Chương 2: Hai Vết Hằn Trên Cổ
Mưa tháng Bảy ở Sài Gòn không bao giờ chịu dứt hẳn. Nó cứ rả rích, dai dẳng như một món nợ cũ không đòi được.
Tôi dập mẩu thuốc lá thứ tư vào cái gạt tàn bằng sứ mẻ góc, nhìn màn hình điện thoại vừa tắt ngấm sau cuộc gọi của Lê Hoàng. Thằng nhóc cấp dưới năm xưa giờ đã có lon Trung tá, ngồi ghế Đội trưởng Trọng án, giọng nói bắt đầu sặc mùi quyền lực và những văn bản hành chính vô hồn. Nó cảnh cáo tôi. Nó bảo tôi cút về cái xó ngập nước ở Quận 4 mà bắt mấy vụ ngoại tình vặt vãnh.
Tôi cười khẩy, tọng cọc tiền một trăm triệu của Hoàng Yến vào ngăn kéo bàn làm việc, khóa lại bằng chiếc chìa gỉ sét.
Một trăm triệu không mua được công lý ở cái đất này, nhưng đủ để tôi trả tiền thuê nhà ba tháng, mua vài thùng mì gói và đổ xăng cho con xe số cà tàng. Quan trọng hơn, nó mua được sự tò mò của tôi.
Một gã đại gia bất động sản ôm năm mươi triệu đô la chuẩn bị chuồn ra Thụy Sĩ thì không có lý do gì để tự thắt cổ trong penthouse. Và một kẻ tự sát thì không thể tự nhét một bức ảnh cũ bị gạch nát mặt vào tận đáy cuống họng mình trước khi đạp ghế.
Muốn biết người chết nói gì, cách nhanh nhất là đi tìm người duy nhất ở thành phố này biết cách lắng nghe họ.
Tôi khoác chiếc áo gió bạc màu, dắt xe ra khỏi hẻm. Nước cống ngập ngang bắp chân, đen ngòm và bốc mùi tanh tưởi của rác rưởi trôi nổi. Tôi nổ máy, tiếng bô xe gầm lên từng chập giòn tan rồi hòa vào màn mưa đêm.
Mười hai giờ ba mươi phút sáng. Trung tâm Giám định Pháp y nằm trên một con đường vắng ở Quận 5.
Tòa nhà quét vôi vàng cũ kỹ, bốn bề im ắng như một nấm mồ lớn giữa lòng thành phố. Tôi không đi cửa chính. Cửa chính có bảo vệ trực ca đêm và sổ ghi chép khách ra vào. Tôi dựng xe ở con hẻm bên hông, đi vòng ra cửa sau - lối dành riêng cho xe chở thi thể.
Cánh cửa sắt khép hờ. Mùi formalin ngai ngái trộn lẫn với mùi thuốc sát trùng xộc thẳng vào mũi, lạnh toát và nhức nhối. Cái lạnh mười sáu độ từ hệ thống điều hòa buồng lạnh phả ra khiến lớp áo sơ mi ướt sũng nước mưa dán chặt vào da thịt tôi, buốt lạnh thấu xương.
Dưới ánh đèn huỳnh quang trắng bợt, một người phụ nữ đang đứng bên bàn mổ bằng inox.
Cô mặc bộ đồ phẫu thuật màu xanh thẫm, tóc búi gọn sau gáy, đôi găng tay cao su màu trắng dính vài vệt dịch trong suốt. Hạ Băng. Ba mươi hai tuổi, đôi mắt một mí sắc như dao mổ, và là người duy nhất nhìn thẳng vào mắt tôi mà không lộ ra vẻ thương hại hay khinh bỉ suốt ba năm qua.
Tôi bước vào, tiếng đế giày da ẩm ướt rít lên trên sàn gạch men.
Băng không ngẩng đầu lên, tay vẫn cầm chiếc kẹp y tế:
"Nếu anh đến để xin thuốc lá, tôi không có. Nếu anh đến vì cái xác của Phạm Kiến Quốc, anh trễ rồi. Hồ sơ đã niêm phong lúc tám giờ tối."
"Em vẫn lạnh lùng như cái phòng này vậy, Băng." Tôi kéo một chiếc ghế xoay kim loại, ngồi xuống, đốt điếu thuốc.
