Chương 121: Tiếng Chuông Dưới Lớp Mực Xanh
Mùi mực lục bảo tràn trên tấm thảm len dệt tay của Pháp bốc lên một thứ mùi ngai ngái, vừa giống mùi axeton công nghiệp vừa giống mùi rỉ đồng ngâm nước lâu ngày.
Viên chức tư pháp của Tòa án Tối cao ngồi thụp xuống chiếc ghế bành bọc da thuộc màu huyết dụ. Hai bàn tay ông ta trắng bệch, run lẩy bẩy đặt trên đầu gối. Chiếc bút máy Montblanc vỏ sơn mài đen nằm chỏng gọng trên sàn gạch hoa cương, ngòi vàng mười tám ca-ra bị quệt cong một góc chín mươi độ. Vệt mực xanh đặc quánh loang lổ trên mặt tờ giấy bóng mờ, nuốt chửng dòng chữ "ĐẶC XÁ TƯ PHÁP ĐẶC BIỆT" cùng ba cái tên nằm ở cột can phạm.
Nhưng cái tên thứ ba không bị mực xóa hết.
Chữ "VŨ" viết hoa theo nét chữ in của máy đánh chữ thời chiến vẫn trơ trơ dưới góc giấy, ngay cạnh mã số lưu trữ KTS-00-B.
Tôi đứng tựa một bên vai vào mép bàn gỗ gõ đỏ. Lồng ngực bên trái giật thắt từng cơn. Đầu xương sườn số sáu gãy lìa cọ vào màng phổi tạo nên một tiếng lạo xạo rất nhỏ, chỉ truyền qua xương quai hàm lên tai tôi. Ống dẫn lưu silicon cắm giữa kẽ sườn rung bần bật theo từng nhịp thở ngắn. Dưới đáy bình áp lực âm treo bên hông, dịch màng phổi đỏ sẫm lẫn bọt khí đã dâng qua vạch hai trăm sáu mươi mi-li-lít.
Liều Morphine dã chiến mà Hạ Băng tiêm vào bắp đùi trước khi tôi chui xuống cống ngầm đường Đồng Khởi đã bắt đầu tan hết. Cơn đau không ập đến ào ạt mà ngấm dần như nước cống ngấm qua lớp da giày rách, lạnh buốt và nhức tận óc.
Tiếng chuông điện thoại bàn đặt trên bệ lò sưởi giả lại rúc lên một tràng dài.
Đó là một chiếc máy điện thoại màu đen nhám của quân đội, thân máy dày cộp, không có bàn phím quay số thông thường mà chỉ có ba phím bấm cơ học cùng một đèn tín hiệu màu đỏ chớp tắt liên hồi. Đường dây bọc cao su chống nhiễu chạy thẳng từ chân tường ngầm lên, không thông qua tổng đài viễn thông dân sự của Nhà hát Thành phố.
Lê Hoàng bước tới, họng súng K54 trên tay anh vẫn hướng chếch xuống sàn, ngón trỏ đặt hờ trên vành bao cò. Anh nhìn tôi, rồi nhìn sang hai sĩ quan Cảnh sát Quân sự đang đứng chốt hai cánh cửa gỗ sồi cao năm mét.
"Nghe không?" Hoàng hỏi, giọng khàn đặc vì hít phải khí bùn dưới cống.
Tôi không trả lời ngay. Tôi cắn chặt môi dưới, lấy vị mặn tanh của máu tươi rỉ ra từ khóe môi để chặn đứng cơn choáng váng đang làm mờ khóe mắt. Bàn tay trái tê dại vì đứt nhánh nông thần kinh quay không nhấc nổi lên, tôi dùng tay phải kéo chiếc ống nghe nặng trịch bằng nhựa bakelite lên áp vào tai.
Không có tiếng tút kéo dài của tổng đài bưu điện. Chỉ có tiếng rè cơ học của bộ khuếch đại tín hiệu dải tần hẹp và tiếng lạch cạch của một trục băng từ đang quay đều.
