Chương 54: Dưới Móng Thành Phố
Mưa tháng Bảy ở Sài Gòn không rơi, nó quất.
Nước từ trên trời đổ xuống xối xả, biến mặt đường Pasteur thành một dòng sông đục ngầu phù sa, rác rưởi và váng xăng loang lổ như cầu vồng chết. Trên mặt đất, những chiếc xe công vụ mang biển xanh của Phòng Cảnh sát Hình sự lừ đừ bò qua các chốt chặn, cần gạt nước chém điên cuồng vào khoảng không vô vọng. Đèn pha quét qua từng hốc tối, từng mái hiên tiệm cà phê đóng cửa sớm. Trịnh Khắc Kiên đang lùng chúng tôi như thợ săn lùng thú hoang trúng độc.
Nhưng thành phố này không chỉ sống trên mặt đường.
Tôi ngồi thu mình trong khoang sau của chiếc xe tải đông lạnh do Ba Cháy đậu nép vào góc đường Nguyễn Công Trứ, cách ngã tư Pasteur một dãy nhà. Mùi tanh của cá vụn và đá lạnh bám chặt vào hốc mũi, át đi mùi cồn đỏ i-ốt trên ngực tôi. Hạ Băng vừa siết lại vòng băng thun thứ tư quanh lồng ngực tôi mười lăm phút trước, trước khi chúng tôi rời Nhà Bè. Cô không nói câu nào thừa thãi. Đôi bàn tay đeo găng cao su kéo căng mép vải, khóa chặt hai đầu xương sườn số sáu đang gãy lìa.
"Chỉ cần anh ho một cơn mạnh, đầu xương sẽ chọc thủng màng phổi tạng," cô nói, mắt nhìn thẳng vào đồng tử tôi, giọng phẳng lặng như dao mổ đặt lên khay inox. "Thuốc giảm đau liều tối đa chỉ lừa được hệ thần kinh sáu tiếng. Sau sáu tiếng, nếu anh không ngất vì sốc đau, Đăng cũng sẽ ngưng thở."
Tôi không trả lời. Tôi với tay lấy hộp sữa đặc rỗng dùng làm gạt tàn trên sàn xe, nhổ bãi bọt lẫn vệt đờm đỏ tươi vào đó. Hai viên sủi giảm đau nuốt khan hồi nãy đang bắt đầu cào rách niêm mạc dạ dày, tạo thành một cơn nóng rát âm ỉ dọc xương ức.
"Đăng thế nào rồi?" Lê Hoàng lên tiếng, phá vỡ khoảng lặng đặc quánh trong thùng xe.
Hoàng ngồi đối diện tôi, khẩu K54 đã lên đạn đặt hờ trên đầu gối, áo khoác dã chiến ướt sũng nước mưa. Đôi mắt anh trũng sâu, viền đỏ dọc mí dưới. Anh vừa xem lại đoạn băng Betacam mười hai phút lần thứ ba dưới căn hầm B2. Anh đã thấy cha mình—Thượng tá Lê Văn Bản—bị bọn chúng tước quyền điều tra và đẩy vào chỗ chết uất ức như thế nào.
"Áp lực khoang màng phổi tạm ổn định ở mức âm mười lăm phân nước," tôi nói, giọng khàn đặc như có mạt sắt cọ trong thanh quản. "Nhưng tụ cầu vàng đang tràn vào máu. Hạ Băng đang dùng đến kháng sinh dự trữ cuối cùng của Quân y. Cậu ta chỉ còn mười bốn tiếng."
Mười bốn tiếng. Và lễ trao Huân chương Lao động hạng Nhất của Thiếu tướng Nguyễn Khắc Thắng sẽ bắt đầu lúc mười chín giờ ba mươi tối mai. Đồng hồ đếm ngược không chạy bằng giây, nó chạy bằng từng nhịp đập rời rạc của trái tim thằng Đen trên giường bệnh.
