Chương 122: Hầm Ngân Khố
Chiếc xe bán tải của Lê Hoàng lao qua màn mưa tháng Bảy trên đường Hàm Nghi như một khối sắt điên cuồng. Gạt nước quẹt qua quẹt lại trên kính chắn gió, để lại những vệt nhờ nhờ màu bùn bẩn cuốn theo từ các công trình đào đường dở dang. Mùi cống rãnh ngập triều cường từ phía kênh Tàu Hủ bốc ngược lên, quấn lấy mùi xăng sống và thứ mùi cồn y tế bám trên lớp băng thun quấn quanh ngực tôi.
Bình dẫn lưu áp lực âm kẹp bên hông tôi sủi tăm lục bục. Mỗi lần Hoàng đạp phanh gấp hay bẻ lái qua một ổ gà, đầu xương sườn số sáu lại cọ vào màng phổi tạng, phát ra tiếng lạo xạo như hai hòn sỏi chà xát vào nhau trong một cái túi thịt. Vị tanh nồng của máu tươi dâng ngược lên cuống họng. Tôi nuốt khan, cắn chặt môi dưới cho đến khi vị mặn rỉ ra để giữ cho mắt mình khỏi sụp xuống.
Hoàng liếc sang, tay vẫn nắm chặt vô-lăng, khớp ngón tay trắng bệch.
"Còn bao nhiêu?"
Tôi nhìn xuống chiếc đồng hồ cơ trên cổ tay trái tê dại. Mười tám phút. Mũi tiêm giảm đau lúc ở Nhà hát Thành phố đang tan dần, nhường chỗ cho một cơn sốt âm ỉ chạy dọc từ bả vai xuống thắt lưng.
"Mười tám phút," tôi nói, giọng khàn đặc như có cát chèn trong thanh quản. "Trước khi cái lò thiêu rác y tế dưới đáy hầm biến mười hai ống tủy thành tro bụi."
"Con bé số mười bốn vẽ chuẩn chứ?"
"Nó không biết nói, nhưng nó không vẽ sai một milimét nào," tôi giơ mẩu giấy xi măng dính bụi than củi trước mặt. "Căn hầm này xây năm 1938, nằm sâu mười lăm mét dưới chân móng phía sau tòa nhà Ngân hàng Nhà nước. Thời Pháp nó là Tổng kho Lưu trữ của Nha Ngân khố. Bê tông cốt thép đúc dày hai mét, bên ngoài bọc đá chẻ. Lối vào duy nhất không nằm trong khuôn viên ngân hàng, mà thông qua một cửa cống kỹ thuật dẫn dầu điều hòa cũ sát mép bờ kè Bến Chương Dương."
Hoàng không đáp. Cậu ta giật mạnh phanh tay. Chiếc xe trượt bánh trên vũng nước mưa, đuôi xe quét ngang một vòng rồi dừng khựng lại ngay sau bức tường hoa gió hoang phế của trạm biến áp bỏ hoang, cách mép kênh chừng ba mươi mét.
Mưa quất rát mặt. Dưới ánh đèn đường vàng vọt rọi qua kẽ lá me nước, mặt cống hộp Bến Chương Dương đen ngòm, nổi lềnh bềnh rác rưởi và váng dầu mỡ đặc quánh.
Hạ Băng mở cửa sau chiếc SUV cơ động trờ tới ngay sát đuôi xe chúng tôi. Cô không mặc blouse trắng mà khoác áo mưa dã chiến, tay xách theo hộp dụng cụ ngoại khoa bằng thép không gỉ. Khuôn mặt cô tái đi dưới ánh đèn pha, nhưng ánh mắt sắc lạnh và dứt khoát như một mũi dao mổ.
"Bình dẫn lưu của anh đã qua vạch hai trăm tám mươi mi-li-lít," Hạ Băng nhìn chằm chằm vào cái bình nhựa đang đung đưa bên hông tôi, giọng lạnh tanh nhưng đanh lại. "Nếu dịch vượt quá ba trăm, áp lực âm sẽ mất. Phổi anh sẽ xẹp trong vòng năm phút."
