Chương 123: Vùng Đệm Ngoại Giao
Mùi bùn cống rãnh hôi nồng xộc thẳng vào cuống họng khi tôi đẩy nắp hầm kỹ thuật trồi lên mặt đường Bến Chương Dương.
Nước mưa tháng Bảy quất rát mặt. Cái lạnh ngấm qua lớp áo sơ mi ướt sũng dính chặt vào da thịt, nhưng bên trong lồng ngực trái, cơn đau từ chiếc xương sườn số sáu gãy lìa lại bốc hỏa như có ai dí thanh sắt nung đỏ vào màng phổi. Bình áp lực âm ba ngăn gắn bên hông tôi đã lắc lư ngập dịch sẫm màu. Mực máu và bọt khí màng phổi đã chạm vạch hai trăm tám mươi lăm mi-li-lít. Chỉ cần dâng thêm mười lăm mi-li-lít nữa, van một chiều sẽ mất hoàn toàn chênh áp, phổi trái sẽ xẹp lép như một chiếc bong bóng xì hơi và tim tôi sẽ ngừng đập trong vòng ba phút.
Tôi cắn chặt môi dưới. Vị tanh nồng của máu tươi tứa ra nơi đầu lưỡi kéo giật tôi lại khỏi bờ vực của cơn choáng váng.
Lê Hoàng trèo lên ngay sau lưng tôi. Tay anh nắm chặt khẩu K54 đã lên nòng giấu dưới vạt áo khoác dính đầy muội than của căn hầm Nha Ngân khố. Cả hai chúng tôi trông chẳng khác nào hai bóng ma vừa bò lên từ địa ngục bùn lầy, giữa lúc đại lộ ven sông Sài Gòn đang ngập ngụa nước triều cường và khói xe ngột ngạt lúc xế trưa.
Cách chúng tôi chưa đầy bốn mươi mét, tại ngã tư Bến Chương Dương cắt Pasteur, một màn đối đầu lạnh lẽo đang diễn ra dưới làn mưa dầm.
Chiếc xe cấp cứu biển số 51B chở bà Sáu Nhị và Đứa trẻ số mười bốn đã bị ép chặt vào dải phân cách bê tông. Chặn đầu và khóa đuôi nó là hai chiếc SUV màu đen bóng loáng, kính chống đạn tối om, gắn cờ hiệu ngoại giao và mang biển số trắng sọc đỏ ngoại giao đoàn. Bốn người đàn ông mặc âu phục sẫm màu, đeo tai nghe dây xoắn trong suốt, tay cầm dù đen bản lớn đang vây kín cánh cửa sau của xe cấp cứu. Một gã trung niên người ngoại quốc mặc vest xám tro, cổ tay đeo đồng hồ kim loại Thụy Sĩ sáng loáng, đang cầm một tập hồ sơ bọc da ép chặt vào cửa kính sổ xe, nơi Hạ Băng đang khóa trái chốt trong cố thủ.
Mưa xối xả làm nhòe những vệt đèn hậu màu đỏ bầm trên mặt đường nhựa loang loáng váng dầu.
"Tí Bo báo có hai biển số xe đăng ký dưới danh nghĩa Phái đoàn Quan sát viên Tòa Trọng tài Quốc tế," Hoàng thở dốc bên tai tôi, giọng khàn đặc vì hít phải khói nhiệt nhôm dưới đáy hầm. "Bọn chúng dùng quyền miễn trừ ngoại giao để cưỡng chế di lý con bé ra sân bay Tân Sơn Nhất theo Lệnh bảo hộ khẩn cấp quốc tế số không-bảy."
"Bảo hộ cái xác của nó thì có," tôi gằn giọng qua kẽ răng, tay phải ép chặt vào bình dẫn lưu bên sườn để hạn chế độ rung lắc. Bàn tay trái tê dại vì đứt một phần nhánh nông thần kinh quay không còn cảm giác ở ngón cái, nhưng các khớp xương vẫn gượng nắm lấy chiếc xà beng mini còn dính bùn đất. "Nếu để con bé lọt vào tay phái đoàn này, nó sẽ biến mất vĩnh viễn trên một chuyến bay ngoại giao, và mỏ đất hiếm hai phẩy năm tỷ đô sẽ tự động rơi vào tay Quỹ Viễn Đông mà không cần xét xử."
Chúng tôi băng qua dải phân cách ngập nước tới bắp chân. Tiếng còi xe máy rú rít inh ỏi phía sau lưng bị tiếng mưa dập tắt ngấm.
