Giao Lộ Mờ Sương

Chương 62: Phao Số Không

Đăng: 22/08/2026 18:46 2,988 từ 1 lượt đọc

Gió biển ở vịnh Gành Rái lúc hơn năm giờ sáng mang theo vị mặn chát và mùi dầu cặn nồng nặc. Nước biển đen thẫm như mực tàu, cuộn từng đợt sóng lừng đập dữ dội vào mạn chiếc ca-nô cao tốc hai động cơ ba trăm mã lực của Biên phòng Cửa khẩu Hiệp Phước. Mỗi lần mũi ca-nô chồm lên rồi dằn mạnh xuống mặt sóng, lồng ngực trái của tôi lại giật thắt như có ai cầm kìm sắt bẻ ngoặt hai đầu xương sườn số sáu và số bảy vừa nứt.

Ống dẫn lưu silicon cỡ 28F cắm xuyên qua khoang liên sườn số năm đang căng ra dưới ba lớp băng thun ép chặt. Máu loãng và dịch màng phổi vẫn rỉ từng giọt vào bình hút áp lực âm buộc bên hông tôi. Vị tanh của cặn máu hòa lẫn vị đắng ngắt của ngụm cà phê nguội Hạ Băng nhét vào tay lúc ở Nhà Bè bám chặt nơi cuống họng.

Tôi cắn mạnh vào đầu lưỡi. Cơn đau buốt nhói kéo giật thần kinh tôi khỏi cơn choáng do thiếu oxy.

Phía trước, cách mũi ca-nô chưa đầy ba trăm mét, con tàu chở hóa chất Aurelia lù lù hiện ra như một khối pháo đài thép màu xám đen trôi dạt giữa màn sương sớm. Mười tám nghìn tấn thép rẽ nước tạo thành những vệt bọt trắng xóa dài hàng hải lý. Đèn hàng hải màu đỏ và xanh lục trên cột buồm nhấp nháy liên hồi trong sương mù. Chiếc xuồng hoa tiêu vừa tách khỏi mạn phải của tàu, quay đầu trở lại đất liền.

Thuyền trưởng tàu Aurelia đang bắt đầu tăng tốc để mở hết công suất máy chính.

"Tốc độ của nó đã lên mười ba hải lý một giờ," Lê Hoàng đứng cạnh tôi, hai chân bám chắc vào sàn ca-nô dập dềnh, khẩu súng K59 nắm chặt trong tay đã kéo bao da mở chốt. Gió biển thổi tung vạt áo khoác dã chiến của anh, để lộ phù hiệu Đội Trọng án dính đầy bụi khói từ hiện trường bến xe Miền Đông. "Chúng ta chỉ còn chưa đầy mười phút trước khi con tàu này vượt qua phao số không. Ra khỏi ranh giới mười hai hải lý, quyền tài phán trên biển thuộc về công ước quốc tế và tàu treo cờ Liberia."

Trung úy Biên phòng điều khiển ca-nô quay đầu lại, hét lớn qua tiếng gầm rú của hai khối động cơ phản lực nước: "Thưa các đồng chí, Đại sứ quán Thụy Sĩ vừa gửi công hàm khẩn cấp lần hai qua Cục Lãnh sự! Họ khẳng định tàu Aurelia đang vận chuyển hồ sơ tài chính được bảo hộ ngoại giao thương mại đặc biệt. Nếu chúng ta ép dừng tàu mà không có chứng cứ quả tang phạm pháp hình sự trên vùng nội thủy, Bộ Tư lệnh sẽ bị kiện ra tòa án trọng tài quốc tế!"

Tôi không trả lời bằng lời. Tôi rút chiếc máy bộ đàm cầm tay từ thắt lưng của Hoàng, bật kênh tần số hàng hải khẩn cấp mười sáu.

Tiếng rè rè của sóng ngắn vang lên, rồi ba tiếng gõ cơ học khô khốc truyền qua màng loa.

Cộc. Cộc. Cộc.