"Tôi biết," tôi nói, thò tay rút cây xà beng mini nhét vào đai lưng. "Năm phút là đủ để đập vỡ một cái rơ-le nhiệt."
"Anh không có năm phút nếu anh ngừng thở giữa đáy cống."
"Vậy thì đừng để tôi ngừng thở."
Hạ Băng im lặng. Cô nhìn tôi đúng hai giây, không thêm một lời can ngăn thừa thãi. Đó là cách làm việc của cô suốt những năm qua: biết rõ sự điên rồ của đối phương nhưng không bao giờ lãng phí thời gian vào những câu van xin vô ích. Cô cúi xuống, kiểm tra van một chiều của ống silicon nối vào nách tôi, vặn chặt lại chốt khóa rồi rút từ túi áo ra một chiếc kẹp phẫu thuật mạch máu loại cong mạ titan ném vào tay tôi.
"Van áp lực của lò nhiệt nhôm thập niên chín mươi dùng ống đồng dẫn khí ba phần tám inch," cô nói cộc lốc. "Kẹp chặt ống đồng trước khi cắt dây điện. Cắt dây trước, ngòi nổ thứ cấp sẽ kích hoạt tức thì."
"Rõ."
Lê Hoàng đã dùng xà beng nạy tung nắp cống gang Indochine hình bán nguyệt dưới chân mép kè. Mùi xú khí nồng nặc quyện với mùi dầu nhớt thải xộc thẳng lên mũi. Dưới lòng cống, dòng nước đen ngòm chảy xiết, ngập ngang đầu gối.
Tôi bám tay vào thang sắt rỉ sét, thả người xuống. Cơn đau từ mạn sườn trái giáng xuống như một cú đập búa tạ khiến tầm nhìn của tôi tối sầm lại trong nửa nhịp thở. Tôi phải tựa trán vào bờ tường bê tông đầy rêu nhớt, thở dốc từng hơi ngắt quãng để màng phổi không bị xé toạc ra thêm.
Hoàng tụt xuống ngay sau lưng tôi, khẩu K54 cầm chắc trên tay, nòng súng bọc túi ni-lông chống nước.
"Đồng hồ đếm ngược còn mười ba phút," Hoàng nói nhỏ qua kẽ răng, tiếng nước cống bì bõm dưới ủng cao su át đi một phần âm thanh.
Hai chúng tôi lội ngược dòng nước cống đen ngòm, đi sâu vào đường hầm vòm cuốn xây bằng gạch thẻ thời thuộc địa. Trần hầm thấp lè tè, bám đầy thạch nhũ nhân tạo và những búi rễ cây bồ đề đâm xuyên qua khe nứt bê tông. Càng đi sâu về hướng chân móng của tòa nhà Ngân hàng Nhà nước, không khí càng đặc quánh lại, thoang thoảng một thứ mùi chết chóc quen thuộc: mùi dung môi bảo quản mô sinh học pha lẫn mùi thuốc sát trùng đã bay hơi qua nhiều thập kỷ.
Đi được khoảng bốn mươi mét, lòng cống bị chặn đứng bởi một bức tường bê tông cốt thép mới xây thêm, giữa bức tường là cánh cửa thép dày mười phân sơn màu xám xịt của Nha Ngân khố cũ. Cánh cửa này từng là lối thoát hiểm bí mật để di tản vàng thỏi trước năm 1975, nay đã bị rỉ sét ăn mòn phần chân mép.
Trên ổ khóa cơ học ba chạc của cánh cửa, một thiết bị nhận tín hiệu vô tuyến nhỏ bằng bao thuốc lá đang nhấp nháy đèn led màu đỏ cam theo chu kỳ một giây một lần. Kèm theo đó là tiếng rít rè rè của máy biến áp cao tần đang nạp điện cho khối kích nổ bên trong.