"Mã xác thực DX-09," một giọng nói đàn ông trung niên vang lên từ đầu dây bên kia. Giọng nói lạnh tanh, phát âm tròn vành rõ chữ theo đúng ngữ điệu hành chính của các phòng cơ yếu cơ mật, không chút cảm xúc. "Văn phòng Thường trực đã nhận được tín hiệu ngắt bảo mật từ phòng khánh tiết. Đồng chí Thứ trưởng yêu cầu xác nhận chữ ký hoàn tất trên Bản Quyết định Đặc xá số DX-09/TW. Việc giải tỏa áp giải hai can phạm Tạ Đình Bách và Nguyễn Khắc Thắng tại sân sau Nhà hát sẽ kích hoạt sau sáu mươi giây."
Tôi nhìn gã viên chức tư pháp đang ngồi co quắp dưới ghế. Mặt gã cắt không còn giọt máu. Gã nhìn chằm chằm vào tôi, đôi mắt ti hí đằng sau tròng kính lão ánh lên vẻ sợ hãi xen lẫn sự hiểm độc của kẻ cả đời ngồi trong bóng tối sắp đặt số phận người khác.
Tôi kéo micro sát miệng, nhả từng chữ cộc lốc:
"Mực đổ rồi."
Đầu dây bên kia im bặt. Tiếng rè cơ học dừng lại đúng nửa nhịp.
"Trần Vũ?" Giọng nói bên kia không đổi tông, nhưng có tiếng giấy tờ bị lật mạnh sột soạt. "Anh vào bằng đường nào?"
"Đường cống," tôi đáp, ngón tay gõ nhẹ ba nhịp vào thân nhựa của ống nghe. "Đúng cái đường cống mà các ông dùng để tuồn tiền ra cảng hai mươi năm trước. Lệnh bắt của Viện Kiểm sát Tối cao đã dán lên trán người của các ông. Bảo đội xe sân sau tắt máy đi."
Một tiếng cười khẽ, khô khốc như tiếng gỗ mục gãy vang lên trong ống nghe.
"Anh tưởng anh chặn được một chữ ký là đã thắng? Nhìn lại tờ phụ lục đi, Đội phó Vũ. Bản thỏa thuận đất hiếm năm 1985 không thể hủy bỏ. Bởi vì kẻ đại diện ký bảo lưu toàn bộ mười ba mẫu sinh phẩm gốc ở Đơn Dương suốt bốn mươi năm qua... mang đúng họ tên và số chứng minh nhân dân của anh."
"Nói nhảm," tôi gằn giọng, lồng ngực co thắt làm tôi phải nuốt khan một ngụm đờm lẫn máu. "Năm 1985 tôi chưa đầy năm tuổi."
"Nhưng cha anh thì có mặt," giọng nói tiếp tục, đều đều và tàn nhẫn. "Cố Trung tá Trần Viết Hùng đã dùng mã định danh công dân dự phòng của đứa con trai duy nhất để lập quỹ bảo lưu. Trên danh nghĩa pháp lý quốc tế, anh là người thừa kế duy nhất đứng tên kho lưu trữ sinh phẩm đó. Nếu hồ sơ Đơn Dương bị lật lại trước tòa án hình sự, người đầu tiên bước lên vành móng ngựa với tội danh che giấu tội ác chiến tranh... chính là Trần Vũ."
Tiếng tút dài vang lên dứt khoát. Cuộc gọi bị ngắt từ đầu phát.
Tôi buông tay. Chiếc ống nghe rơi cộp xuống mặt bàn gỗ gõ đỏ, lăn một vòng rồi nằm im bên cạnh tập hồ sơ dính máu và mực xanh.
Căn phòng khánh tiết rộng thênh thang bỗng nhiên chìm vào một sự im lặng ngột ngạt. Tiếng đàn vĩ cầm từ dàn nhạc giao hưởng đang biểu diễn ở khán phòng chính phía bên kia bức tường cách âm dày bốn mươi phân chỉ còn dội lại như tiếng đập của một trái tim khổng lồ sắp ngừng đập.
Lê Hoàng bước tới trước mặt gã viên chức tư pháp. Mũi giày bốt hình sự dính bùn đen của anh dẫm lên mép tà áo âu phục là phẳng phiu của gã.
"Mã KTS-00-B là gì?" Hoàng hỏi. Giọng anh không cao, nhưng lạnh buốt như ngọn gió đèo Bảo Lộc lúc nửa đêm.
