Chương 94: Luồng Nước Chết
Tiếng lốp xe bán tải miết trên mặt đường Huỳnh Tấn Phát rít lên chói óc, át cả tiếng mưa quất ràn rạt vào kính chắn gió.
Nước mưa tháng Bảy quánh đặc bùn đất, từ trên nóc xe dội xuống từng mảng xám xịt. Ba Cháy gạt mạnh cần số, đạp lút ga. Cỗ máy dầu gầm rú như một con thú bị thương, lao bạt mạng qua những vũng nước ngập đến nửa bánh xe đoạn cầu Tân Thuận 1.
Tôi ngồi ở ghế phụ, tay phải ôm chặt lấy bên sườn trái. Ba vòng băng thun y tế siết chặt lấy lồng ngực như một chiếc vòng kim cô bằng vải bố, nhưng mỗi lần bánh xe sập ổ gà, đầu xương sườn số sáu gãy lìa lại cọ nghiến vào màng phổi. Một cơn buốt nhói chạy dọc sống lưng, kéo theo vị máu tanh nồng dâng ngược lên cuống họng.
Tôi nuốt búng máu xuống. Cổ họng khô rát, đắng nghét vị cặn cà phê từ ba tiếng trước. Bình áp lực âm ba ngăn đặt kẹp giữa hai mũi giày tôi phát ra những tiếng lục bục ngắt quãng. Lớp dịch hồng nhạt sủi bọt trong ống silicon trong suốt cắm thẳng vào nách trái tôi vẫn rỉ ra từng giọt đều đặn.
Lê Hoàng ngồi ở băng ghế sau, hai mắt trũng sâu, quầng thâm đen sì nổi rõ trên gò má xám ngoét. Cậu ta đang kiểm tra lại băng đạn của khẩu súng ngắn quân dụng, tiếng lách cách kim loại khô khốc vang lên trong khoang xe chật hẹp.
"Đăng thế nào rồi?" Tôi không quay đầu lại, mắt dán chặt vào cần gạt nước đang quét qua quét lại trên kính.
"Hạ Băng vừa gửi tin qua máy nội bộ." Giọng Hoàng khàn đặc như có sạn. "Đã qua cầu Sài Gòn, hướng thẳng về Bệnh viện Quân y 175. Nhịp tim 82, huyết áp 100 trên 65. Màng phổi được hút liên tục, tạm thời không còn nguy cơ xẹp cấp."
Tôi không đáp. Bàn tay tôi theo thói quen lần vào túi ngực áo khoác da. Nơi đó trống rỗng. Chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm của Mai Lan tôi đã trao trả lại cho bà ấy ở cảng cá Tắc Xuất. Giờ đây, áp vào ngực tôi chỉ còn cuốn sổ tay simili mục nát và hơi lạnh của tấm thẻ thép dập mã số 09-MBE.
Tôi kéo chiếc điện thoại cũ ra. Màn hình đơn sắc vẫn còn lưu lại tin nhắn nặc danh gửi đến lúc xe vừa rời khỏi căn hầm ngầm Tân Bình:
TỦ ĐỒ SỐ CHÍN ĐÃ BỊ CẮT KHÓA MƯỜI PHÚT TRƯỚC. BẢN SAO KÊ ĐANG TRÊN ĐƯỜNG RA PHAO SỐ KHÔNG.
Một cú giật mạnh khiến đầu tôi suýt đập vào táp-lô. Ba Cháy bẻ lái gấp, chiếc xe bán tải lao thẳng qua cổng kiểm soát phụ của Cảng Tân Thuận.
Khu cảng hàng hải lúc gần sáu giờ sáng chìm trong màn sương mù ẩm ướt và mùi dầu máy khét lẹt quyện với mùi sình lầy từ sông Sài Gòn bốc lên. Những dãy công-ten-nơ xếp chồng lên nhau như những khối nhà cao tầng han rỉ, vươn cao trong bóng tối mờ đục. Đèn cao áp vàng vọt hắt xuống mặt đường bê tông nứt nẻ những vệt sáng nhờ nhờ.
Xe phanh kịt trước cửa Kho ngoại quan số 9.
Đó là một khối nhà tiền chế lợp tôn kẽm rộng hàng ngàn mét vuông, tường quét sơn xám bong tróc từng mảng lớn. Cánh cửa sắt kéo dã chiến hé mở một khoảng chừng nửa mét, bên dưới ngập ngụa nước mưa trộn lẫn váng dầu đen sì.