"Tắt thuốc đi. Đây là phòng giám định, không phải cái ổ chuột của anh ở bến Vân Đồn."
Tôi ngậm điếu thuốc chưa châm trên môi, nhún vai: "Lê Hoàng vừa gọi cho tôi."
Băng dừng tay kẹp, ngước mắt lên nhìn tôi. Đôi mắt cô phẳng lặng như mặt nước giếng sâu, không một gợn sóng: "Nó làm đúng phận sự. Anh không còn là cảnh sát. Bước vào đây lúc nửa đêm là vi phạm quy trình tố tụng hình sự. Tôi có thể gọi bảo vệ tống cổ anh ra ngoài."
"Nhưng em sẽ không làm thế." Tôi nhìn thẳng vào cô. "Vì em biết bản kết luận tự sát đó có mùi."
Băng im lặng. Cô tháo đôi găng tay cao su, vứt vào thùng rác y tế bên cạnh, rồi đi lại bồn rửa tay. Tiếng nước chảy xối xả lấp đầy khoảng không gian lạnh lẽo. Cô lau khô tay bằng khăn giấy, tự rót cho mình một ly nước lọc, không mời tôi.
"Anh muốn gì?" Cô hỏi, giọng đều đều.
"Vết hằn trên cổ," tôi nói, mắt dán vào chiếc tủ lưu trữ tài liệu phía sau lưng cô. "Biên bản sơ bộ ghi nạn nhân chết do ngạt thở vì treo cổ, thời gian tử vong khoảng từ mười một giờ đêm đến một giờ sáng. Nhưng sợi dây thừng ở hiện trường là loại dây thừng bện bằng xơ dừa, đường kính hai phân. Loại dây đó khi siết vào da thịt người sống sẽ để lại bờ mép trầy xước rất sâu và tụ máu diện rộng do phản ứng sống."
Băng tựa lưng vào mép bàn inox, khoanh tay trước ngực: "Anh vẫn nhớ bài học khám nghiệm."
"Tôi chưa bao giờ quên," tôi đáp. "Nhưng nếu nạn nhân bị siết bằng một vật liệu mềm khác trước đó - ví dụ như một dải khăn lụa hoặc dây vải cotton - thì vết hằn sẽ nông, đáy vết hằn nhợt nhạt và chỉ tụ máu nhẹ. Sau đó, hung thủ mới treo xác lên bằng sợi dây xơ dừa để ngụy tạo. Hai vết hằn sẽ chồng lên nhau. Thằng bác sĩ pháp y mới vào nghề sẽ nhìn thấy vết dây thừng đậm hơn mà bỏ qua rãnh hằn mềm nằm ẩn bên dưới."
Căn phòng rơi vào một khoảng lặng đặc quánh.
Băng nhìn tôi thật lâu. Trong mắt cô lóe lên một tia sáng rất mỏng, rồi nhanh chóng tắt lịm. Cô quay người, mở ngăn kéo tủ kim loại, rút ra một tập hồ sơ có dán nhãn màu vàng và một phong bì chứa ảnh chụp cận cảnh.
Cô ném tập hồ sơ xuống mặt bàn inox trước mặt tôi. Tiếng kim loại va chạm vang lên khô khốc.
"Tôi chỉ cho anh xem trong năm phút. Không chụp hình, không ghi chép."
Tôi chộp lấy tập ảnh. Tấm đầu tiên là ảnh chụp cận cảnh vùng cổ của Phạm Kiến Quốc dưới ánh đèn chuyên dụng.
Đúng như tôi dự đoán. Dưới vết hằn sâu hình chữ V hướng chếch lên sau hai mang tai do sợi dây xơ dừa tạo ra, có một đường rãnh hằn thứ hai. Rãnh hằn này nằm ngang hoàn toàn, chạy vòng quanh sụn giáp, bề mặt đáy rãnh phẳng và không hề có dấu hiệu trợt biểu bì.
Hai vết thương. Hai cơ chế tác động khác nhau.
Người tự treo cổ không bao giờ tự tạo ra một vết siết nằm ngang trước khi treo mình lên xà nhà.