Gã đàn ông ngước lên, khóe miệng giật giật tạo thành một nụ cười mỉa mai méo mó:
"Hỏi làm gì, Đội trưởng Hoàng? Cha anh chết năm năm trước để giữ cái thẻ bài Zurich. Giờ con trai ông ấy lại mò về đây để giẫm vào đúng cái bẫy mà thế hệ trước đã giăng ra. Cả lò nhà các anh... từ thằng già Bản đến thằng Hùng, thằng Tuấn... rốt cuộc cũng chỉ là những con tốt trên bảng cân đối tài sản của người ta thôi."
Hoàng không nói thêm một lời nào. Anh vung tay. Báng khẩu K54 đập thẳng vào quai hàm gã viên chức tư pháp.
Một tiếng rắc khô gọn vang lên. Gã đàn ông đổ nghiêng sang một bên mép ghế, hai chiếc răng cửa gãy văng ra sàn, lẫn vào vũng mực lục bảo. Gã rên rỉ, hai tay bị khóa bằng còng số tám phía sau lưng giật giật trong vô vọng.
Tôi quỳ một chân xuống sàn thảm, đưa bàn tay run rẩy lật trang giấy phụ lục của Bản Quyết định số DX-09/TW.
Lớp mực xanh chưa kịp khô dính bết vào đầu ngón tay tôi. Dưới ánh đèn chùm pha lê rực rỡ treo trên trần nhà cao năm mét, từng dòng chữ đánh máy hiện lên rõ mồn một:
"Điều ba: Miễn trừ trách nhiệm hình sự và đình chỉ truy cứu tư pháp đối với cá nhân mang mã số quản lý nội bộ KTS-00-B (Trần Vũ, sinh ngày 14/09/1989, nguyên Đội phó PC02 Công an TP.HCM) căn cứ theo Biên bản Chuyển giao Nghĩa vụ Bảo lưu Sinh phẩm Đặc biệt lập ngày 15/11/1985 tại Trạm Y tế Dã chiến Đơn Dương."
Mười lăm tháng mười một năm một chín tám lăm.
Đúng bốn ngày sau đêm trạm y tế Đơn Dương bị phóng hỏa bằng năm ngàn lít dầu diezen.
Và cũng là ngày Thiếu úy Lê Văn Bản đặt bút ký biên bản tiếp nhận mẫu sinh phẩm tủy sống giả tại Viện Pasteur để cứu đứa trẻ sống sót.
Tôi ngồi bệt xuống thảm, tựa lưng vào chân bàn. Lớp áo sơ mi công vụ bên trong ướt đẫm mồ hôi lạnh, dính chặt vào da thịt. Cơn đau từ màng phổi lan rộng ra khắp bả vai, buốt nhói như có ai đang lấy kìm rút từng sợi gân sau gáy.
Tôi thò tay vào túi áo ngực, chạm vào chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm của bảo mẫu Mai Lan. Cạnh nhôm mỏng găm nhẹ vào đầu ngón tay trỏ. Lạnh ngắt.
Tôi không rút nó ra. Tôi chỉ giữ chặt nó trong lòng bàn tay qua lớp vải áo.
"Vũ." Hoàng cúi xuống, đặt một bàn tay nặng trịch lên vai tôi.
Tôi ngước nhìn anh. Mặt Hoàng xám ngoét dưới lớp băng trắng quấn quanh trán, nhưng ánh mắt anh vẫn sáng quắc, cái nhìn thẳng thắn của một thằng lính hình sự chưa từng biết lùi bước trước bất kỳ bản án nào.
"Đừng để tụi nó dắt mũi," Hoàng nói, giọng trầm xuống. "Hồ sơ năm tám lăm là do ông già tao và bác Hùng làm giả để cứu người. Tụi nó gài tên mày vào quyết định đặc xá này là để nếu Bách với Thắng thoát, mày sẽ là cái khóa niêm phong không bao giờ mở miệng được. Tụi nó sợ mày, Vũ ạ."
Tôi nhếch mép cười, nhưng nụ cười méo xệch vì cơ mặt cứng đờ.
"Tôi mà có gì để tụi nó sợ?" Tôi lẩm bẩm, thò tay móc bao thuốc Thăng Long bẹp dúm trong túi quần ra.
