Giao Lộ Mờ Sương

Chương 108: Hạt Tro Dưới Đáy Cồn

Đăng: 30/08/2026 13:16 2,568 từ 1 lượt đọc

Trời Sài Gòn rạng sáng chưa kịp khô nước sau cơn mưa rào. Mặt đường Pasteur trơn như bôi mỡ, phản chiếu những dải đèn vàng vọt từ cột đèn cao áp cổ lỗ. Gió thốc qua khe kính xe bán tải, mang theo mùi sực nức của cống rãnh ngập triều cường, mùi lá me ướt ủng và khói dầu xe buýt cọc cạch chuyến đầu ngày.

Lồng ngực trái của tôi giật thót theo từng ổ gà. Chiếc ống dẫn lưu cỡ 28F cắm giữa khoang liên sườn năm rít lên những tiếng lạo xạo khô khốc mỗi lần phế nang phập phồng. Máu loãng và bọt khí lục bục sủi qua đoạn ống silicon trong suốt, chảy nhỏ giọt vào bình áp lực âm ba ngăn mà Hạ Băng đang kẹp chặt giữa hai đùi.

Mặt cô tái nhợt dưới ánh đèn táp-lô. Bàn tay đeo găng y tế của cô áp chặt lên miếng băng thun ba lớp quanh sườn tôi, ngón tay ấn nhẹ vào mép da đã phù nề:

"Tụt thêm năm mi-li-mét thủy ngân nữa là cậu ngừng thở trước khi thấy mặt hắn. Cắn chặt môi lại."

Tôi không trả lời. Vị tanh nồng của máu tươi tẩm đẫm đầu lưỡi. Đó là thứ duy nhất giữ cho đầu óc tôi không trôi tuột vào cơn mê sảng sau khi liều morphine dã chiến bắt đầu hết tác dụng.

Lê Hoàng bẻ lái gắt qua ngã tư Võ Thị Sáu. Bánh xe nghiến qua vũng nước tù làm nước bắn tung tóe lên bức tường rào quét vôi vàng bong tróc của Viện Pasteur. Đồng hồ trên xe nhảy sang 06:18.

"Tí Bo báo xe cứu thương năm-một-B vừa quẹo vào bến phà Cát Lái," Hoàng nói, mắt dán chặt vào gương chiếu hậu, tay phải siết chặt vô lăng, ngón trỏ tay trái vô thức gõ nhịp trên bao súng ngắn K54 cài bên hông. "Nhưng biển số đó gắn trên một chiếc xe tang rỗng ruột. Hắn lừa toàn bộ chốt cơ động ra ngoại thành."

"Hắn không đi đâu cả," tôi thều thào, mỗi âm thanh bật ra từ cuống họng đều kéo theo một luồng buốt nhói dọc xương sống. "Kẻ mang mã số không-một... đã ở đây từ trước khi trời sáng."

Hoàng tắt đèn pha, tấp xe sát gốc cây dầu cổ thụ đối diện cổng phụ trên đường Trần Quốc Toản cũ. Phía sau bức tường gạch dày bốn mươi phân thời Pháp là dãy nhà lưu trữ tiêu bản bệnh học hai tầng, mái ngói rêu phong nằm lọt thỏm giữa những tàn cây rậm rạp. Cửa sắt khóa dây xích, nhưng mắt xích thứ ba đã bị cắt ngọt bằng kìm thủy lực, quấn lại bằng một đoạn dây đồng ngụy trang.

Hạ Băng rút ống tiêm dự phòng, định cắm thẳng vào tĩnh mạch cổ tay tôi. Tôi giơ bàn tay trái tê dại, gạt mũi kim sang một bên.

"Để dành cho lúc khiêng xác tôi ra. Giờ tiêm là liệt cơ hoành."

Cô nhìn tôi trừng trừng trong ba giây. Đôi mắt đen lánh không chớp lấy một lần. Rồi cô thu kim, khóa van bình áp lực âm vào đai quần tôi, kéo chốt an toàn khẩu K59 đưa vào tay Hoàng:

"Nếu van một chiều bị trào ngược, hắn có đúng bốn phút để thở. Đừng để tao phải mổ tử thi bạn mình."

Hoàng gật đầu không đáp. Cậu ta đạp cánh cửa xe, lách người xuống lòng đường ướt sũng.

