Giao Lộ Mờ Sương

Chương 63: Đáy Vực Biển Sâu

Đăng: 22/08/2026 18:46 3,845 từ 1 lượt đọc

Còi báo động chìm tàu rúc từng hồi xé toạc màn mưa mù mịt ngoài cửa kính đài chỉ huy. Con tàu Aurelia mười tám nghìn tấn vặn mình răng rắc dưới chân tôi. Góc nghiêng mạn trái đã vượt quá mười độ. Nước dằn đáy đang cuồn cuộn tràn vào các khoang rỗng theo lệnh xả từ xa, biến khối thép khổng lồ thành một cái bẫy chìm dần xuống vịnh Gành Rái.

Dưới sàn gạch chống trượt, những tập hải đồ và cốc thủy tinh vỡ trôi dạt về một phía, va vào nhau lách cách. Mùi dầu cặn F.O nồng nặc bốc lên từ các cửa thông gió tầng dưới, trộn lẫn với vị mặn chát của bọt sóng biển đang quất rát rạt qua khung kính đài quan sát.

Họng súng Glock 19 đen ngòm của viên cố vấn Thụy Sĩ không hề run rẩy. Hắn đứng ở góc cao của sàn nghiêng, lưng tựa vào vách thép gia cố. Bàn tay trái của hắn giữ chặt chiếc hộp điều khiển cầm tay bằng nhựa cứng, nơi bóng đèn led màu đỏ chớp tắt theo nhịp một giây một lần. Đó không phải là đồ chơi. Đó là bộ kích nổ phụ bằng sóng xung điện nội bộ, sẵn sàng thổi tung hệ thống dẫn dầu đáy tàu để biến toàn bộ boong Aurelia thành một khối lửa trước khi lực lượng Biên phòng kịp áp sát.

"Cô Phương," giọng gã đàn ông ngoại quốc trầm đặc, thứ tiếng Việt lơ lớ được gọt giũa qua những bản hợp đồng rửa tiền xuyên biên giới. "Bỏ tập tài liệu xuống sàn. Lùi lại ba bước. Quỹ Viễn Đông không bao giờ để lại chữ ký sống trên những con tàu đắm."

Nguyễn Mai Phương đứng chết trân ở giữa khoang lái. Hai bàn tay cô ta ghì chặt cuốn nhật ký bìa simili mốc meo vào ngực. Chiếc kẹp tóc bằng nhôm uốn hình con bướm cháy sém một góc mà tôi vừa đặt vào lòng bàn tay cô ta vẫn nằm kẹp giữa những ngón tay run rẩy. Đôi mắt sắc lạnh thường ngày của người đàn bà nắm năm mươi phần trăm cổ phần giờ trống rỗng. Cái bẫy ủy thác chéo tại Điều sáu Khoản hai bản Thỏa thuận 104-MBE đã bóp nát hoàn toàn ảo tưởng đòi lại công lý bằng tài chính của cô ta. Quỹ Viễn Đông chưa bao giờ coi cô ta là người thừa kế. Cô ta chỉ là chiếc phong bì có dấu vân tay sống, được nuôi lớn suốt hai mươi năm ở Geneva chỉ để mang chứng cứ gốc qua phao số không rồi chết đuối một cách hợp pháp.

"Mẹ tôi..." Phương thì thào, giọng nghẹn lại giữa tiếng còi hú. "Các người đã hứa... bản thỏa thuận này là để bảo vệ khu đất..."

"Mẹ cô chết vì bà ta biết quá nhiều thứ không thuộc về thẩm quyền của một bảo mẫu," gã Thụy Sĩ nhếch mép, ngón trỏ siết nhẹ nửa hành trình cò súng. "Và cô sắp lặp lại đúng sai lầm đó."

Bên cạnh tôi, Lê Hoàng khẽ dịch mũi giày bảo hộ. Khẩu K59 trong tay anh chĩa chếch bốn mươi lăm độ xuống mặt sàn, ngón tay cái đã gạt chốt an toàn từ lúc nào. Nhưng ở góc nghiêng này, bất kỳ phát đạn nào trượt mục tiêu cũng có thể găm vào bảng điều khiển khí nén cao áp phía sau lưng tên sát thủ, kích nổ toàn bộ hệ thống chữa cháy bằng khí CO2 và bóp nghẹt buồng lái trong ba mươi giây.