Tiếng rè cơ học phát ra từ chiếc tai nghe kết nối điện thoại vệ tinh. Giọng Tí Bo lọt vào tai tôi, lách qua tiếng mưa gầm rú trên nóc tôn xe tải:
"Anh Vũ, em vừa quét xong nhật ký trạm phát sóng khu vực Quận 1. Thằng Kiên rải bốn tổ trinh sát hình sự chốt cứng bốn góc: Pasteur - Lý Tự Trọng, Pasteur - Lê Thánh Tôn, Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Trương Định. Camera an ninh đô thị của Trung tâm chỉ huy đã bật chế độ nhận diện khuôn mặt tự động bằng trí tuệ nhân tạo. Hai anh thò mặt lên khỏi vỉa hè trong bán kính năm trăm mét quanh Hội trường Thành ủy là còi báo động ré lên ngay. Cảnh vệ vòng trong đã lên đạn súng tiểu liên, lệnh bắn tiêu diệt không cần cảnh cáo."
"Kệ mẹ mặt đất," tôi đáp cộc lốc. "Đường ống dẫn ngầm thế nào?"
"Tọa độ của anh Tuấn vẽ chính xác tuyệt đối. Nhánh cống hộp đôi thời Pháp dưới lòng đường Pasteur có kích thước một mét tám nhân hai mét. Từ miệng cống xả ngập nước sau lưng miếu hoang chợ Dân Sinh, các anh bò ngược dòng sáu trăm mét sẽ chạm van chắn rác số bốn. Phía sau van chắn rác là đường ống dẫn dầu làm mát của hệ thống điều hòa trung tâm thời Dinh Thống đốc. Nhưng có một biến số."
"Nói."
"Mực nước triều cường sông Sài Gòn đang dâng cao kết hợp mưa lớn. Mức nước trong cống Pasteur đang ở mức một mét bốn. Các anh chỉ có bốn mươi phân không khí sát vòm bê tông để thở. Và áp lực nước đang đẩy ngược về phía hạ lưu."
Tôi tắt tai nghe, ngẩng đầu nhìn Lê Hoàng. Hoàng không hỏi lại. Anh với lấy chiếc ba lô bọc ba lớp túi nilon dày chống nước, kiểm tra lại cuộn băng Betacam 1/2 inch và bản gốc giấy khai sinh của Đăng. Hai thứ kim loại và nhựa từ tính ấy nhẹ chưa tới nửa ký, nhưng nó chứa đựng máu của tám đứa trẻ, một người phụ nữ hai mươi tư tuổi và mạng sống của Đại úy Nguyễn Tuấn.
"Đi thôi," Hoàng nói ngắn gọn.
Chúng tôi trượt khỏi đuôi xe tải, lẩn vào màn mưa mù mịt của hẻm sau chợ Dân Sinh.
Mùi hôi thối bốc lên từ miệng hố ga không phải thứ mùi ngửi thấy trên mặt đường. Đó là mùi của bùn hữu cơ thối rữa hai mươi năm, mùi mỡ cặn từ hàng trăm quán ăn xả lén, mùi axít sulfuric bốc lên từ rãnh nước thải công nghiệp. Nó đặc quánh, nhờn nhợt và xộc thẳng vào cuống họng làm tôi nôn khan một ngụm dịch vị đắng ngắt.
Hoàng dùng thanh xà beng mini móc chốt sắt nắp hố ga, nhấc nghiêng một khoảng vừa đủ một người lọt qua. Bóng tối dưới đáy cống há to như miệng một con quái vật ngậm đầy bùn đen.
Tôi tụt xuống trước.
Bàn chân vừa chạm đáy cống, dòng nước đen ngòm, lạnh buốt lập tức dâng lên quá ngực. Áp lực dòng chảy đập thẳng vào mạn sườn trái làm hai đầu xương gãy cọ xát dữ dội. Một cơn đau buốt nhói chạy dọc tủy sống khiến mắt tôi tối sầm lại trong nửa giây. Tôi cắn chặt môi dưới, vị mặn của máu hòa cùng vị tanh của nước cống ngập đầy trong miệng.
Tôi bật chiếc đèn pin thợ lặn gắn trên trán. Luồng ánh sáng vàng đục rẽ màn hơi nước bốc nghi ngút, chiếu lên những vòm gạch thẻ màu đỏ xám được người Pháp xây từ cuối thế kỷ mười chín. Những mảng rêu đen trơn tuột phủ kín thành cống, rễ cây xà cừ cổ thụ từ mặt đường Pasteur đâm xuyên qua các khe nứt, rủ xuống như những sợi thừng treo cổ.
