Giao Lộ Mờ Sương

Chương 49: Kẻ Đứng Phía Sau Cánh Cửa

Đăng: 18/08/2026 05:03 3,803 từ 1 lượt đọc

Mùi thuốc sát trùng hòa lẫn với mùi ẩm mốc của dãy hầm ngầm thời Pháp. Không khí ở chân đồi Robin lạnh ngắt, đặc quánh như cháo nguội.

Tôi ngồi tựa lưng vào bức tường đá chẻ, hai rẻ sườn số sáu và số bảy nhói lên từng chặp theo nhịp thở. Lớp băng thun ép cứng trước ngực không ngăn được cảm giác xương vụn đang cọ vào màng phổi. Vị sắt gỉ của máu tươi đọng nơi chân răng. Tôi nhổ toẹt một bãi đỏ bầm xuống rãnh thoát nước xi măng.

Chiếc máy hút áp lực âm đặt cạnh giường bệnh vẫn kêu rì rầm đều đặn. Dịch máu và bọt khí từ khoang ngực Nguyễn Minh Đăng theo đường ống silicon hai mươi tám ép chảy từng đợt vào bình thủy tinh chia vạch.

Hạ Băng tháo đôi găng tay cao su dính máu, ném vào thùng rác y tế. Tiếng nắp thùng sập xuống đanh gọn. Cô không nhìn tôi, chỉ cúi đầu ghi thông số sinh tồn vào tờ bệnh án kẹp trên tấm mica.

"Huyết áp một trăm trên bảy mươi. Phổi tái nở được bảy phần mười." Giọng cô khàn đi vì mệt. "Cậu ta sống rồi."

Tôi không đáp. Ngón tay cái của tôi miết lên màn hình chiếc điện thoại cũ. Dòng tin nhắn nặc danh vẫn nằm trơ trơ ở đó:

"Bản án của pháp luật đã xong, Đội phó Trần Vũ. Bây giờ... đến lượt bản án của anh."

Lê Hoàng đứng ngoài cửa vòm, đang châm lửa hút nửa điếu thuốc lá còn lại. Khói thuốc bay ngược vào trong, gặp luồng gió lạnh từ miệng thông gió liền tan biến.

"Bên ngoài xong cả rồi," Hoàng nói, mắt nhìn về phía đường dốc dẫn lên rừng thông. "Đoàn của Viện Kiểm sát Tối cao đang áp giải Trần Đình Cửu ra sân bay Cam Ranh. Chuyên cơ chờ sẵn. Lần này lão không thoát được một tội nào."

Hoàng quay lại nhìn tôi, khóe môi khẽ giật một cái như muốn cười, nhưng rồi lại thôi. Suốt ba năm qua, tôi và cậu ta sống như hai cái bóng chỉ để đợi ngày này. Ngày chiếc huy hiệu của Tuấn được rửa sạch, ngày những kẻ ký vào bản điều động chết tiệt ở hẻm Cầu Muối phải trả giá.

Nhưng tôi không thấy nhẹ nhõm. Lồng ngực tôi nặng trịch, không phải vì hai rẻ sườn gãy, mà vì thứ vừa lộ ra dưới ánh đèn mổ dã chiến.

Tôi nhìn xuống bàn tay phải của Đăng.

Cậu ta nằm đó, tấm chăn chiên quân đội đắp ngang ngực, gương mặt tái nhợt không còn giọt máu. Cánh tay phải để trần buông dọc theo mép đệm.

Dưới ánh đèn neon công suất thấp, mép dưới vết sẹo bỏng cũ kéo dài từ cổ tay lên cẳng tay có một vết cứa da hình bán nguyệt dài khoảng một phân rưỡi. Vết rách nông, mép vết thương sắc lẹm, vảy máu màu nâu đỏ vừa khô cứng lại trong vòng chưa đầy năm ngày.

Đó là dấu vết để lại của chiếc kẹp kim loại giữ lưỡi dao mổ số mười một. Loại kẹp có cạnh vát góc mà các bác sĩ pháp y hoặc kỹ thuật viên khám nghiệm hiện trường hay dùng khi thao tác nhanh trong không gian hẹp.