Lồng ngực trái của tôi giật thắt từng cơn buốt óc. Vết rạch khoang liên sườn số năm như bị xé toạc ra sau mỗi nhịp thở. Ống dẫn lưu silicon 28F cọ sát vào màng phổi tạng thô bạo. Tôi cúi đầu nhìn xuống ngực áo khoác: máu đỏ tươi lẫn bọt khí đã nhuộm đẫm lớp băng thun ba vòng mà Hạ Băng quấn vội ở trạm xá dã chiến Nhà Bè, ọc ngược từng vệt dài vào đoạn ống trong suốt dán chặt bên hông. Vị tanh nồng của máu trào lên tận cuống họng. Tôi nghiến chặt răng, cắn mạnh vào đầu lưỡi. Cơn đau nhức nhối kéo giật thần kinh tôi thoát khỏi màn sương mù choáng váng do thiếu oxy.

Con tàu lại chồm lên một ngọn sóng lừng. Đáy thép va vào dòng hải lưu ngầm phát ra tiếng gầm u u như tiếng thú dữ hấp hối. Bàn chân tôi trượt đi năm phân trên sàn ướt dầu.

Tên sát thủ Thụy Sĩ chuyển ánh nhìn lạnh tanh sang tôi. Hắn nhận ra chiếc ống dẫn lưu và cái cách tôi phải tỳ vai vào khung cửa sắt để đứng vững.

"Cựu cảnh sát Trần Vũ," hắn nói, không một chút biểu cảm. "Hồ sơ của anh ở Sài Gòn đã khép lại từ ba năm trước rồi. Đáng lẽ anh nên ở lại gác xép Quận 4 mà uống rượu."

"Ở đó cà phê dở lắm," tôi nhổ một bọc máu bầm xuống sàn thép. "Và tôi thì ghét nhất là mấy thằng mặc vest đứng chỉ tay năm ngón trên đất của người khác."

Đúng khoảnh khắc một con sóng biển Gành Rái cao hơn ba mét đập thẳng vào mạn sườn trái tàu Aurelia, cả thân tàu nghiêng giật cục sang một góc mười lăm độ. Máy thủy lực kêu ré lên thất thanh. Trọng lực kéo trượt toàn bộ bảng điều khiển dự phòng và hai chiếc ghế xoay bọc da trôi tuột về góc chết.

Đó là nửa giây duy nhất.

Lê Hoàng nổ súng. Tiếng nổ đanh gọn của viên đạn K59 chín mi-li-mét xé toạc tiếng gió rít, găm thẳng vào bắp tay phải của tên sát thủ. Cánh tay cầm súng Glock của hắn giật nảy ra sau, phát đạn phản xạ bắn vọt lên trần, làm vỡ toang cụm đèn neon thành hàng trăm mảnh thủy tinh rơi rào rào.

Nhưng bàn tay trái của hắn vẫn bóp chặt bộ kích nổ. Đèn led đỏ chuyển sang trạng thái sáng liên tục không chớp.

Tôi không kịp nghĩ đến hai chiếc xương sườn gãy đang cọ vào màng phổi. Tôi phóng thẳng người tới phía trước theo chiều dốc của sàn tàu. Cả cơ thể tôi như một bao cát nặng trịch lao vào hông gã Thụy Sĩ. Cú va chạm cơ học hất văng cả hai chúng tôi đập mạnh vào vách ngăn kim loại phòng hải đồ.

Răng rắc.

Ống dẫn lưu bị giằng mạnh kéo toạc một mũi khâu chỉ nilon số hai ở mạn sườn. Đau đến mức tầm nhìn của tôi tối sầm lại trong một phần mười giây, nhưng bàn tay phải tôi đã kịp khóa chặt cổ tay trái của hắn, bẻ ngược khớp theo kỹ thuật cận chiến đặc nhiệm. Tiếng xương khớp trật kêu giòn tan. Chiếc hộp kích nổ rơi khỏi ngón tay hắn, trượt dài trên sàn thép dốc đứng hướng thẳng về phía lỗ thoát nước boong ngoài.

"Hoàng! Bắt lấy kíp nổ!" Tôi gầm lên qua kẽ răng đầy máu.

Lê Hoàng trượt người trên sàn ướt dầu, quăng cả thân mình chặn đứng chiếc hộp đen ngay mép ngưỡng cửa trước khi nó rơi xuống biển.

Dưới thân tôi, tên sát thủ Thụy Sĩ không hề la hét. Ánh mắt hắn vẫn lạnh như thép nguội. Bằng cánh tay phải bị thương chảy ròng ròng máu đỏ, hắn rút từ thắt lưng ra một con dao găm lưỡi răng cưa làm bằng hợp kim gốm đen không phản quang, đâm thẳng một đường hiểm hóc ngược lên hõm nách của tôi.