Chúng tôi vượt qua hàng rào gạch vỡ phía hông dãy nhà tiêu bản. Mùi cồn formalin lưu cữu hàng chục năm bốc ra từ các ô thông gió hình vòm cuốn, hăng nồng, tanh lợm và lạnh toát như mùi của một nhà xác bị bỏ quên giữa lòng thành phố triệu dân.

Cánh cửa gỗ lim dẫn xuống tầng bán hầm khép hờ. Dưới bậc thang xi măng ẩm ướt in hằn dấu ủng dã chiến cỡ 41, mép đế bám vệt đất đỏ bazan sấy khô đặc trưng của vùng quặng Đơn Dương pha lẫn muội than công nghiệp.

Tôi rút khẩu súng ngắn dã chiến từ túi áo khoác, ngón tay cái gạt cần khóa an toàn. Tiếng kim loại va vào nhau khô khốc trong bóng tối.

Dưới tầng hầm, không khí đặc quánh mùi cồn, mùi ẩm mốc của giấy pơ-luya mục nát và một thứ mùi quen thuộc đến rợn người: mùi xăng thơm của bật lửa Zippo.

Ánh sáng lờ mờ từ chiếc đèn bão treo trên giá sắt hắt lên những kệ gỗ cao ngất ngưởng. Hàng trăm lọ thủy tinh chứa phôi thai và mô bệnh học ngâm cồn ngả màu vàng đục xếp san sát như những con mắt chết trôi nhìn chòng chọc vào bóng tối.

Ở cuối hành lang, cạnh chiếc bàn mổ bằng đá cẩm thạch nứt toác, một bóng người đang ngồi bất động.

Hắn mặc bộ quân phục dã chiến bạc màu của lính biên giới Tây Nam, ve áo rách tơi tả để lộ cầu vai mang quân hàm Thượng úy cũ kỹ. Mái tóc hoa râm cắt ngắn sát da đầu, nửa khuôn mặt bên trái chằng chịt những vết sẹo co rút do phốt-pho thiêu đốt.

Trên mặt bàn đá, ống trụ titan mang mã số "01-KTS" đặt ngay ngắn bên cạnh một chồng hồ sơ lưu trữ bìa bọc vải dù màu cỏ úa. Chiếc bật lửa Zippo bằng bạc khắc hình hoa dã quỳ tám cánh đã bật nắp, ngọn lửa vàng cam le lói nhảy múa trên bấc đẫm xăng, chỉ cách mép tập giấy chưa đầy năm phân.

"Đến trễ hai phút, Trần Vũ," giọng gã đàn ông vang lên, khàn đặc như tiếng hai mảnh kim loại rỉ sét chà xát vào nhau.

Hoàng lập tức nâng súng, mũi thép đen ngòm của khẩu K54 khóa chặt vào giữa trán người đàn ông:

"Bỏ bật lửa xuống. Hai tay đặt lên bàn."

Gã không nhúc nhích. Ngón trỏ bàn tay trái của gã—một bàn tay cụt mất đốt trên cùng—gõ nhẹ ba nhịp xuống mặt bàn đá. Cộc. Cộc. Cộc.

Cơn đau từ vết rách màng phổi dội lên óc làm mắt tôi mờ đi một nhịp. Tôi bước thêm hai bước, mũi chân kéo lê trên nền gạch tàu ẩm mốc, tựa vai vào góc kệ gỗ để giữ cho thân người không đổ sụp:

"Anh là đứa trẻ đầu tiên... trong danh sách thử nghiệm gen năm 1985."

Gã đàn ông khẽ nhếch mép. Vết sẹo bên má trái kéo giật khóe môi lên thành một nụ cười méo mó:

"Hồ sơ ghi tôi ba mươi chín tuổi. Nhưng tủy sống của tôi đã chết từ năm hai mươi. Đặng Trần Quang và Tạ Đình Bách không cần mỏ đất hiếm. Chúng cần một chuỗi sinh phẩm có khả năng kháng xạ để bán cho các phòng thí nghiệm quốc tế. Chúng biến mười ba đứa trẻ ở Đơn Dương thành những con chuột bạch trong lồng kính. Đêm mười một tháng mười một năm đó, chúng rút cạn tủy của mười hai đứa nhỏ rồi tưới năm ngàn lít dầu diezen để xóa dấu vết."

"Còn anh?" tôi thở dốc, ngực trái phập phồng đau buốt. "Làm sao anh sống sót rời khỏi Trạm y tế Đơn Dương?"