Hoàng trượt xuống ngay sau tôi, kéo nắp sắt đóng sập lại trên đầu. Tiếng động cơ xe cộ và tiếng mưa rào trên mặt đất lập tức biến mất, thay vào đó là tiếng nước gầm gừ va đập vào vòm gạch và tiếng bì bõm của hai cơ thể đang lội ngược dòng.
"Mở sổ tay của Tuấn ra," tôi thở dốc, nói qua lớp khẩu trang vải tẩm cồn.
Hoàng rút cuốn sổ tay kỹ thuật bọc nilon trong túi ngực, soi dưới ánh đèn pin. Những nét vẽ bằng mực đen của Tuấn từ ba năm trước hiện lên rõ ràng: từng khúc cua, từng mối nối cống tròn chuyển sang cống hộp, và độ dốc của từng đoạn thoát nước. Tuấn đã âm thầm lội qua đoạn cống này hàng chục đêm trước khi bị điều chuyển về hẻm Cầu Muối. Cậu ta đã lần theo đường đi của những vali tiền mặt được tuồn từ các dự án đất đai của Huỳnh Trí Cao và Võ Khang vào tài khoản ngầm.
Ở góc dưới trang giấy vẽ ngã ba cống Pasteur - Hàm Nghi, có một dòng chữ viết tay nhỏ xíu bị nước làm nhòe góc: "Mua cho thằng Nhím đôi giày bata cỡ 32 trước ngày 15."
Ngón tay cái của tôi vô thức miết lên mép giấy ố vàng. Tôi dừng lại một nhịp thở. Ba năm nay, mỗi tháng tôi vẫn chuyển tiền vào tài khoản mẹ thằng Nhím qua một bưu điện ở Tân Bình, không tên người gửi. Thằng bé năm nay đã lên lớp bốn. Đôi giày bata năm ấy Tuấn chưa kịp mua.
Tôi gập mạnh cuốn sổ, nhét trả vào ngực áo Hoàng.
"Đi tiếp," tôi nói, giọng lạnh tanh như thép nguội. "Đoạn này trần cống hạ thấp."
Chúng tôi cúi rạp người, nước cống dâng lên ngang cằm. Cứ mỗi bước chân đạp qua lớp bùn nhão dưới đáy, những bọt khí metan lại lục bục sủi lên, nồng nặc mùi trứng thối. Chuột cống to bằng bắp tay bơi lóp ngóp dạt vào hai bên vách đá, mắt đỏ lòe phản chiếu ánh đèn pin.
Một cơn co thắt ngực ập đến. Lồng ngực tôi như bị một chiếc đe sắt nghiến chặt. Tôi phải ngửa cổ tựa vào vách gạch thẻ trơn trượt, há mồm đớp từng ngụm không khí nhớp nhúa sát vòm trần. Băng thun siết chặt đến mức da thịt rát bỏng. Tôi lấy trong túi áo ra một điếu Thăng Long đã ướt sũng nửa thân, kẹp vào môi nhưng không châm. Cảm giác vị thuốc lào đắng chát trên đầu lưỡi giúp tôi giữ cho vỏ não không bị cơn đau đánh sập.
"Anh trụ được không?" Hoàng nắm lấy bắp tay tôi, ngón tay anh bóp mạnh vào thớ cơ.
"Chết thế nào được," tôi gạt tay anh ra, nhổ điếu thuốc nát bét xuống dòng nước đen. "Còn sáu mươi mét nữa tới van số bốn."
Chúng tôi lội thêm hai mươi phút trong bóng tối mù mịt. Dòng nước chảy xiết hơn khi tiếp cận khu vực trũng dưới nền giao lộ Pasteur - Lê Thánh Tôn.
Trước mặt chúng tôi, vòm cống bị chặn đứng bởi một khung sắt khổng lồ. Cửa van chắn rác số bốn.
Đó là một hệ thống chấn song bằng thép phi hai mươi đan chéo mắt cáo, cắm sâu vào khối bê tông mác cao của chân móng Dinh Thống đốc Nam Kỳ cũ. Qua lớp chấn song, một đường ống thông gió hình chữ nhật bằng đồng xám dẫn chếch lên phía trên—lối vào duy nhất dẫn thẳng tới hầm kỹ thuật bên dưới khán phòng chính của Hội trường Thành ủy.