"Hoàng, giữ hỏa lực bọc lót." Tôi đẩy cửa xe, bước chân xuống vũng nước ngập đến mắt cá. Nước lạnh buốt thấm qua lớp da giày rách mũi, ngấm thẳng vào ngón chân tê cóng.
Tôi rút chiếc xà beng mini giắt sau thắt lưng, tay trái kẹp lấy bình dẫn lưu áp lực âm, cắn răng bước nhanh vào trong. Lê Hoàng bám sát sau lưng tôi nửa bước, mũi súng chúc xuống đất theo đúng điều lệnh tác chiến trinh sát hình sự.
Bên trong kho ngoại quan tối om và sực nặc mùi cao su lưu hóa, bìa các-tông ẩm mốc cùng hóa chất chống gỉ. Ánh đèn pin mini trên tay Hoàng quét một vệt dài qua những giá kệ chất đầy kiện hàng niêm phong hải quan.
Cuối dãy hành lang kỹ thuật bằng kim loại, khu vực tủ sắt gửi đồ của cán bộ kiểm định hiện ra dưới ánh sáng lờ mờ.
Tủ số chín nằm ở góc khuất sát chân tường bê tông. Cánh cửa sắt sơn xanh quân đội đã bị cạy bung mép. Ổ khóa treo nhãn hiệu Abloy bằng thép đặc dụng bị cắt đứt ngọt xớt bởi một vết nghiêng đúng bốn mươi lăm độ. Vết cắt sáng loáng ánh kim loại tươi, chưa hề có một hạt bụi hay giọt gỉ sét nào bám vào.
Tôi quỳ một chân xuống sàn xi-măng ướt lạnh, đưa ngón tay quệt nhẹ lên mép cắt.
"Kìm thủy lực dùng pin." Tôi nói, giọng nghẹn lại vì lồng ngực co rút. "Lưỡi cắt hợp kim titan, lực ép trên mười lăm tấn. Không tạo ra tia lửa, không có tiếng động cơ học lớn. Dân chuyên nghiệp."
Hoàng soi đèn pin vào bên trong ngăn tủ trống hoác. Lớp bụi mịn ở đáy tủ bị quét sạch bởi một vật hình chữ nhật kích thước khoảng hai mươi nhân ba mươi xăng-ti-mét. Trên thành tủ bằng tôn mạ kẽm còn vương lại một vệt nước hình bán nguyệt.
"Nước mặn." Tôi đưa ngón tay chạm vào giọt nước rồi đưa lên đầu lưỡi. Vị chát ngắt và tanh nồng của bùn cửa sông. "Kẻ lấy tài liệu vừa từ ngoài cầu cảng đi vào, hoặc đã chuẩn bị sẵn đồ nghề đường thủy. Hắn đi ủng cao su lội nước, đế có rãnh chống trượt hình xương cá."
Ánh đèn pin của Hoàng rà xuống nền sàn xi-măng. Dấu vết bùn non hình xương cá in rõ mồn một, kéo dài từ chân tủ sắt hướng thẳng ra cửa thoát hiểm phía sau kho — lối dẫn trực tiếp xuống Cầu bến số 3, nơi các tàu hoa tiêu và sà-lan kéo thường neo đậu.
"Tí Bo." Tôi bấm nút đàm thoại trên tai nghe nối với máy vô tuyến vệ tinh. "Kiểm tra luồng tàu rời Cầu bến số 3 Cảng Tân Thuận trong vòng mười lăm phút qua."
Đầu dây bên kia vang lên tiếng gõ bàn phím lạch cạch liên hồi, xen lẫn tiếng thở dốc của thằng nhóc mười chín tuổi:
"Anh Vũ! Hệ thống định dạng tự động của Cảng vụ vừa bị ngắt tín hiệu lúc năm giờ hai mươi. Nhưng máy quét sóng tầm ngắn của em bắt được một xung vô tuyến hàng hải dân sự. Chiếc ca-nô cao tốc vỏ hợp kim nhôm mang số hiệu kiểm soát nội bộ TT-04 vừa rời bến lúc năm giờ hai mươi lăm, chạy xuôi dòng về hướng ngã ba sông Soài Rạp!"
"Vận tốc?"