Khi bước chân dẫm lên mặt đường nhựa trước mũi chiếc SUV đầu tiên, tôi nhìn thấy Hạ Băng qua tấm kính ướt nhòe của xe cấp cứu. Áo blouse trắng của cô loang lổ vết máu khô của bà Sáu Nhị. Một tay cô ghì chặt cánh cửa, tay kia cầm chắc chiếc kẹp phẫu thuật kim loại dài hai mươi phân, ánh mắt sắc lạnh như dao thép nhìn thẳng vào đám âu phục bên ngoài. Phía sau lưng cô, đứa trẻ mười lăm tuổi câm điếc co quắp trong góc sàn xe, hai tay ôm khư khư tập giấy xi măng lem luốc vẽ kín các đường đứt gãy địa tầng bằng than củi.
Gã đàn ông mặc vest xám giật mình khi tiếng bước chân nặng nề của tôi và Hoàng dừng lại ngay sau lưng gã. Hai tên vệ sĩ ngoại quốc lập tức bước chéo chân sang một bên, tay phải luồn vào mép áo vest, tạo thế đứng che chắn theo đúng giáo trình bảo vệ yếu nhân quốc tế.
"Khu vực này đang thực thi quyền tài phán theo Công ước Viên," gã mặc vest xám xoay người lại, nói bằng tiếng Việt lơ lớ nhưng giọng điệu trịch thượng, không thèm giấu vẻ khinh bỉ khi nhìn vào bộ dạng rách nát, dính đầy bùn cống và máu của tôi. "Chúng tôi có Lệnh tiếp nhận nhân chứng mang mã số XIV-KTS từ Tòa án Trọng tài Quốc tế Geneva. Yêu cầu hai người lùi lại năm mét."
Hoàng không lùi. Anh rút chiếc thẻ ngành Trưởng phòng Trọng án còn dính vệt nước mưa giơ thẳng vào mặt gã:
"Khu vực này thuộc địa bàn hành chính Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Các ông mang vũ khí ra khỏi khuôn viên lãnh sự là vi phạm pháp luật sở tại. Yêu cầu toàn bộ hạ tay khỏi mép áo trong ba giây."
Một tên vệ sĩ cao gần một mét chín khẽ nhếch mép, ngón tay hắn không những không rút ra mà còn siết chặt vào báng súng ngắn Glock giấu dưới nách áo.
Không khí giữa ngã tư đường như đông cứng lại dưới nước mưa buốt lạnh. Những người đi đường trú mưa dưới mái hiên đối diện bắt đầu dạt ra xa khi nhận thấy mùi thuốc súng đang cô đặc lại giữa hai chiếc xe bọc thép.
Tôi không nhìn tên vệ sĩ. Ánh mắt tôi dán chặt vào tập hồ sơ da màu xanh thẫm mà gã vest xám đang kẹp dưới nách. Trên góc tập hồ sơ có con dấu sáp đỏ hình thanh kiếm gãy vắt ngang hoa sen tám cánh, đi kèm dòng mã số dập chìm: KTS-00-B/2021.
Cơn đau từ màng phổi dội lên một đợt buốt nhói khiến tôi phải khựng lại nửa nhịp, vai trái sụp xuống.
Hạ Băng ở bên trong xe cấp cứu khẽ hé mở chốt cửa kính hai phân. Giọng cô lọt qua tiếng mưa, ngắn gọn, lạnh tanh:
"Máu trong bình của anh đã qua vạch hai trăm chín mươi rồi, Trần Vũ."
"Chưa tới ba trăm," tôi đáp cộc lốc, không nhìn cô. "Chưa chết được."
Hạ Băng im lặng. Cô không nói thêm một chữ nào về y lệnh hay yêu cầu tôi nằm xuống cáng, nhưng ngón tay cô bấu chặt vào mép cửa kính đến mức đầu móng trắng bệch. Sự ăn ý cay đắng sau bao năm lăn lộn giữa lằn ranh sống chết không cần đến những lời can ngăn sến súa. Cô biết tôi sẽ không dừng lại, và cô cũng biết chính sự lì lợm này đang từng phút rút cạn mạng sống của tôi.
Tôi quay sang gã vest xám, rút từ túi áo ngực chiếc phong bì giấy than xanh vừa đoạt được từ hầm Nha Ngân khố, giơ ra trước mặt gã:
"Tòa Trọng tài Quốc tế của các ông dựa vào cái gì để áp giải nhân chứng? Dựa vào tờ ủy thác vô danh ký năm 1985 của Trung tá Trần Viết Hùng, hay dựa vào công văn tự hủy ban hành ngày mười tháng bảy ba năm trước?"