"Vết thứ nhất bóp nghẹt khí quản khi nạn nhân còn ngồi trên ghế," tôi lẩm bẩm, ngón tay miết nhẹ lên tấm ảnh bóng loáng. "Không có phản ứng vùng vẫy mạnh vì có thể nạn nhân bị khống chế bất ngờ từ phía sau. Khi tim vừa ngừng đập hoặc huyết áp tụt xuống mức cực thấp, hung thủ mới luồn dây thừng vào cổ, kéo xác lên trần nhà. Vì lúc đó tuần hoàn đã ngưng trệ, nên vết hằn thứ hai tụ máu rất ít, mép vết thương không sưng nề như người bị treo cổ khi còn sống."
"Chưa hết đâu," Băng cất giọng lạnh tanh, chỉ ngón tay thon dài vào góc dưới tấm ảnh thứ ba. "Nhìn vào khóe miệng đi."
Tôi nheo mắt nhìn. Vùng niêm mạc môi dưới và lợi của nạn nhân có vết rách nhỏ, tụ máu bầm.
"Vật thể lạ nhét trong họng," Băng nói tiếp. "Lúc tôi cạy hàm ra, bức ảnh đó bị cuộn chặt bằng băng keo trong, nhét sâu qua ngã ba hầu họng, chạm tới tận nắp thanh quản. Đứa nào làm chuyện này không phải muốn giấu đồ vật. Nó muốn nạn nhân phải nuốt nó vào bụng trước khi chết, hoặc muốn cảnh sát tìm thấy nó trong cuộc mổ tử thi."
"Một nghi thức," tôi thì thầm. "Một bản án."
"Lê Hoàng biết chuyện vết hằn kép không?" tôi hỏi.
"Tôi đã ghi chú vào biên bản giải phẫu tử thi ban đầu," Băng bình thản đáp. "Nhưng cấp trên của Hoàng nói đây là vụ án nhạy cảm, liên quan đến một tập đoàn nghìn tỷ đang vỡ nợ, dư luận đang sôi sục. Họ cần một kết luận nhanh để trấn an thị trường chứng khoán và các chủ nợ. Bản kết luận chính thức được chỉnh sửa: vết hằn ngang là nếp gấp da cổ của người béo phì. Phạm Kiến Quốc nặng tám mươi lăm ký."
Một sự che đậy trắng trợn. Hoặc là sự ngu xuẩn có hệ thống của những kẻ chỉ muốn giữ sạch sổ thi đua.
Đột nhiên, tiếng bước chân lộp cộp vang lên từ hành lang bên ngoài.
Tiếng giày da nện trên nền gạch, đều đặn và dứt khoát. Băng lập tức giật lại tập hồ sơ trên bàn, nhét nhanh vào ngăn kéo tủ và khóa lại. Tôi đứng phắt dậy, lùi về phía góc khuất sau cánh cửa tủ đông lạnh.
Cánh cửa phòng giám định đẩy ra.
Một bóng người bước vào. Không phải Lê Hoàng.
Đó là một cậu trinh sát trẻ mặc thường phục, khoác áo khoác gió mỏng màu xanh đen trùm kín tay, dáng người gầy và cao ráo. Nguyễn Minh Đăng. Cậu trinh sát hai mươi sáu tuổi trong đội của Hoàng, gương mặt sáng sủa, hiền lành, lúc nào cũng toát ra vẻ cần mẫn của một công chức mẫu mực.
Dù ngoài trời mưa ẩm và trong phòng máy lạnh buốt giá, hai tay áo sơ mi bên trong của Đăng vẫn cài cúc cẩn thận ở cổ tay, không để lộ một phân da thịt nào nơi cánh tay.
"Bác sĩ Băng, chị chưa về ạ?" Đăng cất giọng lễ phép, trên tay cầm một tập hồ sơ bìa cứng màu xanh.
"Tôi đang hoàn tất mấy mẫu sinh thiết," Băng trả lời tự nhiên, quay lưng lại dọn dẹp khay dụng cụ. "Cậu Đăng đến lấy biên bản bàn giao thi thể à?"