Âm thanh đó giống hệt tiếng hạt cát cuối cùng rơi trong chiếc đồng hồ ở biệt thự Thảo Điền, giống tiếng gõ vô thức của trinh sát Nguyễn Minh Đăng trước lúc trút hơi thở cuối cùng trong phòng áp lực âm lúc nửa đêm.

"Anh Vũ," một giọng nữ vang lên qua loa bộ đàm, tiếng Việt chuẩn xác nhưng phẳng lặng, lạnh lẽo như một tảng băng trôi từ dãy Alps. "Tôi đã nói rồi. Anh đã chậm năm phút. Các người đã mất hai mươi năm để bắt một lão tướng về hưu và vài tên sâu mọt trong nước. Nhưng cuộc chơi này chưa bao giờ thuộc về những kẻ ngồi trong phòng thẩm vấn."

"Nguyễn Mai Phương," tôi ghìm chặt ngực trái, ép luồng khí thoát ra từ kẽ răng để giữ cho giọng mình không bị ngắt quãng. "Cô đang cầm cuốn nhật ký của bảo mẫu Mai Lan. Đứa trẻ năm tuổi năm xưa không cần một tấm hộ chiếu Geneva để mua danh dự cho mẹ mình."

Bên kia đầu dây im lặng đúng hai giây. Chỉ có tiếng gió biển rít qua micro trên đài chỉ huy tầng cao nhất của tàu Aurelia.

"Mẹ tôi đã chết cháy vì hai trăm triệu tiền bẩn của lũ mặc vest," giọng cô ta đanh lại, từng chữ như mũi dao gọt vỏ cây. "Bản án của các anh chỉ bỏ tù được thân xác chúng, còn khối tài sản hai phẩy năm tỷ đô-la dưới lòng đất Mái ấm Hướng Dương vẫn sẽ bị chia chác bởi những bản hợp đồng mới. Tôi không cần danh dự. Tôi lấy lại toàn bộ những gì thuộc về Mái ấm bằng chính luật chơi của thế giới tài chính."

Chiếc ca-nô Biên phòng chao nghiêng một góc bốn mươi lăm độ khi lướt qua luồng sóng đuôi khổng lồ của tàu hàng. Nước biển bắn tung tóe lên mặt kính chắn gió, mặn chát và cay xè mắt.

"Mạn phải! Thang dây hoa tiêu chưa kéo hết!" Lê Hoàng chỉ tay về phía bức tường thép sừng sững cao hơn chục mét. "Họ vừa trả hoa tiêu xong, cuộn thang gỗ vẫn còn thả lơ lửng cách mặt nước hai mét!"

"Ép sát vào!" Tôi đập tay lên vai người chiến sĩ lái tàu. "Hoàng, anh giữ chân đội an ninh trên boong. Tôi phải lên đài chỉ huy."

"Ngực anh đang có ống dẫn lưu!" Lê Hoàng túm chặt lấy quai áo khoác của tôi, ánh mắt trừng lên giận dữ. "Vận động mạnh là rách toang cơ liên sườn, anh sẽ tràn khí màng phổi tái phát chết ngạt trước khi chạm chân lên boong!"

Tôi gạt tay anh ra. Lớp vỏ bọc cựu cảnh sát rách nát của tôi lại nứt toác ra một mảng, nhưng tôi khép nó lại ngay bằng một cái nhếch mép khô khốc.

"Hạ Băng khâu bằng chỉ nilon số hai," tôi nói, giọng cộc lốc như tiếng vỏ đạn rơi xuống sàn xi măng. "Đứt làm sao được. Nếu tôi chết ngạt thì bảo cô ấy gửi hóa đơn tiền chỉ khâu về hẻm Bốn Mươi Tám Ba Đình."

Chiếc ca-nô chồm lên theo một ngọn sóng bạc đầu, áp sát vào lườn thép đen sì của con tàu khổng lồ. Tiếng kim loại cọ xát vào đệm cao su phát ra những âm thanh ken két chói tai. Mùi dầu F.O nồng nặc phả thẳng vào mặt.

Tôi phóng người ra, hai bàn tay chộp lấy bậc gỗ dưới cùng của chiếc thang dây hoa tiêu.

