Giao Lộ Mờ Sương

Chương 107: Nhát Dao Giải Áp

Đăng: 30/08/2026 13:16 3,462 từ 1 lượt đọc

Tiếng còi hú trong màng nhĩ tôi không phải phát ra từ xe cứu thương. Đó là tiếng rít của không khí bị bóp nghẹt trong khoang ngực trái.

Khí quản bị đẩy lệch sang phải. Mỗi nhịp tim đập như một cú búa tạ nện ngược vào xương ức. Máu từ khóe miệng trào ra, nóng và tanh nồng mùi rỉ sét. Tôi nằm ngửa trên sàn linoleum lạnh ngắt của phòng thí nghiệm B4, nhìn những ngọn đèn neon trên trần nhà nhòe đi thành những vệt sáng trắng đục nhờ nhờ.

Huyết áp tụt. Bốn mươi lăm trên ba mươi. Tôi biết cảm giác này. Não bắt đầu thiếu oxy, các đầu ngón tay tê dại như bị kim châm, và bóng tối đặc quánh từ bốn góc phòng đang từ từ bò lại, chuẩn bị nuốt chửng lấy chút ý thức tàn tàn còn sót lại.

"Vũ! Nhìn tôi! Cấm nhắm mắt!"

Giọng Hạ Băng đanh lại, sắc như lưỡi dao mổ. Gương mặt cô hiện ra ngay trên tầm mắt tôi, lấm tấm mồ hôi và muội khói đen. Đôi bàn tay đeo găng cao su dính đầy máu khô giật phăng ba chiếc cúc áo sơ mi của tôi, xé toạc lớp băng thun cố định ngực.

"Tràn khí áp lực tái phát. Trung thất bị chèn ép hoàn toàn." Hạ Băng quay sang gắt gỏng: "Lê Hoàng! Giữ chặt hai vai nó! Đè nghiêng sang phải mười lăm độ!"

Một bàn tay thô ráp, cứng như gọng kìm sắt của Lê Hoàng chộp lấy vai tôi, ghì chặt tôi xuống sàn. Hoàng thở dốc, mùi thuốc lá Thăng Long khét lẹt phả vào mặt tôi: "Ráng đi ông tướng. Chết ở đây thì ai tính tiền cà phê ba năm nay cho tôi?"

Tôi muốn chửi thề một câu, nhưng trong họng chỉ phát ra một tiếng khò khè đứt quãng.

Hạ Băng không chần chừ một giây. Cô không có thời gian để tìm máy siêu âm hay chụp X-quang. Ngón trỏ tay trái cô miết nhanh dọc theo xương đòn, dò đến khoang liên sườn số hai trên đường giữa đòn trái. Móng tay cô bấm sâu vào da thịt tôi để làm dấu.

Tay phải cô rút ra một chiếc kim chọc dò số 14, to bằng ruột bút bi, đầu kim vát nhọn sáng loáng dưới ánh đèn neon.

"Cắn chặt răng vào."

Mũi kim cắm phập xuyên qua lớp da thịt bầm tím, qua các thớ cơ liên sườn căng cứng, đâm thủng lá thành màng phổi.

Xì!

Một luồng khí áp lực cực lớn kèm theo bọt máu tươi xịt thẳng ra từ chuôi kim, bắn tung tóe lên vạt áo blouse của Hạ Băng. Tiếng xì kéo dài năm giây như van nồi áp suất bị xả đột ngột.

Cơn đau buốt nhói xé toạc lồng ngực khiến toàn thân tôi co giật dữ dội, nhưng ngay sau đó, một dòng dưỡng khí mỏng manh tràn ngược vào phế nang. Trọng lượng ngàn cân đè nghẹt trái tim tôi được giải phóng. Lồng ngực xẹp xuống một chút. Tôi há miệng đớp lấy không khí, buồng phổi rách nát run rẩy phập phồng.