Bao thuốc rỗng không. Lớp giấy bạc bên trong bị vò nát từ lúc nào.
Tôi nhìn quanh. Trên chiếc gạt tàn pha lê đặt ở góc bàn có một hộp diêm bằng gỗ của khách sạn Continental. Tôi với tay lấy hộp diêm, rút một que quẹt mạnh vào mép sáp đỏ.
Lửa bùng lên. Ánh lửa vàng cam nhảy múa trước mắt tôi trong nửa giây rồi lụi tàn, chỉ để lại một sợi khói mảnh màu xám cuộn tròn trong không khí đặc quánh mùi cồn và mực.
Tôi thổi tắt que diêm, ném mẩu than đen vào đống giấy tờ trên bàn.
Cánh cửa sồi phòng khánh tiết bật mở.
Một sĩ quan Cảnh sát Quân sự mang quân hàm Thiếu tá bước nhanh vào phòng, gót giày đinh gõ cộc cộc trên sàn đá. Anh ta giơ tay chào Lê Hoàng rồi quay sang tôi:
"Đồng chí Hoàng, đồng chí Vũ. Đoàn công tác của Viện Kiểm sát Tối cao đã kiểm soát hoàn toàn tầng hầm và sân sau Nhà hát. Hai xe đặc chủng biển số xanh chở Tạ Đình Bách và Nguyễn Khắc Thắng đã bị áp giải trực tiếp về Trại tạm giam Quân khu 7. Toàn bộ tài liệu gốc tại bàn làm việc này đã được niêm phong theo Lệnh số không-hai."
Lê Hoàng gật đầu:
"Chiếc xe SUV ngoài cổng đường Lê Duẩn thế nào rồi?"
"Bác sĩ Hạ Băng và đồng chí Ba Cháy vẫn giữ an toàn tuyệt đối cho nhân chứng số mười bốn cùng sấp bản vẽ địa tầng," viên Thiếu tá báo cáo, giọng dứt khoát. "Nhưng có một tình huống khẩn cấp từ phía trinh sát kỹ thuật."
Anh ta rút ra một chiếc máy bộ đàm dã chiến quân dụng, bật loa ngoài rồi đưa về phía chúng tôi.
Tiếng rè rè của sóng ngắn vang lên, kèm theo tiếng thở gấp gáp của Hạ Băng.
"Vũ... anh có nghe thấy không?"
Tôi với tay cầm lấy bộ đàm, ấn phím đàm thoại:
"Nghe. Đang ở phòng khánh tiết."
"Đứa nhỏ số mười bốn..." Giọng Hạ Băng đứt quãng, có tiếng còi xe inh ỏi ngoài đường phố Sài Gòn dội vào micro. "Con bé vừa nhìn thấy tấm bản đồ địa chính thành phố treo sau lưng ghế lái của Ba Cháy. Nó giật lấy mẩu than củi... nó không vẽ mỏ đất hiếm ở Đà Lạt nữa, Vũ."
Tim tôi đập hẫng một nhịp. Bàn tay đang giữ micro bóp chặt lại.
"Nó vẽ cái gì?"
"Nó vẽ mặt cắt địa tầng của trục đường Hàm Nghi - Bến Chương Dương," Hạ Băng nói, giọng sắc lạnh nhưng ẩn chứa sự kinh hoàng tột độ của một người làm nghề pháp y lâu năm. "Một căn hầm ngầm xây bằng bê tông cốt thép dày hai mét, nằm sâu mười lăm mét dưới lòng đất ngay phía sau tòa nhà Ngân hàng Nhà nước cũ. Nó vẽ mười hai cái ống trụ thủy tinh... và một lò đốt rác y tế dã chiến đang đỏ lửa."
Tôi nhìn sang Lê Hoàng. Đồng tử của Hoàng co rút lại.
"Hầm tiêu bản ngầm của Nha Ngân khố thời Pháp thuộc," Hoàng lẩm bẩm, bàn tay anh siết chặt khẩu súng ngắn. "Đó là nơi đặt Tổng kho Lưu trữ Hồ sơ Tài chính của chế độ cũ trước năm bảy lăm. Năm hai nghìn lẻ bốn, sau khi dập lửa ở Mái ấm Hướng Dương, nhóm Đặng Trần Quang đã bí mật chuyển một phần mẫu tủy sống chưa qua xử lý về đó để chuẩn bị bàn giao cho máy bay Thụy Sĩ."