Cú va chạm giật ngược toàn bộ trọng lượng cơ thể tôi xuống biển. Một cơn đau bùng nổ từ khoang ngực trái, bén ngót như bị một thanh thép nung cắm xuyên qua xương bả vai. Bình hút dẫn lưu bên hông đập mạnh vào thành tàu, máu đỏ tươi trào ngược lên đoạn ống silicon trong suốt. Tôi ngậm chặt miệng, cắn rách cả môi trong để nuốt ngược ngụm máu tanh tưởi xuống họng.

Từng bậc một. Hai tay tôi bám chặt lấy dây thừng bện ướt sũng nhớt và nước biển. Mỗi nhịp kéo người lên, cơ ngực lại co thắt dữ dội, kéo căng mối chỉ khâu cố định ống dẫn lưu vào thành ngực. Lê Hoàng đu ngay phía sau tôi, khẩu súng K59 cắm sau thắt lưng, một tay đỡ lấy gót giày của tôi đẩy mạnh lên trên.

Chúng tôi trèo qua lan can thép boong chính của tàu Aurelia đúng vào khoảnh khắc tiếng còi tàu hú vang ba hồi dài báo hiệu rời vùng nước hoa tiêu.

Hai gã thủy thủ người Đông Âu mặc đồng phục bảo hộ màu cam lao ra từ cửa hầm hàng, tay cầm theo dùi cui kim loại và bình chữa cháy mini. Lê Hoàng không cho chúng cơ hội tiếp cận. Anh bước lên trước một bước, thế chân trụ vững như bàn thạch trên sàn thép trơn trượt, vung báng súng K59 nện thẳng vào xương quai xanh của tên đi đầu. Gã thủy thủ gập người quỵ xuống. Tên thứ hai vừa giơ bình chữa cháy lên liền bị Hoàng bẻ ngoặt khớp cổ tay, giật phăng chiếc bình rồi đạp thẳng gã vào cửa ngăn nước bằng thép.

Cửa đài chỉ huy ở tầng năm thượng tầng bật mở.

Nguyễn Mai Phương đứng đó.

Cô ta mặc một chiếc áo măng-tô đen cắt may tinh tế theo phong cách châu Âu, mái tóc cắt ngắn ngang vai để lộ gương mặt thanh tú nhưng góc cạnh, đôi mắt màu nâu tro không hề có chút dao động nào trước cảnh tượng bạo lực dưới boong. Trên tay cô ta không có vũ khí, chỉ có một chiếc cặp da mỏng bằng da bò cổ điển và một cuốn sổ tay bìa cứng đã sờn rách bốn góc vì thời gian và khói lửa.

Đó là cuốn nhật ký gốc năm 2004 của bảo mẫu Nguyễn Mai Lan.

"Các anh mang súng lên một con tàu mang cờ quốc tế có công hàm bảo hộ ngoại giao," Mai Phương cất tiếng, giọng cô ta át cả tiếng gió rít qua lan can thép. "Chỉ cần tôi bước qua cánh cửa kia, con tàu này chính thức vượt qua phao số không. Mười hai hải lý. Tòa án Nhân dân Tối cao của các anh sẽ không có bất kỳ quyền hạn nào đối với số cổ phần này."

Tôi bước từng bước nặng nề lên cầu thang hẹp dẫn lên boong thượng tầng. Mỗi bước chân là một nhịp rít buốt của lá phổi đang bị chèn ép. Tôi dừng lại cách cô ta năm mét, tựa lưng vào vách cabin để giữ cho hai đầu gối không khuỵu xuống.

Tôi thọc tay vào túi áo khoác trong.

Ngón tay tôi chạm vào chiếc kẹp tóc bằng nhôm uốn hình con bướm bị cháy xém một góc — kỷ vật tôi tìm thấy dưới gốc dã quỳ sau chái bếp Mái ấm Hướng Dương, thứ mà Đại úy Nguyễn Tuấn đã mang bên mình suốt ba năm trước khi bị bắn chết ở hẻm Cầu Muối.