"Huyết áp sáu mươi trên bốn mươi. Nhịp tim một trăm mười." Hạ Băng quệt vệt máu trên cằm bằng mu bàn tay, giọng vẫn lạnh băng nhưng ngón tay giữ đốc kim hơi run: "Chưa xong đâu. Kim chỉ xả áp tạm thời. Máu đông đang bít lỗ kim. Phải chuyển viện mở ngực dẫn lưu lại ngay lập tức."

Hai chiến sĩ Cảnh sát Quân sự mặc áo giáp chống đạn lập tức khiêng cáng cứu thương vào. Họ nhấc bổng tôi lên. Cú va chạm làm đầu xương sườn số sáu gãy lìa lại cọ sát vào màng xương, tạo ra một cơn đau nhói thấu tận óc.

Tôi cắn chặt môi dưới cho đến khi nếm thấy vị mặn chát của máu mình để không ngất đi. Tay phải tôi thò vào túi áo ngực, những ngón tay run rẩy sờ thấy cạnh kim loại lạnh ngắt của chiếc điện thoại Nokia và kẹp tóc hình bướm của Mai Lan.

Màn hình điện thoại vẫn còn sáng dòng tin nhắn định mệnh: "MẪU SỐ MỘT ĐÃ RỜI KHỔI BÀN CỜ. CẢM ƠN ĐỘI PHÓ ĐÃ MỞ CỬA HẦM B4."

Lê Hoàng bước sát bên cáng thương, tay cầm khẩu K59 đã khóa an toàn, mắt quét trừng trừng quanh căn hầm B4 đang bị lực lượng Kiểm sát niêm phong. Đặng Trần Quang đã bị hai quân cảnh khóa tay bằng còng số tám phía sau lưng, đầu gục xuống nhưng nụ cười nhếch mép tàn độc vẫn còn đọng trên gương mặt đầy nếp nhăn.

"Mẫu số một..." Tôi thều thào qua mặt nạ oxy, từng chữ phát ra đều kéo theo một bọt máu.

"Đừng nói nữa, Vũ." Hoàng cúi xuống, giọng trầm đục: "Quân cảnh đang phong tỏa toàn bộ tòa nhà số 104. Không một con ruồi nào lọt qua được cổng chính."

"Không phải cổng chính..." Tôi nắm lấy cổ tay áo Hoàng, dùng hết chút tàn lực còn lại: "Đường ống xả ni-tơ... Công viên Tao Đàn..."

Hoàng sững người nửa nhịp, rồi quay phắt lại ra lệnh cho tổ trinh sát hình sự vòng ngoài: "Báo chốt Tao Đàn! Chặn ngay cửa mương thoát nước phía sau đài tưởng niệm! Bắt tất cả những ai có mang hộp bảo ôn hoặc túi giữ nhiệt!"

Chiếc cáng được đẩy xốc qua cửa hầm B4, trồi lên sảnh tầng trệt rồi lao ra màn mưa rào tháng Bảy đang trút nước xối xả xuống đường Nguyễn Thị Minh Khai.

Cửa sau chiếc xe cứu thương quân sự đóng sập lại. Tiếng còi hú inh ỏi xé toạc màn mưa đêm Sài Gòn, lao vút về hướng Bệnh viện Quân y 175.

Trong khoang xe chật hẹp nồng nặc mùi cồn sát trùng i-ốt, mùi cao su cháy và hơi thở tanh nồng của chính tôi. Hạ Băng ngồi quỳ bên cạnh, cắm một đường truyền tĩnh mạch lớn vào mu bàn tay tôi, treo chai dịch truyền cao phân tử lên móc trần xe.

"Anh muốn chết thật đấy à?" Hạ Băng hỏi cộc lốc, tay thoăn thoắt cắt lớp băng gạc dính máu trên ngực tôi: "Nếu cây kim vừa rồi chệch hai mi-li-mét sang phải là cắm thẳng vào quai động mạch chủ. Anh thành một cái xác khô trong mười lăm giây."

"Nếu không chọc... thì mười giây là đi rồi." Tôi cười gượng, lồng ngực nhói lên từng hồi: "Tay nghề bác sĩ pháp y... mổ người sống cũng ngọt lắm."