"Chúng nó chưa kịp mang đi," tôi nói, giọng trầm đặc. Tôi dùng tay phải vịn vào mép bàn, gượng đứng thẳng người dậy. Khung xương sườn bên trái nhói lên một cơn đau xé thịt, làm mồ hôi túa ra trán như tắm. "Khi chuyến bay AFR-902 bị chặn ở Tân Sơn Nhất, và khi lệnh đặc xá ở đây bị xé bỏ... hệ thống tự hủy dưới căn hầm đó sẽ được kích hoạt."
"Đúng ba mươi phút," tiếng Hạ Băng vang lên qua bộ đàm. "Con bé số mười bốn vừa vẽ một chiếc đồng hồ cát đang chảy ngược và gõ đúng ba nhịp than củi xuống sàn xe. Nó chỉ vào vị trí van xả nhiệt nhôm ngầm dưới đáy móng ngân hàng."
Ba nhịp gõ.
Cộc. Cộc. Cộc.
Cái nhịp điệu ma quái đã theo tôi từ penthouse The Grand Panorama, qua xác chết cháy của Đinh Trọng Phúc ở kênh Rạch Lăng, qua ly rượu xyanua của Huỳnh Trí Cao, cho đến tận hơi thở cuối cùng của Nguyễn Minh Đăng trên chiếc ca-nô trôi dạt luồng Soài Rạp.
Kẻ cầm bật lửa năm 2004 đã vào tù. Kẻ ký lệnh đặc xá năm 2024 đã gãy răng nằm dưới sàn.
Nhưng ngòi nổ cuối cùng chôn sâu dưới lòng đất Sài Gòn vẫn đang đếm ngược.
Tôi nhìn viên Thiếu tá Cảnh sát Quân sự:
"Báo cáo Viện Kiểm sát, chuẩn bị xe đặc chủng phá sóng vô tuyến. Mục tiêu tiếp theo: góc Pasteur - Bến Chương Dương."
"Anh không thể đi được đâu, Vũ," Lê Hoàng túm lấy cánh tay tôi, mắt anh nhìn chằm chằm vào bình dẫn lưu đang trào bọt máu bên hông tôi. "Màng phổi mày đang rách toạc ra rồi. Mày cần lên bàn mổ ở Bệnh viện 175 ngay bây giờ. Mười phút nữa mày sẽ ngất vì tràn khí áp lực."
Tôi gạt tay Hoàng ra. Cú gạt nhẹ hều, nhưng dứt khoát.
"Ba năm trước ở hẻm Cầu Muối, tôi đã để Tuấn đi một mình vào ngõ cụt vì tôi nghĩ mọi chuyện đã xong," tôi nói, mắt nhìn thẳng vào mắt Hoàng. "Hôm nay, không có đứa trẻ nào phải chết cháy thêm một lần nữa dưới hầm ngầm của cái thành phố này cả."
Hoàng nhìn tôi trừng trừng suốt năm giây. Rồi anh nghiến răng, giật lấy chiếc túi cấp cứu dã chiến trên lưng viên sĩ quan quân đội, rút ra một ống tiêm giảm đau dự phòng cuối cùng, đâm thẳng qua lớp quần vải thô vào đùi tôi, ấn lút pít-tông.
Một luồng tê buốt buốt lạnh chạy dọc từ đùi lên thắt lưng. Cơn đau lồng ngực tạm thời bị đóng băng dưới lớp hóa chất liều cao.
Tôi quay lưng, bước nhanh qua vũng mực xanh lục bảo đang chảy tràn trên tấm thảm len, tiến thẳng ra lối cửa sau thông xuống sân khấu Nhà hát.
Phía sau lưng chúng tôi, chiếc điện thoại bàn cơ mật màu đen trên bệ lò sưởi lại đột ngột đổ chuông một lần nữa.
Lần này, hồi chuông không ngắt quãng theo nhịp ba giây thông thường, mà rúc lên từng hồi ngắn dồn dập, sắc nhọn như tiếng còi báo động xả đáy của một con tàu sắp chìm.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.