Đòn đánh chuyên nghiệp của một kẻ được đào tạo để giết người trong không gian hẹp.

Tôi không thể né sang phải vì ống silicon đang bị kẹt dưới thanh giằng thép. Tôi giơ cẳng tay trái bọc lớp áo khoác ướt sũng ra đỡ. Lưỡi dao gốm ngọt xớt rạch toang lớp vải kaki, cứa sâu vào cơ cẳng tay, chạm tới tận màng xương. Cơn buốt lạnh ngắt lan nhanh như điện giật. Tôi siết chặt bàn tay còn lại, thúc mạnh đầu gối bọc đệm thép vào hạ bộ của hắn, đồng thời dùng gót bàn tay giáng thẳng một đòn dứt khoát vào sụn mũi tên sát thủ.

Máu mũi hắn phọt ra, đầu đập ngược vào vách ngăn thép phát ra tiếng "cốp" đục ngầu. Con dao gốm rơi leng keng xuống sàn. Hắn co giật hai nhịp rồi nằm bất động, đồng tử giãn to dưới ánh chớp báo động đỏ rực.

Tôi ngã vật ra sàn thép nghiêng, thở dốc từng ngụm ngắn củn. Không khí không vào được đáy phổi bên trái. Tiếng rít khí cơ học phát ra từ lỗ dẫn lưu màng phổi mỗi lần tôi cố hít sâu. Tôi lấy tay ấn chặt vào miếng gạc đẫm máu bên hông. Băng thun đã tuột một nửa.

Lê Hoàng bò tới, bàn tay anh giữ chặt chiếc hộp kích nổ đã bị bẻ gãy ăng-ten truyền tín hiệu. Anh dùng đầu gối tì lên ngực tên sát thủ ngất xỉu, rút còng số tám khóa quặt hai tay hắn ra sau lưng khung ống thép cứu hỏa.

"Vũ! Cầm cự được không?" Hoàng hét lớn để át tiếng còi báo động xả đáy.

"Chưa chết được," tôi thều thào, tự trào một cách mệt mỏi. "Thuốc giảm đau của con bé Băng... hết tác dụng rồi."

Nguyễn Mai Phương vẫn đứng tựa lưng vào bảng điều khiển la bàn, hai mắt trừng trừng nhìn vũng máu loang lổ trên sàn. Cuốn nhật ký trong tay cô ta đã bị nước mưa làm ướt góc bìa. Chiếc kẹp tóc nhôm hình bướm rơi xuống giữa vũng máu của gã Thụy Sĩ.

Tôi vịn vào tay vịn kim loại, gượng kéo thân mình ngồi dậy trên mặt sàn dốc. Cả con tàu Aurelia rùng mình thêm một chấn động dữ dội. Mũi tàu đã bắt đầu cắm sâu xuống nước, chân vịt phía sau nâng cao làm mất lực đẩy, tiếng máy chính gầm gừ rồi lịm dần. Hệ thống điện chiếu sáng chính chớp nháy hai lần rồi phụt tắt hoàn toàn, chỉ còn lại cụm đèn khẩn cấp màu cam đỏ leo lét trên trần.

"Mai Phương," tôi gọi, giọng khàn đặc vì khói súng và máu. "Đưa cuốn sổ đây."

Cô ta nhìn tôi, bàn tay run bần bật siết lấy cuốn sổ da: "Nếu tôi đưa... các anh sẽ giao nó cho ai? Cho những kẻ mặc quân phục từng chỉ đạo vụ cháy? Cho những kẻ ngồi trong xe bọc thép ở Đà Lạt?"

"Tôi không đại diện cho ai cả," tôi quệt mu bàn tay dính máu ngang cằm, chỉ vào vết sẹo rạch màng phổi trên người mình. "Thằng Đen... Nguyễn Minh Đăng... đã chết lúc mười hai giờ đêm nay ở Nhà Bè. Nó dùng cả mạng sống của nó để lôi cuộn băng mười hai phút của mẹ cô lên màn hình Hội trường Thành ủy. Nó chết mà không kịp nhận lại tên cha nó."

Phương khựng lại. Ánh mắt cô ta dán chặt vào tôi.