Hạ Băng không cười. Đôi mắt cô dưới ánh đèn trần xe cứu thương ánh lên một tia nhìn lạnh lẽo, giận dữ, nhưng cái cách cô áp miếng gạc tẩm thuốc tê lên da tôi lại nhẹ nhàng đến mức khiến người ta thấy nghẹn đọng.

"Con chip flash lấy ở Cần Giờ đã chuyển ra Hà Nội." Cô nói, giọng đều đều như đang đọc một bản báo cáo tử thi: "Đặng Trần Quang đã bị Viện Kiểm sát Tối cao tống đạt lệnh giam giữ đặc biệt tại Trại giam T16. Hồ sơ Quỹ Viễn Đông coi như đã lộ sáng toàn bộ. Anh đã làm xong phần việc của mình rồi, Trần Vũ. Giờ thì nằm yên để tôi cứu cái mạng tàn của anh."

"Chưa xong đâu." Tôi nhìn lên trần xe rung bần bật theo từng cú xóc ổ gà: "Chiếc ống titan số 01-KTS... bị rỗng."

Lê Hoàng ngồi đối diện, đang dùng khăn lau vết thuốc súng trên nòng súng ngắn. Nghe tôi nói, anh ngẩng lên, lông mày nhíu chặt lại: "Ý ông là sao? Đặng Trần Quang không kịp tiêu hủy mẫu sinh phẩm mà?"

"Quang không tiêu hủy." Tôi hít một hơi nông, cố nén cơn đau buốt từ xương sườn gãy: "Có kẻ đã lấy nó đi trước khi chúng ta ập vào phòng điều khiển. Miếng sáp đỏ niêm phong hình kiếm gãy và hoa sen tám cánh dưới đáy khay trượt... còn chưa kịp đông cứng lại vì hơi lạnh ni-tơ."

"Nghĩa là..." Hoàng hạ giọng, ánh mắt lóe lên vẻ sắc lạnh của một đội trưởng trọng án: "Kẻ đó đã ở trong hầm B4 ngay trước khi chúng ta phá cửa kính?"

"Không phải trước." Tôi nhắm mắt lại, tua lại từng chi tiết trong đầu như một cuốn phim quay chậm: "Hắn vào cùng lúc với chúng ta. Hoặc... hắn đã ở sẵn trong hệ thống thông gió kỹ thuật, đợi chúng ta vô hiệu hóa khối nổ nhiệt nhôm và khống chế Đặng Trần Quang. Chúng ta đã làm mồi nhử dọn đường cho hắn lấy mẫu gen hoàn hảo nhất."

Tôi mở mắt ra, nhìn vào chiếc túi ni-lông đựng vật chứng mà Hoàng đang giữ. Trong đó có mẩu sáp đỏ tôi kịp dùng móng tay cạo ra từ khay đông sâu tầng B4.

"Hạ Băng. Soi đèn cực tím vào mẩu sáp đi."

Hạ Băng liếc tôi một cái, nhưng vẫn rút chiếc đèn pin bước sóng 365nm từ túi đồ nghề ra, rọi thẳng vào khối sáp đỏ dính vụn linoleum.

Dưới ánh sáng tím le lói, trên bề mặt vết cắt sáp hiện lên những hạt vi nhựa phản quang màu xanh lục — chất phụ gia chống đông đặc trưng của loại dầu bôi trơn dùng trong hệ thống van điều áp nitơ lỏng công nghiệp. Nhưng đáng chú ý hơn cả là một sợi chỉ cotton siêu mảnh, dài khoảng ba mi-li-mét, nhuộm màu xanh rêu quân dụng cắm ngập vào chân sáp.

"Sợi vải sợi tổng hợp pha cotton của quân phục dã chiến thời chiến tranh biên giới Tây Nam." Tôi thì thào: "Không phải đồ bảo hộ của viện nghiên cứu, càng không phải âu phục của đám tay chân Đặng Trần Quang."

Hoàng nheo mắt nhìn sợi chỉ: "Người của thế hệ cũ. Một kẻ từng trải qua các căn cứ quân sự thập niên tám mươi."