"Dạ vâng," Đăng mỉm cười, nụ cười hiền khô. Cậu ta rút một cây bút bi từ túi áo, mở một cuốn sổ tay bọc da màu đen dày cộp ra ghi chép. Cậu ta không dùng máy tính bảng hay điện thoại như đám trẻ cùng lứa, mà nắn nót viết từng dòng bằng tay. "Anh Hoàng dặn em ghé lấy chữ ký xác nhận của chị để sáng mai gia đình ông Quốc làm thủ tục nhận xác mang đi hỏa táng."
Nói đoạn, ánh mắt Đăng quét qua góc phòng và dừng lại ở tôi.
Cậu ta hơi khựng lại nửa giây, nhưng không hề tỏ ra hoảng hốt hay gắt gỏng như Lê Hoàng. Cậu ta hơi cúi đầu:
"Ủa, anh Vũ... Anh cũng ở đây ạ?"
Tôi bước ra khỏi bóng tối, rút điếu thuốc ra khỏi môi, nhét lại vào bao: "Chào cậu Đăng. Đi trực đêm cực nhỉ?"
"Dạ, lính mới mà anh, mấy việc chạy giấy tờ đêm hôm này em nhận hết cho mấy anh lớn về với vợ con." Đăng gãi đầu, nụ cười lộ vẻ thật thà. "Nghe anh Hoàng bảo anh dạo này mở văn phòng bên Quận 4, hôm nào rảnh em qua mời anh ly cà phê. Hồi anh còn ở đội, tụi em đứa nào cũng nghe danh anh phá vụ án phân lô bán nền ở Bình Chánh."
"Chuyện cũ rích rồi, nhắc làm gì," tôi nói bâng quơ, mắt liếc nhìn cuốn sổ tay của cậu ta. Những nét chữ nghiêng nghiêng, thẳng hàng tăm tắp, sạch sẽ không một vết gạch xóa. "Vụ ông Quốc coi như xong xuôi hết rồi à?"
Đăng vừa ký vào biên bản vừa đáp, giọng hơi tiếc nuối: "Dạ, sếp bảo các dấu vết ở hiện trường đều khớp với tự sát. Cửa khóa chốt điện tử bên trong, không có dấu cạy phá. Camera tầng bốn mươi cũng không thấy ai ra vào suốt đêm. Tụi em khám nghiệm kỹ lắm rồi anh. Giờ chỉ đợi hỏa táng là đóng hồ sơ."
"Khám nghiệm kỹ..." Tôi lặp lại ba chữ đó trong đầu.
"Thôi em xin phép về đội nộp giấy tờ cho kịp ca trực," Đăng gập sổ lại, kẹp cây bút bi vào gáy sổ cẩn thận, rồi chào Băng và tôi trước khi quay lưng bước ra ngoài.
Bóng Đăng vừa khuất sau khúc quanh hành lang, tôi quay sang Băng:
"Xác sẽ bị hỏa táng sáng mai?"
"Tám giờ sáng, tại nghĩa trang Đa Phước" Băng nói, giọng chùng xuống. "Nếu anh muốn tìm thêm gì trên cái xác đó, anh chỉ còn đúng bảy tiếng đồng hồ. Nhưng tôi cảnh cáo anh, Vũ: đừng có làm liều. Đụng vào vụ này, anh không chỉ mất cái văn phòng rách đâu."
Tôi không trả lời cô. Tôi bước nhanh ra cửa sau.
Cái chết của Phạm Kiến Quốc đang bị đẩy đi với một tốc độ bất thường. Bọn họ muốn thiêu rụi cái xác, thiêu rụi hai vết hằn trên cổ, và thiêu rụi luôn bức ảnh Mái ấm Hướng Dương năm 2004 thành tro bụi.
Nhưng cái xác chỉ là một nửa của bài toán. Nửa còn lại nằm ở hiện trường - căn penthouse tầng bốn mươi giữa trung tâm Quận 1.
Hai giờ sáng. Mưa ngớt hạt, chỉ còn lại lớp sương mù ẩm ướt bao phủ lấy những đỉnh tháp cao ốc chọc trời.