Và ở đốt thứ nhất ngón tay trỏ của cậu ta, một vết chai sần hình bầu dục dày cộm hằn sâu trên da. Vết chai chỉ xuất hiện ở những kẻ có thói quen gõ đầu ngón tay xuống mặt phẳng cứng trong nhiều năm trời.

Ba nhịp một lần.

Cộc. Cộc. Cộc.

Hạ Băng bước lại gần, đặt một cốc nước ấm có pha thuốc giảm đau lên chiếc bàn gỗ cạnh tôi. Cô nhìn thấy ánh mắt của tôi đang dán chặt vào cổ tay Đăng.

"Anh nhìn gì thế?" Hạ Băng hỏi nhỏ.

Tôi không trả lời ngay. Tôi với tay lấy bao thuốc trong túi áo khoác, ngón tay run rẩy móc ra một điếu Thăng Long đã gãy đôi. Tôi nhét nửa điếu vào miệng, bật lửa ba lần mới bắt được tia lửa. Khói thuốc xộc vào cuống họng rách toạc làm tôi ho sặc sụa, ngực nhói buốt như có ai cầm kìm bẻ ngược xương sườn.

"Băng này," tôi nói, mắt vẫn dán vào chiếc kẹp phẫu thuật nằm trong khay inox. "Vết cứa trên cổ tay cậu ta... hình thành khi nào?"

Hạ Băng nhíu mày. Cô bước tới, cầm bàn tay Đăng lên, ngón tay thon dài lật nhẹ cổ tay cậu ta dưới ánh đèn. Bản năng của một giám định viên pháp y khiến ánh mắt cô đanh lại trong tích tắc.

"Dưới năm ngày," cô đáp, giọng hạ thấp xuống nửa tông. "Vết cắt sắc, rách biểu bì và một phần hạ bì, đáy vết thương chưa lên mô hạt hoàn toàn. Bị cứa bởi kim loại mạ crôm hoặc thép y tế."

"Không phải do cọ xát trong lúc chạy trốn?"

"Không. Vết cắt có hướng từ trong ra ngoài, góc nghiêng bốn mươi lăm độ. Chỉ có thể xảy ra khi tay đang cầm một vật mảnh có chuôi sắc và bị trượt tay giật ngược lại."

Tôi rít một hơi thuốc dài, giữ khói trong phổi cho đến khi đầu óc tê dại đi.

Năm ngày trước.

Đúng vào đêm Phạm Kiến Quốc bị sát hại tại căn hộ áp mái tầng bốn mươi tòa nhà The Grand Panorama.

Kẻ đột nhập vào phòng làm việc của Quốc đã dùng một sợi dây thép mảnh luồn qua khe cửa để giật chốt cơ từ bên ngoài. Để giữ được đầu dây căng tuyệt đối trong khe cửa hẹp chưa đầy hai mi-li-mét, hung thủ buộc phải dùng một chiếc kẹp mỏ vịt y tế hoặc kẹp giữ dao mổ số mười một để kẹp chặt đầu cáp. Khi chốt cửa sập xuống, lực đàn hồi của thanh trượt sẽ giật ngược chiếc kẹp, cứa thẳng vào mép dưới cổ tay của kẻ đang thao tác.

Đêm đó, Nguyễn Minh Đăng là một trong hai trinh sát đầu tiên của Đội Trọng án có mặt bảo vệ hiện trường.

Cậu ta mặc áo sơ mi dài tay cài kín cúc cổ tay. Cậu ta tự tay lập biên bản kiểm tra sơ bộ khóa cửa. Cậu ta ghi nhận chốt khóa bên trong bị sập hoàn toàn và đưa ra giả thuyết nạn nhân khóa trái cửa tự sát.

Tôi nhìn Đăng.

Gương mặt của chàng trinh sát trẻ tuổi chưa đầy hai mươi sáu, người từng lao vào hầm biệt giam Chí Hòa, người từng chia nửa chiếc bánh mì khô khốc với tôi trên xe tải đông lạnh, người vừa liều mạng gửi tập hồ sơ đất hiếm lên bàn Quốc hội để hạ bệ Tướng Cửu.