Tôi rút chiếc kẹp tóc ra, đặt nó lên mặt hộp cứu sinh bằng composite màu cam ngay trước mặt cô ta.

Gương mặt lạnh băng như tạc tượng của Nguyễn Mai Phương khẽ co rút lại. Đồng tử của cô ta giãn ra trong một phần mười giây khi ánh mắt chạm vào vệt đen cháy xém trên đôi cánh bướm bằng nhôm.

Lớp vỏ thép của cô ta vừa nứt ra một tia vô cùng nhỏ.

"Mẹ cô không để lại cuốn nhật ký này để cô biến nó thành công cụ tống tiền Quỹ Viễn Đông," tôi nói, giọng trầm đục, thở dốc từng hơi ngắn. "Đêm mười hai tháng mười một năm hai mươi năm trước, chị Lan đã nhét Đen qua khe thông gió của chái bếp, rồi quay lại phòng ngủ để bế cô. Nhưng cửa sau đã bị xích sắt của Đinh Trọng Phúc khóa chặt."

"Tôi nhớ mùi khói đó," Mai Phương siết chặt cuốn sổ bìa cứng, những đốt ngón tay trắng bệch ra vì lực ép. "Tôi nhớ cả tiếng xích sắt va vào then cửa. Hai mươi năm qua, gia đình nhận nuôi tôi ở Geneva cho tôi ăn học, cho tôi ngồi vào những hội đồng quản trị nghìn tỷ. Nhưng mỗi đêm tôi nhắm mắt lại, tôi vẫn ngửi thấy mùi dầu diezen và tiếng thét của bảy đứa trẻ trong căn nhà gỗ. Các anh nghĩ bắt giam Nguyễn Khắc Thắng và Đỗ Khắc Khiêm là xong sao? Không. Kẻ giật dây thực sự là các quỹ đầu tư tài chính ở Zurich và London. Chúng dùng năm mươi triệu đô-la để mua chuộc cả bộ máy chính quyền thời đó, xóa trắng mái ấm để cướp mỏ đất hiếm."

Cô ta giơ cuốn nhật ký lên, chỉ vào những trang giấy ố vàng đầy những con số và chữ ký.

"Đây không phải là nhật ký sinh hoạt," Mai Phương gằn từng tiếng. "Đây là bản đồ địa tầng và danh sách các tài khoản nhận hối lộ nguyên gốc bằng ngoại tệ do mẹ tôi bí mật sao chép từ bàn làm việc của Phạm Kiến Quốc. Với tư cách là người sở hữu năm mươi phần trăm Quỹ Viễn Đông, tôi sẽ mang tài liệu này ra Tòa án Trọng tài Quốc tế tại The Hague. Tôi sẽ phong tỏa toàn bộ quyền khai thác mỏ quặng hai phẩy năm tỷ đô-la này vĩnh viễn. Không một ai ở cái đất nước này, từ quan chức tha hóa cho đến các tập đoàn tư bản mới nổi, được phép chạm một ngón tay vào mảnh đất nơi các em tôi đã nằm xuống!"

"Cô nhầm rồi, Mai Phương," tôi lắc đầu, rút từ trong túi áo ra tờ Thỏa thuận 104-MBE vừa thu hồi từ tủ sắt Bến xe Miền Đông. "Cô tưởng mình đang thi hành bản án tài chính tối hậu. Nhưng cô chỉ là quân cờ cuối cùng mà Quỹ Khai khoáng Viễn Đông cần để hợp thức hóa vụ cướp mỏ."

Mai Phương nhíu mày, ánh mắt lóe lên sự nghi ngờ: "Anh nói cái gì?"

"Theo Điều sáu khoản hai của bản Thỏa thuận ủy thác năm 2004 này," tôi giơ văn bản đã ngả màu ố vàng ra trước gió biển, "nếu hồ sơ địa chất gốc và nhật ký thẩm định bị đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam dưới dạng tranh chấp tài sản quốc tế không có sự đồng thuận của cơ quan tư pháp sở tại, toàn bộ quyền khai thác ngầm năm mươi năm sẽ tự động được chuyển nhượng toàn phần cho người nắm giữ cổ phần chi phối ở nước ngoài — chính là ngân hàng ủy thác tại Geneva."