Nhưng cánh cửa van không mở.
Một sợi xích thép bọc nhựa đen to bản quấn ba vòng quanh chốt khóa cơ học, nối với một ổ khóa số điện tử công nghiệp đang chớp đèn đỏ định kỳ ba giây một lần. Trên thân ổ khóa có dán tem niêm phong phản quang của Phòng Kỹ thuật Nghiệp vụ Công an Thành phố.
"Mẹ kiếp," Hoàng rủa khẽ, soi đèn pin vào tem niêm phong. "Tem mới dán. Thằng Kiên đã cho người khóa cửa van từ hôm qua."
Tôi lội sát lại gần, đưa các ngón tay rách da sờ nắn mép ổ khóa và khung thép.
Kim loại lạnh ngắt. Dấu vết cọ xát trên gờ xích cho thấy nó mới được siết căng bằng kìm thủy lực không quá hai mươi bốn tiếng. Nguyễn Khắc Thắng không để sót một kẽ hở nào trên mặt đất, và con chó săn Trịnh Khắc Kiên của lão đã kịp bịt luôn cả đường cống ngầm.
"Cắt xích bằng cưa tay mất ít nhất hai tiếng," Hoàng nói, rút lưỡi cưa sắt từ hông ba lô. "Tiếng rít kim loại dưới cống hộp sẽ vọng ngược lên các nắp hố ga trên đường Pasteur. Trinh sát vòng ngoài sẽ phát hiện ngay."
"Không cần cưa," tôi thở dốc, cúi xuống soi đèn vào chân cột bê tông đỡ van chắn rác.
Một chi tiết kỹ thuật mà chỉ những người từng lội cống thời Pháp mới biết: hệ thống van chắn rác thế kỷ mười chín không dùng bản lề hàn chết vào bê tông. Chúng được cố định bằng các chốt then cài bằng đồng thau luồn ngang qua hai hốc đá chẻ dưới chân tường ngầm để tiện tháo dỡ khi nạo vét bùn mùa lũ.
Và ngay tại hốc đá chẻ bên phải, dưới lớp bùn đen ngập sâu nửa mét, đầu chốt then cài bằng đồng đang thò ra khoảng ba phân.
Tuấn đã đánh dấu chữ X bằng mũi dao găm lên đúng tảng đá chẻ này từ ba năm trước. Vết khắc hình chữ X vẫn còn nằm đó dưới lớp rêu xanh.
"Hoàng, giữ xà beng," tôi ra lệnh, giọng nghẹn lại vì áp lực ngực.
Tôi lặn ngụp nửa thân dưới dòng nước cống đen ngòm, thò hai tay xuống hốc đá mò mẫm. Bùn lạnh buốt và cát sỏi cào rách các kẽ móng tay. Hai rẻ sườn số sáu và bảy gãy lìa va đập vào thành bê tông đau buốt đến tận óc, khiến tôi suýt sặc ngụm nước thải nồng nặc hóa chất.
Tôi cắm mũi xà beng mini vào khe hở giữa chốt đồng và hốc đá, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể tì lên cán thép.
"Bẩy!" tôi gầm lên trong cổ họng.
Hoàng lao xuống, hai tay ôm lấy cán xà beng cùng tôi dồn lực.
Rắc.
Một tiếng kim loại gãy giòn vang lên dưới đáy nước. Chốt then cài bằng đồng thau trăm năm tuổi bị vặn xoắn, bung ra khỏi ngàm đá. Toàn bộ khung chấn song thép phi hai mươi trượt nghiêng sang bên trái mười lăm phân, tạo ra một khe hở vừa đủ cho một người nghiêng mình lách qua.
Dòng nước cống lập tức tràn ào ạt qua khe hở, cuốn theo rác rưởi trôi tuột vào họng xả phụ.
Hoàng trườn qua trước, kéo chiếc ba lô bọc nilon theo sau. Tôi cắn chặt răng, nén cơn đau xé ngực trườn qua mép thép sắc nhọn. Cạnh sắt cứa rách toạc lớp áo sơ mi dính bùn, rạch một đường dài trên bả vai phải rỉ máu, nhưng tôi không dừng lại.