"Hai người ra ngoài đi," tôi nói với Lê Hoàng và Hạ Băng.

Hoàng nhổ mẩu thuốc lá xuống đất, quay lại nhìn tôi với vẻ khó hiểu. "Có chuyện gì thế Vũ? Viện Kiểm sát cần chúng ta ký vào biên bản niêm phong vật chứng trước khi trời sáng."

"Mười phút thôi," tôi đáp, giọng khô khốc như tiếng cọ xát của hai viên đá lửa. "Tôi có chuyện cần nói riêng với Đăng."

Hoàng nhìn tôi chằm chằm vài giây. Đôi mắt sắc lạnh của một đội trưởng trọng án dường như nhận ra điều gì đó bất thường trong không khí, nhưng cậu ta không hỏi. Cậu ta chỉ gật đầu, đưa tay kéo nhẹ khuỷu tay Hạ Băng.

Hạ Băng ngập ngừng. Cô nhìn tôi, rồi nhìn sang Đăng. Trước khi bước qua cửa vòm, cô đặt lại một vỉ thuốc an thần lên bàn.

"Đừng làm cậu ta kích động. Ống dẫn lưu có thể bị tụ máu."

Cánh cửa gỗ dày khép lại. Dãy hầm ngầm chỉ còn lại tiếng máy hút rì rầm và tiếng thở khò khè của hai kẻ tàn tạ.

Tôi kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông lại gần mép giường, ngồi xuống. Đầu gối tôi run lên vì kiệt sức. Tôi rút chiếc điện thoại cũ ra, đặt lên tấm ga trải giường cạnh bàn tay phải của Đăng.

Màn hình bật sáng, hiển thị bức ảnh chụp lại hiện trường phòng ngủ tầng bốn mươi mà Hạ Băng đã sao chép cho tôi từ trước: thi thể Phạm Kiến Quốc treo lơ lửng trên xà nhà, hai mắt trợn trừng, cuống họng phồng to vì bức ảnh Mái ấm Hướng Dương bị nhét sâu vào nắp thanh quản.

Ngón tay của Đăng khẽ động đậy.

Mí mắt cậu ta run rẩy rồi từ từ mở ra. Đôi mắt đen láy, sâu hoắm và lạnh lẽo lạ thường, không hề có chút bàng hoàng hay ngơ ngác của một người vừa thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Cậu ta nhìn trần hầm bằng đá chẻ, rồi từ từ chuyển ánh mắt sang tôi.

Cậu ta nhìn thấy vết máu trên áo sơ mi của tôi, nhìn thấy chiếc điện thoại đang sáng đèn, và cuối cùng, nhìn thẳng vào mắt tôi.

"Anh biết từ lúc nào?" Đăng cất tiếng. Giọng cậu ta đặc nghẹt vì ống nội khí quản vừa rút, khẽ như tiếng gió lùa qua khe đá.

Tôi châm điếu thuốc thứ tư trong ngày. Ngọn lửa zippo bùng lên, soi rõ từng nếp nhăn và quầng thâm trên mặt tôi.

"Từ lúc ở trên xe bán tải," tôi nói, nhả một làn khói mỏng về phía góc phòng. "Cậu biết rõ chiếc đồng hồ cát ba mươi phút ở biệt thự Thảo Điền chảy hết vào lúc nào. Cậu gõ tay đúng ba nhịp lên bìa cuốn sổ da. Nhưng lúc đó tôi tưởng cậu chỉ là người liên lạc của Nguyễn Văn Hùng."

Đăng không chớp mắt. Ngực cậu ta phập phồng nhẹ dưới lớp băng ép.

"Rồi sao nữa?"

"Hùng già rồi," tôi tiếp tục, giọng đều đều như đang đọc biên bản hiện trường. "Khớp gối của ông ta thoái hóa nặng sau hai mươi năm trốn chui trốn lủi ở rừng Tà Nung. Một người như thế không thể leo qua ban công tầng hai nhà Hoàng Yến trong vòng ba mươi giây, cũng không thể thực hiện đòn bẻ khớp vai chuyên nghiệp của lính đặc nhiệm trên tầng bốn mươi The Grand Panorama."