Tòa nhà The Grand Panorama sừng sững như một pháo đài bằng kính và thép soi bóng xuống dòng sông Sài Gòn đen ngòm. Đây là nơi ở của giới siêu giàu, những kẻ kiếm tiền bằng những con số vô hình trên sàn giao dịch và sống cách ly hoàn toàn với thực tại lầy lội của thành phố bên dưới.
Tôi dựng xe cách tòa nhà hai dãy phố, đi bộ lại gần cổng phụ dành cho xe chở rác và tiếp liệu ngầm.
Tôi không thể đi qua sảnh chính. Lễ tân có camera nhận diện khuôn mặt và bảo vệ túc trực hai mươi bốn trên bảy. Nhưng mọi tòa nhà chọc trời ở cái đất này đều có một điểm mù: những người lao động ca đêm.
Ở cửa hầm B2, một gã đàn ông trung niên mặc đồng phục bảo vệ đang ngồi gà gật bên bàn gác, tay cầm ly cà phê đặc quánh. Ba Còi. Một tay bảo kê bến bãi hết thời ở cầu Muối năm xưa, từng bị tôi tóm hai lần vì tội đánh bạc, giờ dạt về đây làm bảo vệ giữ xe.
Tôi bước tới, gõ nhẹ khớp ngón tay lên mặt bàn kính.
Ba Còi giật mình tỉnh dậy, tay vớ lấy cây dùi cui điện, nhưng khi nhìn rõ mặt tôi dưới vành mũ áo gió, gã thở phào, hạ giọng chửi thề:
"Mẹ kiếp, anh Vũ... Làm tui xém rớt tim ra ngoài. Anh mò tới đây làm gì giờ này?"
Tôi rút trong túi ra hai tờ năm trăm ngàn mới cứng, kẹp vào bao thuốc lá năm số năm còn nguyên tem, đẩy qua mặt bàn:
"Thang máy dịch vụ lên tầng bốn mươi. Mười lăm phút."
Mắt Ba Còi sáng lên khi nhìn thấy tiền và bao thuốc ngoại, nhưng ngay sau đó mặt gã xệ xuống, lộ vẻ sợ hãi: "Anh giỡn hoài. Tầng bốn mươi là căn của ông trùm Quốc Cường vừa thắt cổ chết ba bữa trước. Công an dán niêm phong đỏ lòm trên cửa. Tui mà quẹt thẻ cho anh lên, ban quản lý đuổi việc tui liền."
"Công an rút hết từ chiều qua rồi," tôi nói giọng lạnh băng, dí sát mặt vào gã. "Cái chết được kết luận là tự sát. Cảnh sát niêm phong chỉ là thủ tục chờ bàn giao cho người nhà. Không ai kiểm tra camera thang hàng vào lúc hai giờ sáng đâu. Mày nợ tao một ân tình vụ thằng con mày bị bắt vì đua xe ở đường chốt năm ngoái, nhớ không Ba Còi?"
Gã bảo vệ nuốt nước bọt cái ực. Cổ họng gã giật giật.
Sau vài giây đắn đo giữa nỗi sợ mất việc và món nợ nghĩa khí giang hồ, gã thò tay xuống gầm bàn, rút ra một chiếc thẻ từ màu đen không có nhãn mác.
"Cửa thang hàng số ba," gã thì thào, mắt đảo quanh như sợ có người rình. "Thẻ này mở được cửa thoát hiểm dẫn thẳng vào sảnh phụ tầng bốn mươi. Đúng mười lăm phút. Quá mười lăm phút tui ngắt điện thang máy, anh tự đi bộ bốn mươi tầng lầu xuống ráng chịu."
Tôi giật lấy chiếc thẻ, không nói thêm một lời, đi thẳng vào lối cửa ngầm.
Thang máy dịch vụ bằng kim loại trần trụi lao vun vút lên cao. Tiếng dây cáp rít lên từng hồi trong trục thang tối om. Càng lên cao, tai tôi càng lùng bùng vì áp suất thay đổi.
Tầng bốn mươi. Cửa thang mở ra một hành lang phụ trải thảm dày cộp, không một tiếng động. Không khí ở đây thoang thoảng mùi sáp thơm đắt tiền hòa lẫn với mùi ẩm mốc của một căn phòng bị đóng kín nhiều ngày.