"Mẫu số 01-KTS..." Tôi lẩm bẩm: "Đứa trẻ sinh năm 1985 tại Đơn Dương. Đứa trẻ đầu tiên mang bộ gen đột biến tủy sống nguyên bản trước khi vùng đất đó bị ô nhiễm nặng bởi quặng phóng xạ. Nếu còn sống đến hôm nay, hắn vừa tròn ba mươi chín tuổi."

Ba mươi chín tuổi. Không phải một đứa trẻ. Đó là một người đàn ông trưởng thành, có thể đang mang một thân phận hoàn toàn hợp pháp, ẩn mình suốt hai mươi năm sau bóng tối của các cơ quan công quyền hoặc chính trong lòng thành phố này.

Chiếc xe cứu thương phanh gấp kêu két một tiếng trước cổng khu cấp cứu Bệnh viện Quân y 175. Tiếng bánh xe đẩy va rầm rập trên nền gạch hoa.

Bác sĩ trực cấp cứu và hai điều dưỡng lao ra đón cáng. Họ lập tức đẩy tôi vào phòng tiểu phẫu hồi sức đặc biệt. Mùi cồn sát trùng, mùi thuốc gây tê lidocain và ánh đèn mổ tròn xoe rọi thẳng vào mắt tôi chói lóa.

Hạ Băng không rời đi. Cô giơ thẻ giám định viên pháp y độc lập của Viện Kiểm sát Tối cao trước mặt kíp mổ: "Tôi trực tiếp phụ trách đường dẫn lưu lồng ngực. Chuẩn bị ống silicon cỡ 28F, chỉ lụa số 2, bộ hút áp lực âm liên tục mười lăm cen-ti-mét nước."

Chiếc áo sơ mi rách bươm của tôi bị cắt phăng. Lưỡi dao mổ số 11 lướt ngọt qua da thịt ở khoang liên sườn số năm đường nách giữa bên trái. Tôi cảm nhận được độ lạnh buốt của kim loại rạch qua mô mỡ, rồi cảm giác chiếc kẹp phẫu thuật nong rộng đường hầm mô mềm để nhét ống dẫn lưu silicon sâu vào khoang màng phổi.

Máu đen ứ đọng và bọt khí sủi ùng ục theo ống dẫn chảy vào bình chứa áp lực âm.

Áp lực trong lồng ngực tôi hạ xuống rõ rệt. Nhịp tim trên máy monitor bắt đầu nhảy đều đặn ở mức tám mươi hai nhịp một phút. Huyết áp nhích dần lên chín mươi trên sáu mươi.

Tôi nằm bất động trên bàn mổ, hai mắt nhìn trừng trừng lên trần nhà trắng toát. Cơn đau thể xác bắt đầu dịu đi nhờ thuốc tê, nhưng khoảng trống rỗng sau một đêm dài sinh tử bắt đầu ập đến, lạnh ngắt và nặng nề như một tảng đá đè lên ngực.

Tôi mở mắt, nhìn bàn tay trái của mình quấn băng trắng toát, các ngón tay tê dại không còn cảm giác do vết chém cắt đứt nhánh thần kinh quay từ đêm trên tàu Aurelia.

Trong túi quần tôi, chiếc điện thoại Nokia lại rung lên bần bật.

Hạ Băng vừa khâu xong mũi chỉ lụa cố định chân ống dẫn lưu, ngẩng đầu lên nhìn tôi. Cô không nói gì, chỉ dùng găng tay sạch móc chiếc điện thoại từ túi tôi ra, bấm mở loa ngoài rồi đặt cạnh tai tôi.

Không có tiếng nhạc đồng dao thiếu nhi. Không có tiếng ba nhịp gõ quen thuộc.

Chỉ có tiếng gió rít qua ống kim loại và một giọng nói trầm thấp, khàn đặc, đã qua thiết bị biến âm điện tử:

"Đội phó Trần Vũ. Anh đã giữ đúng lời hứa với Nguyễn Tuấn. Bản án của Đặng Trần Quang và Quỹ Viễn Đông đã được thi hành trọn vẹn trước công luận."