Gã đàn ông đưa bàn tay sần sùi chạm vào mép ống trụ titan. Ánh mắt gã lướt qua ngọn lửa Zippo đang bốc khói mỏng:

"Đêm đó, người lái chiếc xe cứu thương quân sự đưa tôi vượt đèo Ngoạn Mục không phải lính của Tướng Cửu. Đó là cha anh... Trung tá Trần Viết Hùng."

Không gian dưới căn hầm như đông cứng lại. Chỉ còn tiếng cồn nhỏ giọt từ một chiếc lọ nứt trên kệ và tiếng thở khò khè của chính tôi.

Tôi thấy các đầu ngón tay mình run lên bần bật. Cơn run rẩy không phải vì morphine cạn, cũng không phải vì vết thương mưng mủ. Tôi muốn rút một điếu Thăng Long, muốn quẹt một que diêm để khói thuốc lấp đầy khoảng rỗng đang toác ra trong lồng ngực. Nhưng bao thuốc trong túi đã nát vụn từ lâu. Tôi đưa mu bàn tay quệt ngang khóe môi, nuốt ngược ngụm máu tươi vào họng.

Vết nứt trong đầu tôi mở toang ra trong một phần mười giây rồi lập tức đóng sầm lại sau cái nghiến răng lạnh tanh.

"Cha tôi ký duyệt ngân sách dự án," tôi gằn từng chữ, giọng khô khốc. "Ông ấy không phải người cứu nhân chứng."

"Ông ấy đã cố cứu đứa trẻ thứ mười ba," gã đàn ông ngước mắt nhìn thẳng vào tôi. "Trên đỉnh đèo Ngoạn Mục, chiếc xe bị lật vì trúng mìn định hướng của Trịnh Văn Phát. Đứa trẻ sơ sinh ba tháng tuổi chết ngạt trong bọc tã. Cha anh đã dùng chính máu của mình để sửa lại số hiệu hồ sơ, bế tôi trốn vào rừng sâu và chôn đứa bé dưới chân đèo. Hai mươi năm qua, tôi sống dưới lòng đất, nhìn chúng mặc vest, đeo huân chương và chia chác từng tấc đất trên xương máu của những đứa trẻ không bao giờ có cơ hội lớn lên."

"Vậy tại sao phải đốt mẫu sinh phẩm này?" Hoàng cắt ngang, họng súng vẫn không lệch một mi-li-mét. "Đây là vật chứng cuối cùng để Viện Kiểm sát Tối cao truy tố toàn bộ mạng lưới Quỹ Viễn Đông!"

"Truy tố?" Gã đàn ông bật cười, một tràng cười khô khốc như tiếng củi gãy. "Các người nghĩ đưa chúng ra tòa là xong sao? Bản đồ gen này một khi lọt vào tay tòa án quốc tế, danh sách hai mươi tư đứa trẻ khác đang sống rải rác khắp đất nước này sẽ bị biến thành món hàng cho các tập đoàn dược phẩm Thụy Sĩ lùng sục. Cách duy nhất để bảo vệ chúng... là biến tất cả thành tro bụi."

Ngón tay gã đàn ông siết lại, chuẩn bị hất chiếc bật lửa Zippo vào xấp tài liệu đã tẩm đẫm cồn formalin.

"Khoan đã," tôi thốt lên, giọng nghẹn lại vì áp lực khí ép chặt tâm thất. "Nếu anh đốt... danh dự của Tuấn... và bảo mẫu Mai Lan sẽ vĩnh viễn mang vết nhơ phản bội."

Gã đàn ông khựng lại nửa giây. Ngọn lửa vàng run rẩy trên đầu bấc.

"Tuấn biết sự thật từ ba năm trước," gã nói, giọng chùng xuống. "Cậu ấy đã chọn cái chết ở hẻm Cầu Muối để bảo vệ vị trí của căn hầm này. Cậu ấy không cần danh dự của một bản án hành chính. Cậu ấy chỉ muốn lũ trẻ được yên nghỉ."

Trong khoảnh khắc gã phân tâm, Lê Hoàng đã di chuyển.

Không một tiếng thét, không một động tác thừa. Hoàng lao người qua mặt bàn đá, cánh tay phải vung khẩu K54 đập thẳng vào khớp cổ tay cụt của gã đàn ông. Chiếc bật lửa Zippo văng ra, rơi xuống nền gạch kêu leng keng rồi lăn tít vào góc tường nhưng không tắt lửa.

Gã đàn ông phản xạ như một con thú già bị dồn vào đường cùng. Bàn tay phải của gã rút phắt chiếc kéo giải phẫu cán dài cắm trên khay inox, đâm thẳng vào cuống họng Hoàng.