"Gần ba mươi hải lý một giờ. Nó không bật đèn hành hải, đang chạy ép sát bờ phải theo lạch nước sâu phía Nhà Bè. Với tốc độ này, chỉ mười tám phút nữa nó sẽ vượt qua phao số không vịnh Gành Rái để ra vùng biển quốc tế!"
Tôi tắt kết nối, quay sang nhìn Hoàng. Khuôn mặt Đội trưởng Đội Trọng án đanh lại như đá tảng dưới ánh đèn pin leo lét.
"Một bản sao kê hai mươi triệu đô-la tiền hối lộ luồng lạch cảng biển suốt mười năm." Hoàng nghiến răng. "Nếu tập tài liệu này lọt ra tàu nước ngoài ngoài phao số không, toàn bộ chứng cứ về những kẻ bảo kê cho Quỹ Viễn Đông tại Cục Hàng hải và Ban Quản lý Luồng tàu phía Nam sẽ bị xóa trắng. Nguyễn Khắc Thắng và Trịnh Văn Phát chỉ là phần nổi trên cạn. Bọn đứng sau luồng hàng hải này mới là kẻ rót tiền mua vũ khí và hóa chất."
"Ra bờ sông." Tôi gằn từng chữ, vị máu lại trào lên chân răng. "Ba Cháy, lái xe vòng ra cầu bến số 2 đón đầu. Hoàng, liên hệ Biên phòng Cảng Tân Thuận."
Chúng tôi lao ra khỏi cửa kho ngoại quan. Gió sông thốc vào mặt buốt lạnh. Mưa mỗi lúc một nặng hạt, quất chéo qua những trụ cẩu tháp khổng lồ đứng sừng sững như những bộ xương thép giữa trời xám.
Tại Cầu bến số 2, một chiếc ca-nô tuần tra chuyên dụng của Đồn Biên phòng Cửa khẩu Cảng Nhà Bè mang số hiệu BP-1402 đang nổ máy chờ lệnh. Trung úy trinh sát Biên phòng đứng trên mũi ca-nô, tay cầm súng tiểu liên, nhìn thấy lệnh điều động khẩn cấp trên điện thoại của Hoàng liền lập tức giơ tay chào điều lệnh.
"Thượng tá Đặng Thế Anh vừa gửi mật điện số không-bảy." Trung úy nói to qua tiếng máy gầm. "Cho phép trưng dụng phương tiện và nổ súng cảnh cáo nếu can phạm cố tình vượt qua phao số không!"
Tôi và Hoàng nhảy xuống sàn ca-nô. Cú tiếp đất bằng gót chân khiến lồng ngực tôi chấn động dữ dội. Ống dẫn lưu giật mạnh một cái, kéo theo cơn đau thấu tận óc khiến hai mắt tôi tối sầm lại trong tích tắc. Tôi phải bám chặt lấy thanh giằng kim loại của cabin lái, thở dốc từng ngụm ngắn, cố kìm nén tiếng rên rỉ nghẹn trong cổ họng.
"Anh Vũ, anh có trụ nổi không?" Hoàng đỡ lấy bả vai tôi, bàn tay cậu ta run nhẹ.
Tôi gạt tay Hoàng ra, tựa lưng vào vách tôn lạnh ngắt, rút gói thuốc Thăng Long bẹp dúm trong túi quần ra. Bao thuốc ướt sũng, mềm nhũn như một mẩu giẻ rách. Tôi vứt nó xuống sàn tàu, nhổ một búng nước bọt lẫn máu đỏ tươi xuống dòng nước đen ngòm dưới lườn ca-nô.
"Lái tàu đi." Tôi nói cộc lốc. "Trước khi thuốc tê trong đầu tôi hết hạn."
Chiếc ca-nô tuần tra rú ga, chồm lên mặt sóng, xé toang màn mưa mù mịt lao vút ra giữa dòng sông Sài Gòn.
Dòng sông mùa lũ cuộn đỏ phù sa, rác rưởi và những mảng bèo tây dạt dập dềnh theo triều rút. Hai bên bờ, những rặng dừa nước và đước của vùng Nhà Bè hiện ra mờ ảo như những bóng ma đen trườn sát mép nước.
Màn sương sớm hòa lẫn với mưa tạo thành một bức rèm xám đục, tầm nhìn bị bóp nghẹt xuống chưa đầy ba mươi mét. Ca-nô lướt qua những chiếc sà-lan chở cát khổng lồ đang thả neo im lìm giữa dòng, tiếng còi hú báo hiệu vang lên từng hồi u uất, nghẹn ứ.