Tôi hít một hơi thở nặng nhọc, mùi máu tanh vẫn còn vướng nơi cuống họng: "Mày là ai? Mẫu số 01... hay là kẻ đã đứng sau giật dây toàn bộ bàn cờ này từ hai mươi năm trước?"

Đầu dây bên kia im lặng mất ba giây. Sự im lặng đặc quánh, chỉ có tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái tôn.

"Đặng Trần Quang tưởng hắn là người kiểm soát tất cả bằng năm ngàn lít dầu và chiếc van nước Danfoss khóa chặt. Nhưng hắn không biết rằng, mẫu tủy sống của mười ba đứa trẻ năm một nghìn chín trăm tám mươi lăm chưa bao giờ thuộc về Quỹ Viễn Đông. Bản đồ gen đó... là một bản án di truyền. Kẻ nào chạm vào nó, kẻ đó sẽ phải tự tay chôn vùi chính quyền lực của mình."

"Mày đã lấy ống trụ 01-KTS đi đâu?" Tôi gằn từng chữ, cơ ngực căng lên đau buốt: "Mục đích cuối cùng của mày là gì?"

"Mẫu số một không phải để bán sang Geneva hay Thượng Hải." Giọng nói khàn đặc vang lên, lạnh tanh và dứt khoát: "Nó là mảnh ghép đối chứng cuối cùng để giải mã bản danh sách hai mươi bốn đứa trẻ vùng mỏ phóng xạ bị đưa đi năm ấy. Nếu anh muốn biết đứa trẻ thứ mười ba thực sự đã chết như thế nào trên đèo Ngoạn Mục... hãy đến nơi hạt cát đỏ cuối cùng bắt đầu chảy."

Tút. Tút. Tút.

Cuộc gọi bị ngắt hoàn toàn.

Lê Hoàng từ ngoài cửa phòng tiểu phẫu bước vào, tay cầm chiếc máy tính bảng quân dụng vừa nhận từ tổ cơ động: "Vũ. Trinh sát vừa báo về. Tại cửa xả thoát nhiệt ni-tơ lỏng ở mương Tao Đàn, lính đặc nhiệm phát hiện một dấu ủng dã chiến cỡ 41 in trên bùn lầy, dính dung dịch bảo quản sinh học. Kẻ đó đã lên một chiếc xe cứu thương tư nhân mang biển số 51B-880.14 chạy về hướng bến phà Cát Lái."

"Xe cứu thương tư nhân..." Tôi lẩm bẩm, lồng ngực nhói lên một cơn co thắt: "Không phải đi Cát Lái đâu. Đó là hướng nghi binh để kéo lực lượng chốt chặn ra ngoại thành."

"Vậy hắn đi đâu?" Hoàng hỏi, mắt nhìn thẳng vào tôi.

Tôi quay sang nhìn Hạ Băng. Cô đang tỉ mỉ dùng băng keo y tế dán kín mép chân ống dẫn lưu trên sườn tôi. Ngón tay cô vô tình chạm vào vết sẹo dài trên xương ức của tôi — vết tích của ca mổ cấp cứu ba năm trước sau đêm hẻm Cầu Muối.

Lớp vỏ bọc chai sạn của tôi dường như nứt toác ra trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Hình ảnh Tuấn nằm trên cáng sắt trong đêm mưa tầm tã ba năm trước, chiếc kẹp tóc nhôm hình bướm dính máu rơi khỏi túi áo ngực, hiện lên rõ mồn một trước mắt. Tôi nhắm chặt mắt lại, nuốt ngược cảm giác đắng ngắt vào trong cổ họng, rồi mở mắt ra, giọng lấy lại vẻ cợt nhả, lạnh lùng thường ngày:

"Bác sĩ Băng này, ca mổ dã chiến này tính vào viện phí bảo hiểm hay tôi phải viết giấy nợ cho Đội Trọng án?"

Hạ Băng ngước lên nhìn tôi. Ánh mắt cô phẳng lặng như mặt nước giếng sâu, không gợn sóng, nhưng bàn tay cô siết chặt cuộn băng thun thêm một vòng vừa đủ chặt: "Viện phí của anh... có người đã trả bằng cả mạng sống từ ba năm trước rồi. Đừng có giở giọng đó với tôi."