Đồng tử của gã vest xám khẽ co lại. Tập hồ sơ da trên tay gã run nhẹ một phần mười giây.
"Hồ sơ KTS-00-B là tài sản bảo lưu độc quyền của Quỹ Viễn Đông theo Thỏa thuận Geneva," gã cố giữ giọng bình thản, nhưng ánh mắt đã đảo nhanh qua tập giấy than xanh dính bùn trên tay tôi. "Anh không có tư cách can thiệp."
"Tư cách?" Tôi cười khẩy, nhổ một bãi bọt lẫn máu tươi xuống vũng nước mưa dưới chân gã. "Tên người đại diện pháp lý trên tờ phụ lục miễn trừ tư pháp DX-09/TW ký trưa nay tại Nhà hát Thành phố chính là Trần Vũ. Mã định danh công dân dự phòng từ năm 1985 trùng khớp một trăm phần trăm với chứng minh nhân dân cũ trên thẻ ngành của tôi. Muốn áp giải nhân chứng mỏ đất hiếm ra khỏi biên giới Việt Nam, các ông cần chữ ký sống của tôi hoặc mẫu sinh trắc học của người mang dấu vân tay có sẹo chữ V ngược."
Tôi tiến lên một bước. Mũi giày bảo hộ nát bét của tôi chạm vào mũi giày da đắt tiền của gã.
"Mà kẻ mang dấu vân tay sẹo chữ V ngược vừa ra lệnh đốt lò nhiệt nhôm dưới đáy hầm Nha Ngân khố để tiêu hủy mười hai mẫu tủy sống cách đây mười phút. Các ông đến đây không phải để bảo hộ nhân chứng, mà là để cướp đứa trẻ số mười bốn trước khi bản đồ địa tầng được nộp cho Viện Kiểm sát Tối cao."
Gã vest xám lùi lại nửa bước. Hai tên vệ sĩ lập tức rút khẩu Glock 19 ra khỏi nách áo, đầu nòng giảm thanh chĩa thẳng vào ngực tôi.
Cùng lúc đó, tiếng lên đạn đanh gọn của hai khẩu súng vang lên đồng thời.
Lê Hoàng dí thẳng nòng súng K54 vào giữa trán tên vệ sĩ cao lớn bên trái. Từ ô cửa kính hé mở của xe cấp cứu, Hạ Băng đã rút ra một ống tiêm thủy tinh chứa dung dịch không màu dài mười lăm phân, ngón tay đặt hờ trên pít-tông, hướng thẳng vào động mạch cổ của tên vệ sĩ bên phải.
"Mười giây để các ông quay lại xe," Lê Hoàng gằn từng chữ, ngón trỏ đặt chặt trên cò súng. "Cảnh sát Quân sự Quân khu 7 đang trên đường tiếp quản ngã tư này. Bắn một phát đạn ở đây, quyền miễn trừ ngoại giao của các ông sẽ biến thành án chung thân vì tội khủng bố vũ trang."
Mưa xối xả rơi xuống những nòng thép đen ngòm.
Gã vest xám nhìn chằm chằm vào mắt Hoàng, rồi nhìn sang vết máu đang loang dần qua lớp băng thun quấn quanh ngực tôi. Gã nhận ra sự điên cuồng của những kẻ không còn gì để mất. Trong mắt chúng tôi, không có sự sợ hãi đối với những chiếc hộ chiếu ngoại giao hay những điều khoản tài phán quốc tế.
Gã từ từ giơ hai tay lên ngang ngực, ra hiệu cho hai tên vệ sĩ hạ súng:
"Được thôi, Đội phó Trần Vũ. Các anh giữ được con bé này trên mặt đất. Nhưng các anh không giữ được thứ đang diễn ra trên bàn cờ đâu."
Gã giật mở cửa chiếc SUV phía trước, ném tập hồ sơ da màu xanh lên ghế phụ rồi quay lại nhìn tôi, nụ cười mỉa mai thoáng hiện trên gương mặt lạnh lùng:
"Kẻ thừa kế hợp pháp của Mái ấm Hướng Dương không cần đứa trẻ số mười bốn này nữa. Bản đồ địa tầng đã được giải mã xong từ ba mươi phút trước tại trung tâm xử lý dữ liệu của các anh rồi."
Chiếc SUV rú ga, bẻ lái gắt gao vượt qua dải phân cách ngập nước, lao vút về hướng cầu Khánh Hội cùng chiếc xe bọc hậu, để lại màn khói xám đặc quánh tan dần trong mưa dầm.