Tôi bước ra hành lang chính. Trước cửa căn penthouse rộng lớn, dải băng niêm phong màu trắng viền đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra dán chéo qua khe cửa đã bị rạch một đường sắc ngọt - dấu vết của việc bàn giao hiện trường dang dở.
Cánh cửa gỗ sồi đen đồ sộ trang bị khóa điện tử cao cấp dùng vân tay và mã số.
Tôi không có vân tay của ông Quốc, cũng không có mật mã. Nhưng tôi không cần vào trong. Tôi quỳ một chân xuống sàn thảm, rút trong túi áo ra chiếc đèn pin mini có ánh sáng xanh chuyên dụng dùng soi dấu vết sinh học.
Tôi rọi đèn vào mép cửa, rà sát từng milimét quanh khe chốt khóa.
Một vụ án phòng kín hoàn hảo luôn có một kẻ hở vật lý. Không có ma quỷ nào đi xuyên qua cánh cửa gỗ dày năm phân được.
Ánh đèn xanh lướt qua bề mặt chốt khóa kim loại sáng bóng.
Ở gờ trên của chốt khóa cơ và phần viền khung bao cửa, tôi nhìn thấy những vệt xước cực nhỏ. Chúng không phải là vết cào xước do cạy phá bằng xà bén hay tua-vít thô bạo. Đó là những vệt ma sát song song, mỏng như sợi tóc, ăn sâu vào lớp mạ crôm của lẫy khóa.
Tôi nghiêng đầu, áp sát mắt vào khe hở giữa cánh cửa và khung gỗ.
Có một vết hằn siêu nhỏ trên lớp gioăng cao su cách âm. Dấu vết này chỉ xuất hiện khi có một sợi dây kim loại cực mảnh - như dây đàn piano hoặc dây cước câu cá chịu lực - được luồn qua khe cửa từ bên ngoài, vòng qua chốt gạt cơ học bên trong, rồi kéo mạnh để sập chốt lại sau khi kẻ thủ ác đã bước ra ngoài hành lang.
Khóa cửa từ bên trong không phải là một điều kỳ diệu. Đó là một trò ảo thuật cơ học rẻ tiền mà bất kỳ một trinh sát hình sự nào có kinh nghiệm khám nghiệm hiện trường cũng phải nhận ra.
Tại sao Đội Trọng án của Lê Hoàng lại bỏ qua chi tiết này?
Họ quá vội vã khép lại hồ sơ vì áp lực từ phía trên, hay người trực tiếp phụ trách ghi nhận dấu vết hiện trường đã cố tình "không nhìn thấy" những vệt xước này trong biên bản?
Tôi đứng dậy, lồng ngực đập thình thịch.
Phạm Kiến Quốc bị giết. Kẻ giết ông ta là một kẻ nắm rõ cấu trúc căn nhà, hiểu tường tận quy trình khám nghiệm của cảnh sát, và có đủ sự bình tĩnh để đứng ngoài hành lang tầng bốn mươi, dùng một sợi dây mảnh đóng chốt cửa lại ngay dưới mũi hệ thống an ninh.
Tôi thò tay vào túi, định rút điện thoại ra để lưu lại góc ảnh của vệt xước.
Đúng lúc đó, từ góc tối của cầu thang bộ thoát hiểm cách tôi chỉ năm mét, vang lên một tiếng cạch rất khẽ.
Tiếng kim loại va vào tay vịn cầu thang.
Toàn bộ lông tơ trên gáy tôi dựng đứng. Giữa tầng bốn mươi của một tòa nhà biệt lập lúc hai giờ sáng, không thể có người dọn vệ sinh hay bảo vệ đi tuần mà không bật đèn.
Có kẻ đang đứng trong bóng tối của buồng thang bộ.
Và hắn đang nhìn tôi.
Tôi lập tức tắt phụt chiếc đèn pin mini, nép sát lưng vào bức tường đá hoa cương lạnh ngắt, bàn tay phải tự động trượt xuống thắt lưng, nắm chặt lấy chiếc dùi cui thép ba khúc.
Bóng tối bao trùm lấy hành lang. Chỉ còn lại tiếng gió rít qua khe cửa kính thông gió ngoài ban công, nghe như tiếng thở dài của một người đã chết.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.