"Nó dùng sóng ngắn kích hoạt từ máy chủ bên ngoài," Hoàng soi đèn pin hẹp vào bảng mạch. "Lệnh tự hủy đã được phát đi từ lúc phiên họp kín ở Nhà hát bị lộ."
Tôi không nhìn cái đèn led. Tôi quỳ một chân xuống bùn, dùng mũi xà beng mini lách vào khe hở giữa chốt khóa và khung cửa đá chẻ. Lực tì từ cánh tay trái tê dại khiến cơ cẳng tay giật liên hồi.
"Bẩy cùng lúc với tôi," tôi thì thầm. "Một, hai... ba!"
Hai thanh thép hợp kim cùng gồng lên. Tiếng ngàm đồng thau gãy vụn kêu giòn tan dưới lòng cống. Cánh cửa thép nặng nề bật mở vào phía trong, kéo theo một luồng không khí lạnh buốt phả thẳng vào mặt chúng tôi.
Luồng khí đó không phải gió trời. Nó lạnh ngắt, mang theo hơi sương trắng nhờ nhờ của hệ thống làm lạnh sâu bằng khí ni-tơ lỏng âm một trăm chín mươi sáu độ C đang bị rò rỉ.
Tôi bước qua ngưỡng cửa, chân giẫm lên lớp đá hoa cương lát sàn đã nứt toác.
Căn hầm rộng chừng sáu mươi mét vuông, trần vòm cao ba mét được chống đỡ bằng bốn cột đá cẩm thạch xám. Dưới ánh sáng vàng vọt của bóng đèn sự cố công suất thấp chạy bằng bình ắc-quy dã chiến, hiện trường hiện ra lạnh lẽo đến rợn người.
Giữa căn hầm là một hệ thống giá đỡ bằng inox sáng loáng, nơi đặt mười hai ống trụ thủy tinh cường lực hình trụ dài nửa mét. Bên trong mỗi ống trụ, lơ lửng giữa dung dịch bảo quản sinh học trong suốt là một ống nghiệm chứa mẫu tủy sống đông khô, dán nhãn kim loại dập nổi các mã số từ 01-KTS đến 12-KTS kèm theo ngày tháng lấy mẫu định mệnh: 11/11/1985 và 11/11/2004 tại Đơn Dương.
Cách giá đỡ ba mét, đặt sát vách tường phía Đông là một cỗ máy hình khối hộp chữ nhật bằng thép đen thô kệch: lò đốt nhiệt dung môi cao tần. Trên nắp lò, hai khối nhiệt nhôm bọc hợp kim nhôm sáng loáng đã được gắn kíp nổ áp lực, nối chằng chịt bằng các sợi dây đồng và một ống áp lực dẫn khí nén.
Trên bảng điều khiển điện tử của lò đốt, đồng hồ đếm ngược kỹ thuật số đang nhảy những con số màu đỏ tươi:
00:07:42.
00:07:41.
00:07:40.
Bảy phút bốn mươi giây.
Nhiệt độ tỏa ra từ lò đốt nhiệt nhôm khi kích hoạt sẽ lên tới hơn hai nghìn độ C. Với thể tích kín của căn hầm này, chỉ cần khối nhiệt nhôm bốc cháy, toàn bộ mười hai ống trụ sinh phẩm cùng bất kỳ ai đứng trong bán kính mười mét sẽ bị thiêu rụi thành tro xỉ không còn một mẩu xương vụn.
"Hoàng, giữ cái bình áp lực này cho tôi," tôi tháo quai đeo của bình dẫn lưu màng phổi đưa sang tay Hoàng, lồng ngực đau nhói như có ai vừa chọc một thanh sắt nung đỏ vào xương sườn.