Tôi đứng ở mạn phải, đưa ống nhòm quân sự quét dọc theo luồng hàng hải Soài Rạp. Gió và bụi nước tạt rát rạt vào mặt, cuốn phăng đi chút hơi ấm cuối cùng trên da thịt.
"Bắt được tín hiệu nhiệt ở cự ly một hải lý!" Trung úy Biên phòng hét lên qua tiếng động cơ. "Mạn trái phía trước, ngay khúc cua cồn Bà Kiệu!"
Qua tròng kính ống nhòm mờ nước, tôi nhìn thấy bóng dáng của chiếc ca-nô vỏ nhôm TT-04. Nó không bật đèn tín hiệu, lao đi như một mũi tên xám bạc trên mặt sông gợn sóng cồn cào, đuôi tàu tung lên hai dải bọt trắng xóa.
Trên boong chiếc TT-04, một bóng người mặc áo mưa đen trùm kín đầu đang đứng cạnh cabin lái. Trong tay hắn là một chiếc va-ly nhựa chuyên dụng chống nước màu cam nổi bật, loại dùng để bảo quản tài liệu hải đồ tác chiến.
"Áp sát mạn phải!" Hoàng rút súng ngắn, lên đạn cái rắc. "Bắn vào buồng máy, ép nó dạt vào bãi bùn Cù Lao Lá!"
Chiếc ca-nô tuần tra tăng tốc tối đa, động cơ đôi bốn trăm mã lực gầm lên đinh tai nhức óc. Khoảng cách giữa hai con tàu nhanh chóng rút ngắn từ năm trăm mét xuống còn hai trăm mét, rồi một trăm mét.
Kẻ mặc áo mưa đen trên chiếc TT-04 đột ngột quay đầu lại.
Dưới ánh sáng nhờ nhờ của buổi sớm mù sương, tôi nhìn thấy một khuôn mặt đàn ông trung niên với đôi mắt sâu hoắm, gò má hóp và một vết sẹo dài kéo từ đuôi mắt trái xuống tận quai hàm. Không phải người của Quỹ Viễn Đông từ Thụy Sĩ. Đó là một khuôn mặt mang đậm nét lính thủy nội địa, chai sạn và lầm lì.
Hắn không hề hoảng loạn. Tay phải hắn từ từ rút ra một khẩu súng ngắn bán tự động từ trong bọc áo mưa, chĩa thẳng về phía ca-nô của chúng tôi.
"Nằm xuống!" Hoàng hét lên, đồng thời bóp cò.
Đoàng! Đoàng!
Hai phát đạn súng ngắn xé toang tiếng gió rít, ghim thủng kính chắn gió của chiếc TT-04.
Gã đàn ông áo mưa đen nghiêng người né tránh, lập tức bắn trả ba phát liên tiếp. Đạn rít qua mạn thuyền ca-nô tuần tra, một đầu đạn chém đứt sợi dây cáp còi tín hiệu ngay sát thái dương tôi, làm tóe lên những tia lửa cam ngắn ngủi.
Tên lái tàu của chiếc TT-04 giật mạnh vô-lăng. Con tàu nhôm bẻ lái gắt gao sang mạn trái, tạo nên một vòng cung sóng lớn hòng chém đứt mũi ca-nô tuần tra, ép chúng tôi va vào chân phao tiêu kim loại khổng lồ số 16 đang nhấp nhô giữa dòng nước xiết.
"Đâm thẳng vào đuôi lái của nó!" Tôi quát to, tay phải bóp chặt lấy thanh giằng kim loại để giữ thăng bằng cho lồng ngực đang rung lên bần bật. "Khóa chết chân vịt!"
Trung úy Biên phòng nghiến răng, đẩy cần ga hết cỡ. Mũi thép bọc cao su chống va đập của chiếc BP-1402 húc thẳng vào mạn đuôi bên phải của chiếc TT-04 với một tiếng rầm kim loại khủng khiếp.
Cú va chạm cực mạnh khiến chiếc tàu nhôm chao đảo dữ dội, lật nghiêng sang một bên rồi trượt dài trên mặt nước, mất hoàn toàn lực đẩy cơ học. Khói đen kịt bốc lên nghi ngút từ nắp buồng máy bị vỡ nát. Con tàu xoay mòng mòng theo dòng nước xoáy rồi mắc cạn vào dải bãi bồi sình lầy ngập mặn dưới chân rừng đước Cù Lao Lá.
