỗ kỹ thuật.
Đúng lúc đó, một âm thanh rít gào xé gió vang lên trên đầu.
Chiếc máy bay cánh quạt hai động cơ màu sơn xám tro lướt qua nóc nhà xưởng, hạ càng đáp và tiếp đất êm ru trên đường băng phụ. Luồng gió từ cánh quạt thổi tung bụi nước trên mặt bê tông thành những làn sương mờ ảo.
Chiếc máy bay từ từ lăn bánh vào khu vực sân đỗ biệt lập trước cửa Hangar số 3, rồi tắt động cơ. Cánh quạt quay chậm dần rồi dừng hẳn.
Hai chiếc xe SUV màu đen từ cổng A71 lập tức rồ ga lao vào, đỗ áp sát ngay chân cầu thang máy bay vừa được hạ xuống từ thân phi cơ.
Hoàng đã bị nhóm cận vệ vòng ngoài chặn lại ở cổng kiểm soát, những tiếng quát tháo và tiếng lên đạn cơ học vang lên lách cách qua màn mưa phùn.
Tôi nấp sau một khối pa-lét gỗ chứa linh kiện máy bay, cách chân cầu thang chưa đầy hai mươi mét. Tim tôi đập thình thịch vào lồng ngực bị thương tổn, từng nhịp thở ngắt quãng và nóng rực.
Cửa khoang hành khách của chiếc máy bay bật mở.
Một sĩ quan an ninh mặc đồng phục phi công bước ra trước, quét mắt nhìn quanh sân đỗ rồi giơ tay ra hiệu an toàn.
Ngay sau đó, một bóng người từ từ bước xuống các bậc thang kim loại.
Đó là một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, vóc dáng gầy gò, khoác chiếc áo măng-tô vải kaki màu xám tro cài kín cổ. Tay trái ông ta xách một chiếc cặp tài liệu bằng nhôm sáng bóng có khóa số cơ học. Trên khuôn mặt vuông vức, hốc mắt sâu hoắm là một cặp kính gọng kim loại mỏng, toát lên vẻ ngoài của một học giả hoặc một chuyên viên kỹ thuật mẫn cán trong các phòng thí nghiệm.
Nhưng điều khiến đồng tử tôi co thắt dữ dội không phải là chiếc áo khoác hay chiếc cặp nhôm.
Bàn tay phải của ông ta cầm một chiếc hộp quẹt kim loại Zippo màu bạc. Ngón tay trỏ của ông ta đang gõ nhẹ lên thân kim loại theo một nhịp điệu vô cùng quen thuộc.
Cộc. Cộc. Cộc.
Ba nhịp gõ cơ học. Đều đặn, lạnh lùng, chính xác tuyệt đối như một chiếc đồng hồ cát đang đếm từng giây định mệnh.
Người đàn ông bước xuống bậc thang cuối cùng, dừng lại trước đầu xe SUV. Ông ta từ từ tháo cặp kính gọng kim loại xuống, rút chiếc khăn tay lau nhẹ mặt kính dính hơi sương rồi ngẩng đầu nhìn thẳng về phía cổng an ninh nơi Hoàng đang lớn tiếng đối chất.
Dưới ánh đèn pha cực mạnh của sân đỗ kỹ thuật, khuôn mặt của ông ta lộ rõ từng đường nét.
Đó là khuôn mặt của người từng đứng sau lưng tôi trong rất nhiều buổi khám nghiệm hiện trường các vụ án lớn nhỏ suốt mười năm trước. Người từng ký vào hàng trăm bản kết luận giám định dấu vết kỹ thuật và cháy nổ cho Công an Thành phố.
Cựu Trưởng phòng Kỹ thuật Hình sự - Đại tá Giám định viên Nguyễn Trọng Bách. Kẻ mang mã số sĩ quan an ninh nội bộ: 0411.
"Mọi thứ đã chuẩn bị xong chưa?" Giọng nói của Bách vang lên trầm đục, truyền qua khoảng không ẩm ướt của sân bay, giống hệt chất giọng biến âm qua điện thoại bàn cách đây bốn mươi phút.
Tên cận vệ trưởng cúi đầu cung kính:
"Báo cáo Đại tá, hồ sơ ủy thác gốc và mẫu quặng địa tầng cuối cùng đã được đưa vào khoang niêm phong. Xe hộ tống đã sẵn sàng đưa thẳng sang đường lăn quốc tế."
Nguyễn Trọng Bách khẽ gật đầu, đưa chiếc bật lửa Zippo lên bật nắp. Một ngọn lửa màu xanh biếc bùng lên giữa sương sớm.
Ông ta giơ ngọn lửa lên ngang tầm mắt, khóe miệng nhếch lên một nụ cười vô cảm:
"Ngọn lửa của hai mươi năm trước... rốt cuộc cũng đã cháy đến trang cuối cùng."
Tôi siết chặt chiếc xà beng mini trong lòng bàn tay lạnh ngắt, máu từ khớp ngón tay ứa ra hòa vào nước mưa.
Và ngay khoảnh khắc Bách chuẩn bị bước vào khoang xe SUV, từ phía sau dãy container rỗng nơi tôi đang ẩn nấp, một tiếng nạp đạn đanh gọn của súng bắn tỉa giảm thanh vang lên ngay sát sau gáy tôi, đi kèm một giọng nói thì thào lạnh buốt như từ cõi chết vọng về:
"Đừng nhúc nhích, Đội phó Trần Vũ... Que diêm này không phải dành cho anh."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.