Ngã tư Pasteur chỉ còn lại tiếng mưa rào rạt và tiếng máy nổ rì rầm của chiếc xe cấp cứu.
Hạ Băng đẩy tung cánh cửa sau xe. Cô nhảy xuống lòng đường ngập nước, không màng đến đôi giày da dính đầy bùn đất, lao thẳng tới nắm lấy cổ tay tôi. Ngón tay cô lạnh ngắt, nhanh chóng bấm vào mạch quay bên tay phải.
"Mạch một trăm ba mươi. Huyết áp tụt dưới tám mươi rồi," giọng cô đanh lại, đôi mày thanh tú nhíu chặt. Cô rút chiếc kẹp sắt từ túi áo, kẹp chặt lấy đoạn ống silicon dẫn lưu màng phổi để khóa dòng trào ngược. "Lên xe ngay. Nếu không mở rộng vết mổ hút áp lực âm lại trong mười phút, anh sẽ ngưng tim do chèn ép trung thất."
Tôi lảo đảo vịn tay vào thành xe cấp cứu. Bên trong khoang xe, đứa trẻ số mười bốn đang nhìn tôi trừng trừng. Con bé gầy guộc, khuôn mặt lem luốc bùn đất và bụi than, đôi mắt to tròn đen láy không hề chớp. Khi nhìn thấy chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm cháy xém nhô ra từ túi áo ngực của tôi, ngón tay trỏ dính đầy muội than của con bé khẽ co giật, gõ đúng ba nhịp liên tiếp lên tấm bìa xi măng: Cộc. Cộc. Cộc.
Ngực tôi thắt lại trong một thoáng.
Hình ảnh Đăng nằm bất động trong hầm lạnh, hình ảnh bảo mẫu Nhàn chia phần cơm cháy dưới đáy nồi cho lũ trẻ hai mươi năm trước, và ánh mắt tuyệt vọng của Tuấn trong con hẻm Cầu Muối ba năm trước như những mảnh chai vỡ cứa nát tâm trí tôi.
Tôi đứng chết trân dưới mưa hai giây, nhìn chằm chằm vào những ngón tay gầy guộc của đứa trẻ.
Rồi tôi quay mặt đi.
Tôi rút bao thuốc lá Thăng Long bẹp dúm trong túi quần ra. Bao thuốc rỗng không, ướt mềm thành một cục bột giấy nhão nhoét. Tôi vo tròn nó lại, ném thẳng xuống dòng nước cống đen ngòm đang cuồn cuộn chảy xiết dưới rãnh đường.
"Thuốc ướt hết rồi," tôi lầm bầm, giọng khàn đặc. "Thành phố này chẳng bao giờ có nổi một ngày nắng ráo."
Hạ Băng nhìn tôi, ánh mắt cô tối lại trong giây lát, nhưng cô không nói một lời an ủi thừa thãi nào. Cô chỉ siết chặt lấy cánh tay tôi, kéo mạnh lên sàn xe:
"Bớt nói nhảm đi. Lên xe."
Hoàng nhảy lên ghế phụ, đóng sầm cửa lại. Chiếc xe cấp cứu hú còi inh ỏi, lao bạt mạng qua làn mưa dầm hướng về phía Phân viện Pháp y Quân đội phía Nam.
Tôi ngồi phịch xuống sàn xe bên cạnh bà Sáu Nhị đang mê man vì vết thương đạn bắn ở bả vai. Đứa trẻ số mười bốn rụt rè nhích lại gần, chìa tấm giấy xi măng về phía tôi.
Trên mặt giấy, ngoài những đường nét địa chất ngoằn ngoèo vẽ bằng than củi, ở góc dưới cùng có một dòng chữ in hoa được viết bằng một mẩu gạch non màu đỏ gạch:
"BẢN ÁN CUỐI CÙNG KHÔNG NẰM Ở MỎ QUẶNG. NÓ ĐANG ĐƯỢC THI HÀNH TẠI PHÒNG GIÁM ĐỊNH PHÁP Y."
Tôi giật phắt lấy tấm giấy. Cùng lúc đó, điện thoại Nokia trong túi áo khoác của tôi rung lên bần bật.
Màn hình đen trắng hiện lên một tin nhắn SMS gửi từ số máy nội bộ của Trung tâm Giám định Pháp y Thành phố:
"Thi thể số 13 tại nhà xác Đa Phước không phải là Phạm Kiến Quốc. Nhưng thi thể đang nằm trên bàn mổ số 1 tại Trung tâm Giám định Pháp y lúc này... mang đúng thẻ bài quân nhân số hiệu 041-882-KT của Đại úy Nguyễn Tuấn."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.