Chiếc ca-nô tuần tra cũng giảm tốc, trượt nhẹ áp sát mép bãi bồi. Bùn đen và rễ đước chằng chịt giữ chặt lấy lườn hai con tàu.
Gã đàn ông áo mưa đen lồm cồm bò dậy từ sàn tàu nát, tay vẫn ôm chặt chiếc va-ly màu cam. Hắn đạp tung cánh cửa cabin đã biến dạng, nhảy phắt xuống bãi sình lầy, lội bạt mạng về phía rặng đước rậm rạp hòng tẩu thoát vào mạng lưới kênh rạch chằng chịt của Nhà Bè.
"Đứng lại! Công an đây!" Hoàng nhảy qua mũi tàu, lao xuống bùn đuổi theo.
Tôi cắn chặt môi dưới đến bật máu tươi để lấy lại sự tỉnh táo trước cơn choáng váng đang kéo đến. Tay trái nhấc bình áp lực âm, tay phải siết chặt chiếc xà beng mini, tôi nhảy xuống lớp bùn ngập tới đầu gối.
Bùn lầy sông Soài Rạp đặc quánh và lạnh ngắt, mút chặt lấy từng bước chân như muốn kéo người ta chìm nghỉm xuống đáy sông. Mỗi bước dẫm tới là một lần vết thương ở nách trái tôi bị giật căng, ống silicon rít lên từng hồi trong thớ thịt.
Hoàng đã đuổi kịp gã đàn ông ở khoảng cách mười mét. Gã quay người lại, giơ súng định bắn, nhưng Hoàng đã nhanh hơn một nhịp. Một phát đạn chuẩn xác ghim thẳng vào khớp cổ tay phải của gã, hất văng khẩu súng ngắn xuống vũng bùn đen.
Gã đàn ông rú lên một tiếng nghẹn ngào, khuỵu gối xuống lớp rễ đước, nhưng tay trái vẫn ôm chặt lấy chiếc va-ly cam như bám vào mạng sống cuối cùng.
Hoàng lao tới, dùng thế khóa cổ đè nghiến gã xuống nền bùn lầy, chiếc còng số tám lạnh ngắt khóa chặt tay trái của gã ra sau lưng.
Tôi lê từng bước nặng nhọc tới gần, ngực phập phồng thở dốc, mỗi hơi thở rít qua kẽ răng như tiếng cưa gỗ. Tôi cúi xuống, nhặt chiếc va-ly màu cam nằm trên đám rễ cây ẩm ướt.
Khóa số của chiếc va-ly đã bị cạy bung từ trước. Tôi bật hai lẫy thép, mở nắp va-ly ra dưới cơn mưa tầm tã.
Bên trong không có tiền mặt hay quặng đất hiếm.
Chỉ có một tập hồ sơ dày gần bốn trăm trang bằng giấy chống ẩm quân sự, được đóng dấu mộc đỏ tươi của Cục Hàng hải Việt Nam và Ban Thẩm định Luồng lạch Quốc gia, kèm theo một xấp sao kê ngân hàng dày cộp in từ hệ thống chuyển mạch tài chính Singapore.
Dòng chữ in hoa màu đen đậm ở trang bìa hiện rõ dưới những giọt nước mưa đọng lại:
BẢN SAO KÊ ỦY THÁC DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG HẢI ĐẶC BIỆT – NĂM 2014 ĐẾN 2024 // TỔNG GIÁ TRỊ: 20.000.000 USD // BÊN THỤ HƯỞNG: HỘI ĐỒNG KIỂM ĐỊNH LUỒNG SOÀI RẠP.
Tôi lật nhanh những trang giấy pơ-luya chống nước.
Mỗi chuyến tàu chở khoáng sản lậu của Quỹ Viễn Đông ra khỏi vùng nội thủy đều được chi trả chính xác một trăm hai mươi ngàn đô-la để tắt hệ thống định vị AIS trong vòng ba mươi phút khi qua trạm hoa tiêu. Hơn tám mươi chuyến tàu trong suốt mười năm. Những con số lạnh lùng, tỉ mỉ đến từng xu, được ký nhận bởi những chữ ký nháy bằng bút máy mực xanh công vụ.