Tôi tiến sát lại cỗ máy. Mùi lưu huỳnh và bột nhôm công nghiệp bốc ra từ đầu kíp nổ khét lẹt. Tôi soi đèn pin mini vào cụm van áp lực. Đúng như Hạ Băng cảnh báo, đường dây điện màu đỏ và xanh chỉ là mồi nhử. Một sợi dây cước kim loại siêu mảnh được căng ngầm nối thẳng từ rơ-le ngắt mạch vào ống đồng dẫn khí nén cao áp. Nếu cắt dây điện, áp lực khí nén sẽ giải phóng lập tức, đập búa kim hỏa vào hạt nổ nhiệt nhôm.
Tay trái tôi run bần bật do nhánh thần kinh quay bị tổn thương chưa hồi phục. Những ngón tay mất cảm giác, cứng đờ như gỗ mục.
Tôi mở miệng, cắn chặt vào cổ tay áo khoác da, dùng vị đau buốt để ép các xung thần kinh hoạt động trở lại. Tay phải tôi cầm chiếc kẹp phẫu thuật mạ titan của Hạ Băng, nhẹ nhàng luồn mũi kẹp cong qua khe hở chưa đầy một centimet giữa hai thỏi nhiệt nhôm.
Đồng hồ nhảy giật lùi: 00:04:15.
Bốn phút.
Mồ hôi túa ra trán tôi, chảy cay xè vào hốc mắt nhưng tôi không dám chớp. Đầu mũi kẹp chạm vào thân ống đồng dẫn khí ba phần tám inch. Ống đồng đã bị rỉ xanh, giòn và dễ gãy nếu bóp quá lực. Nhưng nếu không đủ lực, khí nén vẫn sẽ lọt qua khi đồng hồ về số không.
"Vũ," tiếng Hoàng trầm đục vang lên sau lưng. "Có tiếng xe ở trên mặt đường."
"Kệ mẹ chúng nó," tôi thở khẽ qua kẽ răng. "Đứng yên."
Tôi hít một hơi thật sâu. Lồng ngực trái nhói lên một cơn co thắt dữ dội, một ngụm máu tươi trào lên khóe môi. Tôi phớt lờ nó, dùng toàn bộ lực của các ngón tay phải bóp nghiến chốt khóa của kẹp titan.
Tách.
Một tiếng kim loại nhỏ gọn, đanh và khô khốc vang lên.
Ống đồng bị bẹp dí, mép kim loại dính chặt vào nhau, khóa chết đường dẫn khí nén cao áp.
Tôi rút con dao bấm trong túi quần, lia một đường dứt khoát cắt đứt cụm dây điện màu đỏ và sợi cước bẫy.
Màn hình kỹ thuật số trên nóc lò đốt chớp giật hai lần rồi tắt ngấm. Tiếng rít cao tần của máy biến áp lịm dần, trả lại cho căn hầm sự im lìm đặc quánh của một hầm mộ.
Đồng hồ dừng lại ở con số: 00:02:18.
Hai phút mười tám giây.
Tôi buông rơi chiếc kẹp titan xuống sàn đá, lùi lại hai bước rồi ngồi bệt xuống chân cột đá cẩm thạch, lưng tựa vào bề mặt lạnh ngắt. Cơn sốt và sự kiệt quệ ập đến như sóng thần, đè bẹp từng thớ cơ trên người tôi. Tôi thở dốc, từng nhịp thở kéo theo tiếng rít khò khè từ đáy phổi trái.
Lê Hoàng bước tới trước giá đỡ mười hai ống trụ sinh phẩm. Cậu ta cúi xuống, soi đèn pin vào từng nhãn kim loại.
Dưới ánh sáng vàng đục, những cái tên viết tắt hiện lên rõ mồn một. Những đứa trẻ của Mái ấm Hướng Dương năm 2004. Những đứa trẻ đã bị rút tủy sống trong đêm lạnh cao nguyên trước khi ngọn lửa năm nghìn lít dầu diezen biến mái ấm thành tro tàn.