"Còn cuốn sổ này," tôi nhặt chiếc kẹp tóc nhôm hình bướm dưới sàn lên, lau nhẹ vết máu trên thớ nhôm xỉn màu bằng vạt áo trong khô ráo duy nhất còn lại, "là thứ cuối cùng mẹ cô để lại trước khi bị thiêu sống sau chái bếp. Bà ấy không viết nó để cô mang bán cho một lũ tư bản ngoại quốc ở Zurich để đổi lấy năm mươi phần trăm cổ phần rác rưởi."

Tôi chìa bàn tay đầy vết cứa và dầu máy ra trước mặt cô ta.

Mai Phương nhìn chiếc kẹp tóc. Đó là một vật bằng nhôm mỏng dính, loại kẹp rẻ tiền mà những người phụ nữ nghèo ở Đà Lạt thập niên chín mươi hay dùng để kẹp gọn mớ tóc mai khi đứng bếp. Trên góc cánh bướm vẫn còn một vết gạch lõm hình chữ X — dấu vết của một lần bị kẹp vào song sắt cửa sổ mà Đăng từng kể lại trong cơn mê sảng ở trạm xá.

Lớp vỏ bọc kiêu hãnh của cô chuyên viên tài chính Đại học Geneva vỡ vụn trong tích tắc. Mai Phương quỳ sụp xuống sàn thép trơn trượt. Nước mắt không chảy tràn trề, cô ta chỉ cắn chặt môi đến bật máu, run rẩy đặt cuốn nhật ký bìa simili vào tay tôi.

Bìa cuốn sổ sần sùi, ố vàng vì thời gian và khói bếp hai mươi năm trước. Bên trong, những dòng chữ viết tay nắn nót bằng mực Cửu Long màu tím đã nhòe đi ở vài mép giấy. Đó là danh sách từng đứa trẻ, từng bữa ăn, từng khoản tiền bảo trợ ba mươi nghìn đồng ít ỏi mà bảo mẫu Nguyễn Mai Lan ghi chép cẩn thận trước ngày mười hai tháng mười một năm hai nghìn không trăm lẻ bốn.

Và ở trang cuối cùng, kẹp giữa hai lớp giấy pơ-luya dán kín mép bằng nhựa cây thông, là một bản vẽ tay sơ đồ địa tầng mỏ quặng đất hiếm cùng danh sách mười tám mã tài khoản ngân hàng chuyển tiền hối lộ từ Tập đoàn Phương Nam và Quỹ Viễn Đông sang các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Hồng Kông và Singapore. Chữ ký nháy của Phạm Kiến Quốc, Võ Khang và con dấu sáp đỏ của Ban Thẩm định hiện ra sắc nét dưới ánh đèn cấp cứu màu cam.

Tôi lật qua trang giấy. Một mảnh giấy nhỏ gấp tư rơi ra từ gáy sổ. Đó là một mẩu giấy khen học sinh giỏi tiểu học bị cháy xém nửa góc mang tên: "Nguyễn Mai Phương - Lớp lá Mái ấm Hướng Dương".

Tôi gấp mảnh giấy lại, nhét vào túi áo ngực, ngay cạnh chiếc kẹp tóc nhôm.

Lồng ngực tôi lại thắt nghẹt. Tôi đứng sững lại hai giây giữa tiếng còi tàu inh ỏi, mắt nhìn chăm chú vào dòng chữ son nắn nót ở góc trang giấy khen. Tôi nhớ lại cái đêm hẻm Cầu Muối ba năm trước, khi Tuấn nằm sấp trên vũng nước ngập cống rãnh, trong túi áo ngực của cậu ấy cũng có một mẩu giấy chuyển tiền học phí cho con gái gấp tư như thế này.

Tôi giật nhẹ vạt áo, kéo phéc-mơ-tuya áo khoác lên tận cổ, che kín miệng ống dẫn lưu đang rỉ máu. Lảng sang một bên, tôi cúi xuống nhặt điếu thuốc Thăng Long đã gãy đôi trong bao thuốc bẹp dúm, ngậm vào môi nhưng không châm lửa. Ở đây toàn mùi dầu F.O, châm một que diêm là biến cả đài chỉ huy thành lò thiêu.

"Tàu nghiêng mười tám độ rồi!" Lê Hoàng đập mạnh tay vào đồng hồ đo độ nghiêng thủy văn trên bàn điều khiển. "Van xả đáy tự động đã khóa chết mạch điện tử, không thể đóng lại từ đài chỉ huy. Con tàu này sẽ lật úp trong vòng mười phút nữa nếu chạm luồng nước xoáy phao số không!"