Chúng tôi trèo lên gờ bê tông khô ráo phía sau van chắn rác.
Trước mặt chúng tôi là một không gian hoàn toàn khác: một hành lang kỹ thuật ngầm hình vòm cuốn, xây bằng gạch thẻ thời Pháp khô ráo, cao hơn hai mét. Dọc theo trần gạch là hệ thống ống thông gió bằng đồng cũ kỹ và một đường cáp quang bọc vỏ cao su đen mới tinh chạy thẳng về phía trước.
Mùi ẩm mốc của công trình thế kỷ trước thay thế mùi xú uế của cống rãnh.
Tôi ngồi phệt xuống nền gạch tàu bám bụi, lưng tựa vào tường đá mát lạnh. Lồng ngực tôi phập phồng đau đớn, mồ hôi chua loét chảy ròng ròng trên trán, hòa cùng vệt bùn đen lem luốc trên mặt. Tôi với tay vào túi quần, lấy ra chiếc bật lửa Zippo bọc nilon chống nước.
Tách. Ngọn lửa vàng bùng lên soi rõ gương mặt góc cạnh, xám xịt của tôi phản chiếu qua vũng nước mưa đọng trên sàn gạch.
Tôi nhìn đồng hồ đeo tay. Hai mươi mốt giờ mười lăm phút.
Chúng tôi đang nằm ngay dưới lòng đất của Hội trường Thành ủy. Ngay trên đỉnh đầu chúng tôi, cách ba mét bê tông và sàn gỗ gõ đỏ, là khán phòng nơi ngày mai Nguyễn Khắc Thắng sẽ đứng dưới ánh đèn rực rỡ, đón nhận tấm Huân chương Lao động hạng Nhất từ tay lãnh đạo cấp cao trước hàng triệu khán giả truyền hình trực tiếp.
Tiếng rè cơ học của tai nghe lại vang lên. Giọng Tí Bo gấp gáp:
"Anh Vũ! Em vừa bắt được tín hiệu điều phối nội bộ của Ban Tổ chức Lễ trao huân chương. Có thay đổi cực lớn!"
"Nói nhanh," tôi thổi tắt ngọn lửa Zippo, bóng tối lập tức nuốt chửng căn hầm.
"Nguyễn Khắc Thắng vừa ký quyết định điều chỉnh kịch bản phát sóng trực tiếp cách đây năm phút. Toàn bộ hệ thống máy chủ phát sóng của Đài Truyền hình Thành phố đặt tại xe màu lưu động ngoài sân đã bị ngắt quyền can thiệp tín hiệu độc lập. Mọi đường truyền hình ảnh và âm thanh từ sân khấu chính sẽ được mã hóa bằng luồng cáp quang quân sự chuyên dụng và chuyển thẳng về một phòng điều khiển kỹ thuật ngầm đặt tại tầng bán hầm."
Tôi nheo mắt, nhìn đường cáp quang cao su đen đang chạy dọc trần gạch ngay trước mặt.
"Và người trực tiếp giữ mật mã giải mã luồng phát sóng tại phòng điều khiển ngầm đó," Tí Bo nuốt nước bọt, giọng run lên, "không phải người của Đài truyền hình. Chính là Thiếu tá Trịnh Khắc Kiên."
Lê Hoàng siết chặt báng súng K54 trong tay, các khớp ngón tay trắng bệch. Anh nhìn tôi qua bóng tối, ánh mắt lạnh như băng tuyết đèo Bảo Lộc.
Con đường bước lên mặt đất đã bị khóa chặt. Muốn đưa cuộn băng Betacam lên màn hình lớn trước mặt bàn dân thiên hạ lúc mười chín giờ ba mươi tối mai, chúng tôi không chỉ phải vượt qua ba mét bê tông cốt thép.
Chúng tôi phải bước qua xác của kẻ đang giữ chiếc chìa khóa mã hóa cuối cùng.
Tôi đứng dậy, bàn tay phải siết chặt mép túi áo khoác, nơi chiếc kẹp phẫu thuật bằng thép không gỉ của thằng Đen đang cấn vào xương sườn gãy buốt nhói.
"Đi tìm phòng điều khiển ngầm," tôi nói, bước chân đầu tiên đạp vỡ lớp bụi gạch hai mươi năm không ai chạm tới.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.