Và ở trang cuối cùng của bản sao kê tổng kết ngày 10 tháng 7 năm 2021 — đúng cái ngày Đại úy Nguyễn Tuấn bị bắn chết ở hẻm Cầu Muối — có một dòng ghi chú viết tay bằng bút bi đỏ:
ĐÃ THANH TOÁN ĐỢT CUỐI: 500.000 USD CHO TỔ NGHIỆP VỤ GIÁM SÁT HIỆN TRƯỜNG ĐỂ KHÓA HỒ SƠ 09/KL-PC02. NGƯỜI DUYỆT LỆNH: CỐ VẤN KỸ THUẬT BAN CHỈ ĐẠO CẢNG BIỂN.
Phía dưới dòng chữ đỏ là một con dấu sáp nhỏ bằng đồng xu. Hình khắc trên sáp không phải con dấu của cơ quan nhà nước, mà là biểu tượng một bông hoa dã quỳ tám cánh bị gạch chéo một nhát nghiêng từ góc trên bên phải.
Con dấu mật mã của Mái ấm Hướng Dương năm 2004.
Bàn tay cầm xà beng của tôi run lên bần bật.
Không phải do lạnh. Không phải do cơn đau từ chiếc xương sườn gãy.
Kẻ ký duyệt đợt chi trả năm trăm ngàn đô-la để mua chuộc việc rút hỏa lực bức tử Tuấn ba năm trước không chỉ là Bùi Khắc Viễn hay Trịnh Văn Phát. Kẻ đó đã dùng chính con dấu dã quỳ — biểu tượng của những đứa trẻ chết cháy năm xưa — để đóng lên bản hợp đồng máu này.
Gã đàn ông bị còng tay dưới bùn ngẩng đầu lên, nhổ ra một búng bùn lẫn máu, nhìn tôi bằng ánh mắt trơ tráo, mỉa mai:
"Mày tưởng... mày lấy được tập giấy đó là xong chuyện sao, thằng thám tử què?" Giọng gã the thé như tiếng kim loại cào vào kính. "Chiếc ca-nô này không phải là chiếc duy nhất rời bến lúc năm giờ sáng đâu..."
Tôi quỳ sụp xuống bùn, túm lấy cổ áo mưa của gã, giật mạnh về phía trước. Đầu mũi xà beng lạnh ngắt dí sát vào dưới cằm gã, ấn sâu vào lớp da thịt nhớp nháp bùn đất.
"Nói." Giọng tôi trầm xuống, lạnh tanh như nước dưới đáy sông. "Ai đưa chiếc chìa khóa tủ số chín cho mày?"
Gã đàn ông cười khùng khục trong cổ họng, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ:
"Người bảo tao đến lấy... bảo gửi lời chào Đội phó Trần Vũ. Hắn nói... ngọn lửa ở Mái ấm Hướng Dương không bao giờ tắt. Nó chỉ chuyển từ tay người này sang tay người khác mà thôi."
"Hắn là ai?!" Hoàng gầm lên, ấn mạnh họng súng vào thái dương gã.
Gã đàn ông không trả lời. Hắn chỉ liếc mắt nhìn về phía chiếc điện thoại di động nắp gập cũ kỹ đang nằm chìm một nửa trong vũng bùn cạnh mép thuyền vỡ.
Chiếc điện thoại bỗng rung lên bần bật.
Màn hình ngoài của nó chớp sáng màu xanh lá cây đục, hiển thị một cuộc gọi đến từ một dãy số nội bộ bốn chữ số quen thuộc của Sở Công an:
0411.
Tôi buông cổ áo gã đàn ông ra, nhặt chiếc điện thoại dính bùn lên. Ngón tay cái tôi bấm nút nhận cuộc gọi rồi bật loa ngoài.
Không có tiếng người nói.
Chỉ có tiếng tích tắc cơ học của một chiếc đồng hồ cát chảy đều đặn, ba tiếng gõ nhẹ vào thân máy — cộc, cộc, cộc — và một giai điệu hộp nhạc thiếu nhi rè rè vang lên giữa tiếng mưa rào rạt trút xuống rừng đước Nhà Bè.
Rồi một giọng nói thì thầm quen thuộc, trầm đục và lạnh buốt, cất lên từ ống nghe:
"Đội phó Trần Vũ... Anh đã cầm được bản sao kê của hai mươi triệu đô-la. Nhưng anh có biết... ai là người vừa ký lệnh mở lại đường bay đặc biệt từ Đà Lạt về Tân Sơn Nhất lúc sáu giờ ba mươi sáng nay không?"
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.