Từ chiếc bộ đàm dã chiến gắn trên vai áo Hoàng, tiếng rè rè của sóng ngắn vệ tinh vang lên ngắt quãng, xen lẫn tiếng gầm của động cơ ca-nô cao tốc Biên phòng và tiếng gió biển rít qua micro:

"Báo cáo Đội trưởng Hoàng! Ca-nô Biên phòng số hiệu BP-2804 đã tiếp cận mạn hữu tàu Aurelia! Tàu Cảnh sát biển CSB-4034 đang tiến vào vị trí đón lõng cách hai hải lý! Chúng tôi đã thả xuồng cứu sinh dã chiến áp sát thang dây hoa tiêu! Yêu cầu toàn bộ tổ công tác rút ngay lập tức! Nhắc lại, rút ngay lập tức!"

"Rõ! Chuẩn bị đón người!" Hoàng hét vào bộ đàm.

Anh quay sang xốc nách tên sát thủ Thụy Sĩ dậy bằng một tay, tay kia kéo giật tay vịn cửa lùa: "Phương! Bám chặt vào lan can boong ngoài! Đi theo tôi!"

Tôi ôm chặt cuốn nhật ký gốc vào sát lồng ngực, dùng cánh tay bị thương ép chặt túi tài liệu chống ẩm. Mỗi bước chân di chuyển trên hành lang boong ngoài tầng năm lúc này là một cực hình. Gió biển vịnh Gành Rái quất thẳng từng đợt sóng lạnh buốt vào người chúng tôi. Thân tàu Aurelia đã ngập sâu cả mạn trái, những khoang chứa hóa chất rỗng bắt đầu phát ra tiếng nổ lụp bụp do áp lực nước biển ép bẹp các vách ngăn mỏng bên dưới.

Chúng tôi trượt theo cầu thang kim loại từ tầng năm xuống boong chính tầng ba. Sóng biển đã tràn qua be tàu, cuộn tròn những vệt bọt trắng xóa cuốn phăng các thùng phi dầu phụ trôi lềnh bềnh ra biển đen.

Chiếc ca-nô cao tốc hai động cơ ba trăm mã lực của Biên phòng đang dập dềnh dữ dội bên mạn hữu tàu, cố gắng giữ khoảng cách an toàn bằng các đệm cao su chống va đập. Hai chiến sĩ Biên phòng mang áo phao cam đang giơ tay đón sẵn dưới chân thang dây.

Lê Hoàng đẩy tên sát thủ Thụy Sĩ xuống trước. Thân hình to lớn của gã rơi chuẩn xác vào lòng xuồng cứu sinh cao su nối sau đuôi ca-nô. Hoàng quay lại, túm lấy đai áo của Mai Phương:

"Nhảy đi! Đừng nhìn xuống nước!"

Phương nhắm nghiền mắt, buông tay khỏi thanh giằng boong tàu. Hai chiến sĩ Biên phòng đón gọn lấy cô ta kéo vào lòng ca-nô.

Hoàng quay sang nhìn tôi. Mặt anh tái nhợt vì nước biển và thuốc súng, nhưng ánh mắt kiên định không đổi: "Vũ! Đến lượt anh! Đưa tay đây!"

Tôi bước một bước về phía mép boong tàu. Nhưng một cơn đau nhói như dao đâm thấu từ đỉnh phổi xuyên qua xương bả vai khiến chân trái tôi khuỵu xuống mặt sàn trơn ướt. Không khí trong khoang ngực bị ép nghẽn hoàn toàn. Ống dẫn lưu 28F bị vặn góc làm máu tươi trào ộc ra từ vết mổ, chảy dọc xuống ống quần bò ướt sũng. Tôi thở không ra hơi, hai tai lùng bùng tiếng sóng đập và tiếng rên xiết của khung thép tàu Aurelia đang gãy dần dưới đáy biển sâu.

Hoàng lao tới, nắm chặt lấy cổ tay tôi, kéo giật một vòng qua vai anh: "Bám vào vai tôi! Nhảy!"

Cả hai chúng tôi cùng lao mình khỏi mạn tàu Aurelia đang nghiêng dốc đứng.