Ánh mắt Hoàng dừng lại ở chiếc ống trụ số 12-KTS.
Bên cạnh ống trụ đó, trên mặt khay inox chống sốc, có một vật nhỏ nằm lẻ loi.
Đó không phải là tài liệu mật hay ống nghiệm.
Đó là một đôi dép nhựa trẻ em màu vàng úa, cỡ chân của một đứa trẻ lên năm, mũi dép bị cháy xém một góc đen nham nhở. Trên quai dép, một nét chữ nghệch ngoạc của trẻ con tập viết bằng bút sáp màu đỏ còn sót lại: "Bé Út".
Tôi nhìn đôi dép nhựa vàng.
Một khoảng lặng nặng nề như ngàn tấn chì rơi xuống giữa căn hầm. Không gian như đông cứng lại trong cái lạnh âm độ của khí ni-tơ.
Tôi đưa tay vào túi áo ngực, sờ thấy bao thuốc lá Thăng Long đã bẹp dúm và ướt sũng nước mưa. Rỗng không. Tôi rút bàn tay ra, quẹt mạnh mu bàn tay lên khóe môi để lau đi vệt máu tươi vừa rỉ, rồi ngẩng đầu nhìn lên trần vòm đá chẻ.
"Trần này dày đấy," tôi buông một câu cợt nhả, giọng khàn đặc. "Pháp xây có khác, bom tạ thả xuống khéo chỉ tróc vôi."
Hoàng không quay lại. Cậu ta đứng im như một pho tượng đồng trước giá đỡ, bàn tay đeo găng siết chặt lấy báng súng K54 đến mức gân xanh nổi cộm trên mu bàn tay. Cậu ta hiểu tôi đang nói gì, và tôi cũng hiểu tại sao cậu ta không trả lời. Trong cái nghề này, khi người ta chạm vào tận cùng của sự thối nát và nỗi đau của những linh hồn vô tội, mọi lời an ủi hay căm phẫn đều trở nên trơ trẽn.
Tôi chống tay vào cột đá, gượng đứng dậy. Khớp gối tôi run rẩy, lồng ngực nhói buốt nhưng tôi vẫn bước từng bước tập tễnh tới mép bàn làm việc cũ kỹ bằng gỗ lim đặt ở góc hầm — chiếc bàn làm việc của viên thủ kho Nha Ngân khố từ nửa thế kỷ trước.
Trên mặt bàn phủ một lớp bụi dày, nhưng có một góc đã bị lau sạch gần đây.
Đặt ngay ngắn ở góc bàn là một chiếc hộp sắt đựng tài liệu cơ yếu quân sự sơn màu cỏ úa, nắp hộp dập nổi ký hiệu: "BỘ TƯ LỆNH KHU 7 - TỔNG HỒ SƠ LƯU TRỮ ĐẶC BIỆT 1985-2004".
Khóa niêm phong chì của chiếc hộp đã bị cắt đứt bằng kìm cộng lực. Bên trong không có tiền, không có vàng thỏi, cũng không có chứng chỉ quỹ Thụy Sĩ.
Chỉ có một tập hồ sơ dày cộp bằng giấy pơ-luya ố vàng, bìa bọc da simili màu hạt dẻ, mang số hiệu: "CHUYÊN ÁN KTS-00-B // BẢN GỐC ĐỐI CHỨNG CUỐI CÙNG".
Tôi lật trang bìa.
Trang đầu tiên là bản danh sách mười bốn đứa trẻ vùng mỏ phóng xạ Đơn Dương năm 1985. Bên cạnh cột tên của Mẫu số 13-KTS (Nguyễn Văn Đen) và Mẫu số 14-KTS, có một con dấu vuông màu mực tím chưa từng xuất hiện trong bất kỳ tập hồ sơ nào chúng tôi thu được trước đây:
"BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG KHÓA VI // PHÊ DUYỆT BẢO LƯU TÀI LIỆU TUYỆT MẬT // NGƯỜI LẬP HỒ SƠ: TRẦN VIẾT HÙNG // NGƯỜI CHỊU TRÁCH NHIỆM GIÁM SÁT ĐẦU CUỐI: TRẦN VŨ."