Gió biển thổi phần phật tờ giấy pơ-luya trên tay tôi.

"Bọn chúng không hề muốn cứu Võ Khang hay bảo vệ Trịnh Văn Phát," tôi tiếp tục, từng câu nói chặt đứt từng ảo tưởng của cô gái trẻ. "Chúng dàn cảnh xe bồn phát hỏa ở Bến xe Miền Đông là để tiêu hủy bản lưu trong nước. Và chúng tài trợ cho cô, hợp thức hóa quyền sở hữu năm mươi phần trăm cổ phần của cô, là để cô tự tay mang cuốn nhật ký này ra khỏi mười hai hải lý. Giây phút con tàu này chạm vào hải phận quốc tế, hợp đồng ủy thác sẽ kích hoạt trên hệ thống máy chủ Zurich. Cô không phong tỏa được mỏ quặng đâu. Cô vừa tự tay ký giấy bán đứt nơi chôn nhau cắt rốn của mẹ cô cho những kẻ đứng sau tấm rèm ở Thụy Sĩ với giá không đồng."

Mai Phương sững sờ. Bàn tay đang ôm cuốn nhật ký bắt đầu run lên nhè nhẹ.

"Không thể nào..." cô ta lẩm bẩm, ánh mắt quét nhanh qua những dòng điều khoản tiếng Anh pháp lý in nhỏ li ti ở cuối bản thỏa thuận trên tay tôi. Là một chuyên gia tài chính được đào tạo tại Đại học Geneva, cô ta chỉ cần ba giây để nhận ra cái bẫy chết người nằm trong cấu trúc ủy thác chéo mà Quỹ Viễn Đông đã cài cắm từ hai mươi năm trước. "Bọn chúng... đã dùng tôi..."

"Đúng," tôi nói, vị tanh trong miệng càng lúc càng đậm. "Đăng đã hiểu ra điều đó trước khi chết. Thằng bé đã dùng mạng sống của mình để giữ lại chiếc chìa khóa tủ một trăm lẻ bốn, để bản hợp đồng này không bao giờ bị thiêu rụi trong bến xe. Đăng muốn cô dừng lại."

Mai Phương lùi lại một bước, lưng chạm vào lan can thép bảo vệ của boong thượng tầng. Phía dưới chân cô ta, biển đêm đang cuộn trào những ngọn sóng đen ngòm va vào thân tàu ầm ầm. Phao số không màu đỏ chớp sáng cách mũi tàu chưa đầy một hải lý.

Chiếc loa công vụ trên đài chỉ huy bỗng nhiên vang lên giọng của thuyền trưởng: "Cảnh báo an ninh! Phòng máy trung tâm vừa bị ngắt quyền kiểm soát! Hệ thống van xả đáy khẩn cấp đang bị kích hoạt từ xa!"

Tiếng còi báo động chìm tàu rúc lên từng hồi chói tai xé toạc màn sương mù vịnh Gành Rái.

Thân tàu Aurelia mười tám nghìn tấn bỗng nhiên rung chuyển dữ dội, nghiêng nhẹ sang mạn trái khi hàng nghìn khối nước biển bắt đầu tràn vào các khoang dằn đáy tàu.

Từ bên trong hành lang dẫn ra đài chỉ huy, viên cố vấn pháp lý người Thụy Sĩ của Quỹ Viễn Đông bước ra. Trên tay gã không phải là cặp tài liệu ngoại giao, mà là một chiếc máy kích nổ cầm tay có đèn tín hiệu đỏ nhấp nháy liên tục, cùng một khẩu súng ngắn bán tự động Glock 19 đã lên đạn sẵn.

Gã nhìn Mai Phương bằng ánh mắt lạnh tanh của một kẻ thanh trừng chuyên nghiệp, họng súng đen ngòm chĩa thẳng vào ngực cô gái:

"Cô Phương, cảm ơn cô đã mang cuốn nhật ký lên tàu. Nhưng hải trình của cô... kết thúc tại phao số không này rồi."

0