Cú rơi tự do từ độ cao bốn mét kết thúc bằng một cú va chạm mạnh xuống sàn đệm cao su của ca-nô Biên phòng. Đáy ca-nô chồm lên dữ dội, nước biển tạt ướt đẫm mặt tôi, vị mặn chát xộc thẳng vào mũi và vết thương hở làm cơ thể tôi run lên bần bật. Hai chiến sĩ lập tức giật dây neo, tiếng động cơ ba trăm mã lực gầm rú xé toạc màn mưa, bẻ lái một góc chín mươi độ đưa chiếc ca-nô lao vút ra xa khỏi vòng xoáy nước tử thần của con tàu mười tám nghìn tấn.

Phía sau lưng chúng tôi, tàu chở hóa chất Aurelia rùng mình lần cuối. Đuôi tàu nhấc bổng lên khỏi mặt nước, để lộ chân vịt khổng lồ đứng bất động giữa sương mù, rồi từ từ trôi tuột xuống đáy vịnh Gành Rái trong một quầng bọt sóng khổng lồ đen ngòm màu dầu cặn.

Mặt biển chỉ còn lại những mảnh ván gỗ trôi dạt và tiếng gió rít qua phao số không.

Chiếc ca-nô Biên phòng lao đi vun vút trên luồng hàng hải hướng về Cảng kiểm soát Cửa khẩu Hiệp Phước. Tôi nằm ngửa trên sàn ca-nô, đầu tựa vào thành đệm cao su, hai mắt nhìn trân trân lên bầu trời mùa mưa tháng Bảy xám xịt không một bóng mây quang.

Lê Hoàng quỳ bên cạnh tôi, xé vội một cuộn băng gạc vô trùng mới từ hộp cứu thương dã chiến ép chặt lên vết mổ đang trào máu ở mạn sườn tôi.

"Giữ lấy," Hoàng nói dồn dập, giọng khàn đặc. "Mười lăm phút nữa ca-nô cập cầu cảng số hai. Băng đang đợi ở trạm xá với kíp cấp cứu."

Tôi không trả lời. Bàn tay phải của tôi vẫn ôm cứng chiếc túi chống ẩm chứa cuốn nhật ký gốc năm hai nghìn không trăm lẻ bốn và bản Thỏa thuận 104-MBE.

Nguyễn Mai Phương ngồi co ro ở mũi ca-nô, chiếc áo khoác sĩ quan Biên phòng trùm kín đôi vai gầy guộc. Cô ta nhìn vào chiếc kẹp tóc nhôm hình bướm đang cầm chặt trong lòng bàn tay, im lặng như một pho tượng đá giữa tiếng máy nổ gầm rú.

Tiếng chuông điện thoại vệ tinh trong túi áo khoác của Lê Hoàng bỗng reo vang từng hồi gấp gáp.

Hoàng bấm nút nhận cuộc gọi, bật loa ngoài giữa tiếng gió biển rít liên hồi. Giọng nói quen thuộc của Tí Bo từ tiệm net Quận 4 vang lên, nhưng không còn vẻ lém lỉnh thường ngày mà run rẩy, nghẹn đặc:

"Anh Hoàng... Anh Vũ có ở đó không?"

"Vũ đang ở đây. Bọn anh đã lấy được cuốn nhật ký gốc và rút khỏi tàu Aurelia an toàn. Tàu đã chìm tại phao số không," Hoàng nói dồn.

"Không... không phải chuyện con tàu..." Tiếng bàn phím lách cách của Tí Bo gõ liên tục qua đường truyền vệ tinh, xen lẫn tiếng thở dốc hốt hoảng. "Em vừa bẻ khóa luồng dữ liệu bảo mật từ máy chủ Cục Lãnh sự gửi về Viện Kiểm sát Tối cao cách đây ba phút... Cái tên đứng đầu danh sách nhận ủy thác chuyển nhượng tài khoản một trăm hai mươi triệu đô tại Zurich trong cuốn nhật ký năm 2004... không phải là Phan Hải Nam hay Nguyễn Khắc Thắng..."

Tôi chống một tay ngồi bật dậy, mặc kệ cơn đau xé toạc cơ liên sườn: "Là ai?"

"Là một hồ sơ tử tuất đã được hợp thức hóa hai mươi năm trước..." Giọng Tí Bo run lên bần bật. "Người ký nhận toàn bộ quyền ủy thác tài khoản mỏ đất hiếm đó mang số hiệu sĩ quan an ninh... trùng khớp hoàn toàn với số hiệu quân tịch của Đại úy Nguyễn Tuấn."

Tôi chết lặng giữa tiếng sóng biển gầm ré bên mạn thuyền. Điếu thuốc gãy trên môi tôi rơi tuột xuống sàn ca-nô ướt sũng.

0