Dưới dòng chữ in máy chữ cổ điển đó là một chữ ký tươi bằng bút máy Parker mực xanh Cửu Long. Chữ ký của cha tôi. Nét mực đã bạc màu theo ba mươi chín năm, nhưng nét gạch chân dứt khoát hình mũi tên hướng lên trên thì không thể lẫn vào đâu được.
Nhưng đó chưa phải là thứ khiến tôi phải sững người.
Kẹp ở trang cuối cùng của tập hồ sơ là một tờ công văn hỏa tốc đánh máy bằng giấy than xanh, đề ngày 10 tháng 07 năm 2021 — đúng ngày Đại úy Nguyễn Tuấn bị bắn chết tại hẻm Cầu Muối ba năm trước.
Tiêu đề công văn ghi rõ:
"LỆNH ĐIỀU CHUYỂN HỒ SƠ VẬT CHỨNG KHOANG NGẦM NHA NGÂN KHỐ SANG MÁY CHỦ BẢO MẬT ĐẠI SỨ QUÁN NƯỚC NGOÀI."
Ở góc dưới bên phải tờ công văn, nơi dành cho chữ ký của người ra lệnh kích hoạt quy trình thanh lý và hủy diệt toàn bộ kho tủy sống dã chiến nếu căn hầm bị xâm nhập, có một dòng chữ viết tay bằng bút bi mực tím học trò.
Nét chữ nghiêng nghiêng, tròn trịa, nắn nót đến mức tàn nhẫn:
"Đã nhận đủ mười hai ống tủy. Kích hoạt lò nhiệt nhôm tự hủy sau khi hoàn tất thủ tục bàn giao chữ ký số KTS-00-B. Người thực hiện: Kẻ thừa kế hợp pháp của Mái ấm Hướng Dương."
Kèm theo dòng chữ đó là một dấu vân tay ngón trỏ phải bằng mực đỏ tươi, ở tâm xoáy của dấu vân tay có một vết sẹo co rút hình chữ V ngược.
Tiếng bộ đàm dã chiến của Lê Hoàng bỗng rè rè vang lên, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch.
Giọng của Hạ Băng từ đầu dây bên ngoài mép kênh Tàu Hủ truyền vào, gấp gáp và nghẹt thở:
"Vũ! Hoàng! Trạm kiểm soát phía trên mặt đường vừa báo về... Chiếc xe cấp cứu chở đứa trẻ số mười bốn và bà Sáu Nhị đang bị một đoàn xe biển số ngoại giao chặn đầu ngay ngã tư Bến Chương Dương - Pasteur! Chúng mang theo Lệnh áp giải nhân chứng đặc biệt của Tòa Trọng tài Quốc tế!"
Tôi nhìn chằm chằm vào dấu vân tay có vết sẹo chữ V ngược trên mặt giấy pơ-luya.
Bàn cờ chưa bao giờ dừng lại. Kẻ vừa bấm nút kích hoạt ba mươi phút tự hủy của căn hầm này không phải là Tạ Đình Bách, không phải Nguyễn Khắc Thắng, và càng không phải tay sai của Quỹ Viễn Đông.
Hắn đang ở ngay trên đầu chúng tôi, đứng giữa ngã tư đường phố Sài Gòn dưới cơn mưa dầm, chờ đợi mười hai ống tủy biến thành tro bụi để hoàn tất mảnh ghép pháp lý cuối cùng.
Tôi gập mạnh tập hồ sơ lại, nhét sâu vào túi áo ngực, quay sang nhìn Lê Hoàng:
"Hoàng. Lên nòng súng đi. Trò chơi bây giờ mới thực sự bắt đầu."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.