Hoàng nghiêng đầu né nhát kéo trong đường tơ kẽ tóc. Mũi thép bén ngót rạch toạc cầu vai áo sơ mi của Hoàng, cắm phập vào mặt gỗ của kệ tiêu bản phía sau.

Tôi lao tới. Cả thân người tôi đè sập lên lưng gã đàn ông. Cơn đau từ xương sườn số sáu gãy lìa cọ thẳng vào màng xương ngực trái nhói lên như một thanh sắt nung cắm xuyên qua phổi. Tôi dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể, ghì chặt khớp khuỷu tay gã xuống mặt bàn đá, bàn tay phải bóp nghẹt động mạch cảnh bên cổ gã theo thế khóa nghiệp vụ của lính hình sự.

"Dừng lại..." tôi gằn từng tiếng qua kẽ răng rỉ máu. "Đủ... người chết rồi."

Gã đàn ông giãy giụa dữ dội trong năm giây đầu. Mạch máu trên thái dương gã phồng to, tím tái dưới ánh đèn bão. Rồi cơ thể gã chùng xuống, chiếc kéo giải phẫu tuột khỏi những ngón tay chai sần, rơi cắm mũi xuống khe sàn gạch.

Hoàng lập tức tra còng số tám vào hai cổ tay gã đàn ông, khóa chặt vào chân bàn đá cẩm thạch.

Căn hầm rơi vào sự im lặng nghẹt thở. Chỉ còn tiếng thở dốc nặng nhọc của ba người đàn ông và tiếng bọt máu sôi lên lục bục trong bình áp lực âm bên hông tôi.

Tôi gục đầu xuống cạnh bàn đá, hai mắt hoa lên vì thiếu oxy. Hạ Băng từ cửa hầm lao xuống, tay xách túi cấp cứu dã chiến. Cô không nhìn gã can phạm, lập tức quỳ xuống bên cạnh tôi, cắm ống nghe vào ngực trái, ngón tay nhanh thoăn thoắt kiểm tra chốt van áp lực:

"Màng phổi lại rò khí. Mạch một trăm tư. Ngồi yên đó, cử động một lần nữa là vỡ động mạch liên sườn!"

Hoàng không nhìn vết thương rách vai của mình. Cậu ta tiến lại góc tường, dùng đế giày dập tắt ngọn lửa Zippo, rồi nhặt ống trụ titan 01-KTS cùng tập tài liệu phủi sạch bụi cồn.

Tập hồ sơ bọc vải dù không dày. Bên trong là bản danh sách viết tay bằng mực tím học trò đã ố vàng theo năm tháng.

Hoàng lật từng trang giấy pơ-luya giòn rụm dưới ánh đèn bão. Đột nhiên, ngón tay cậu ta dừng lại ở trang cuối cùng. Sắc mặt Hoàng biến đổi, từ căng thẳng chuyển sang tái ngắt như vừa chạm phải một thanh kim loại đóng băng.

"Vũ..." giọng Hoàng lạc đi.

Tôi chống tay lên mép bàn đá, cố gượng thẳng lưng dậy:

"Có chuyện gì?"

Hoàng đưa trang giấy ra trước mặt tôi.

Dưới ánh đèn vàng vọt, dòng chữ cuối cùng ghi nhận danh sách hai mươi tư đứa trẻ được lấy mẫu tủy đối chứng năm 1985 không hề có tên những đứa trẻ ở trại mồ côi Đơn Dương.

Ở cột người nhận chuyển giao mẫu sinh phẩm gốc có chữ ký tươi bằng mực đỏ và con dấu nổi hình ngôi sao năm cánh của Viện Khoa học Kỹ thuật Quân sự.

Phía dưới dòng tên người giám sát tiếp nhận là một cái tên với nét chữ nắn nót, kèm mã số định danh sĩ quan quen thuộc đến mức khiến tim tôi như ngừng đập một nhịp:

"Người tiếp nhận bàn giao mẫu 01-KTS tại Viện Pasteur ngày 15/11/1985: Thiếu úy Lê Văn Bản."

Gã đàn ông bị còng dưới chân bàn đá ngước lên, đôi mắt đục ngầu nhìn xoáy vào Hoàng, giọng thì thầm lạnh buốt:

"Cha cậu... chưa bao giờ là nạn nhân bị ép buộc trong vụ án này, Đội trưởng Lê Hoàng."

0