Cô quay đi, tháo đôi găng tay dính máu vứt vào thùng rác y tế, lưng áo blouse ướt đẫm mồ hôi.

Tôi quay sang nhìn Lê Hoàng: "Hắn nói: 'Nơi hạt cát đỏ cuối cùng bắt đầu chảy'. Hoàng, anh còn nhớ chiếc đồng hồ cát ba mươi phút tại hiện trường biệt thự Hoàng Lan ở Thảo Điền không?"

Lê Hoàng biến sắc: "Hiện trường Hoàng Yến tự uống độc tố lá ngón..."

"Chiếc đồng hồ cát đó chảy hết vào đúng mười một giờ ba mươi tám phút." Tôi gượng chống tay ngồi dậy, bất chấp cơn đau xé rách từ các mũi khâu liên sườn: "Đáy đồng hồ cát có khắc một dãy số la-de siêu nhỏ mà lúc khám nghiệm chúng ta tưởng là mã sản xuất của xưởng thủy tinh. Nhưng nếu ghép với tọa độ của Trạm y tế dã chiến Đơn Dương năm 1985..."

Tôi giật phắt chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm từ túi áo ngực ra, soi phần đuôi nhôm đã bị mài phẳng dưới ánh đèn mổ.

Ở mặt trong của cánh bướm kim loại bị cháy xém, Đại úy Nguyễn Tuấn ba năm trước đã dùng mũi kim găm một dãy số bí mật: "TD-1985-01".

"Không phải trạm y tế ở Đà Lạt hay hầm ngầm hẻm Ba Đình." Tôi nghiến răng, trượt chân xuống khỏi bàn mổ, hai bàn chân trần chạm vào sàn gạch lạnh buốt: "Hắn đang quay về căn phòng lưu trữ mẫu bệnh phẩm cũ của Viện Pasteur Sài Gòn — nơi tiếp nhận mười ba mẫu tủy sống đầu tiên vào tháng Mười một năm 1985."

"Vũ! Anh không được đi!" Hạ Băng bước tới chắn trước mặt tôi, giọng đanh thép: "Ống dẫn lưu vừa đặt xong, anh di chuyển mạnh sẽ làm rách tiếp lá tạng màng phổi!"

"Nếu để hắn tiêu hủy mẫu đối chứng 01-KTS tại Viện Pasteur..." Tôi nhìn thẳng vào mắt Hạ Băng, giọng khàn đặc nhưng cứng như đá: "Thì danh dự của Tuấn, của chị Mai Lan, và của mười hai đứa trẻ chết cháy đêm đó... sẽ vĩnh viễn chỉ là một vụ án tai nạn kỹ thuật trong hồ sơ lưu trữ."

Lê Hoàng không nói một lời. Anh lẳng lặng rút trong túi áo khoác ra một khẩu súng ngắn K54 dự phòng, kéo khóa nòng cái rắc rồi đưa báng súng về phía tôi.

"Xe bán tải của tôi đậu ở sân sau bệnh viện. Đi thôi."

Tôi đón lấy khẩu súng, nhét vào thắt lưng, kéo vạt áo khoác da trùm kín bình dẫn lưu áp lực âm bên hông. Khi tôi bước ra đến ngưỡng cửa phòng cấp cứu, chiếc điện thoại Nokia trong túi lại rung lên một nhịp ngắn ngủi.

Đó là một bức ảnh MMS mờ nhạt chụp lại một góc hầm lưu trữ tiêu bản của Viện Pasteur trên đường Trần Quốc Toản cũ.

Dưới đáy bức ảnh, một bàn tay mang găng dã chiến đang cầm ống trụ titan 01-KTS đặt ngay ngắn cạnh một chiếc bật lửa Zippo bằng bạc khắc hình hoa dã quỳ tám cánh.

Chiếc nắp bật lửa vừa được bật mở, để lộ tim bấc đẫm xăng chuẩn bị bén lửa.

0