Tôi chỉ tay vào vết rách hình bán nguyệt trên cổ tay Đăng.

"Quan trọng nhất là cái này. Chiếc kẹp giữ dao mổ số mười một. Chỉ có một trinh sát trực tiếp tham gia khám nghiệm hiện trường mới có sẵn dụng cụ đó trong túi đồ nghề. Cậu đột nhập vào phòng làm việc của Quốc lúc mười một giờ đêm, dùng dây dù mềm siết cổ ông ta từ phía sau cho đến khi ngưng tim. Sau đó, cậu nhét bức ảnh Mái ấm Hướng Dương cuộn tròn vào cuống họng ông ta, treo xác lên dây thừng để tạo vết hằn giả thứ hai, rồi bước ra ngoài hành lang, luồn dây thép giật sập chốt cửa."

Căn phòng chìm vào tĩnh lặng. Chỉ có tiếng bọt khí lục bục trong bình dẫn lưu.

Đăng nhìn chằm chằm vào trần đá. Cậu ta không phủ nhận, cũng không hề tỏ ra sợ hãi. Khóe môi nứt nẻ của cậu ta khẽ nhếch lên thành một nụ cười nhạt thếch.

"Thao tác khóa cửa mất ba phút," Đăng nói, giọng phẳng lặng như mặt hồ chết. "Chiếc kẹp trượt tay khi dây thép bị kẹt vào gioăng cao su. Tôi biết anh sẽ nhận ra vết xước trên lẫy khóa crôm. Anh là người dạy Lê Hoàng về các góc chết của chốt cơ, và Hoàng đã dạy lại cho tôi."

Tôi cắn chặt điếu thuốc. Đầu lọc nát bét dưới răng tôi.

"Tại sao lại là tôi?" Tôi hỏi, giọng gằn xuống. "Tại sao cậu lại dẫn tôi vào cái bẫy này ngay từ đầu? Hoàng Yến đến văn phòng tôi không phải ngẫu nhiên."

"Vì anh là Trần Vũ," Đăng quay đầu sang nhìn tôi, ánh mắt sắc như mảnh kính vỡ. "Vì anh là người duy nhất trong cái thành phố này không bao giờ dừng lại khi nhìn thấy một cái xác bị treo cổ giả. Và vì anh nợ chú Tuấn một mạng."

Cái tên "Tuấn" rơi xuống giữa hai chúng tôi như một khối chì nặng ngàn cân.

Tôi quên thở mất nửa nhịp.

Bàn tay cầm điếu thuốc của tôi khựng lại giữa không trung. Tôi nhìn Đăng, nhìn sâu vào đôi mắt mang cùng một dáng dấp, cùng một nét kiên định đến tàn nhẫn của người đồng đội cũ đã nằm lại dưới hẻm Cầu Muối ba năm trước.

Đăng thò tay vào dưới gối, rút ra một cuốn sổ tay nhỏ bìa da đã sờn rách bốn góc. Cậu ta mở trang đầu tiên.

Ở đó không có sơ đồ án mạng, không có danh sách hối lộ. Chỉ có một nét vẽ nguệch ngoạc bằng bút sáp màu của một đứa trẻ: một ngôi nhà cấp bốn có ống khói nghi ngút, một giàn hoa dã quỳ vàng rực, và một người con gái mặc áo len đỏ đang đứng bên bậu cửa.

Phía dưới bức vẽ có một dòng chữ nắn nót viết bằng bút mực tím: "Chị Nhàn để phần cơm cháy cho Đen - Chiều mưa 10/11/2004."

Đăng đưa ngón tay cái, vết chai dày cộm khẽ vuốt lên dòng chữ tím đã phai màu.

"Đêm đó... chị Nhàn không chạy ra cửa trước," Đăng thì thầm, giọng cậu ta run lên lần đầu tiên kể từ khi tỉnh lại. "Chị quay lại buồng ngủ phía sau để bế tôi và con bé Búp. Cửa sau bị xích sắt phi mười hai khóa chặt. Chị nhét tôi qua ô thông gió nhà bếp, bảo tôi trốn vào bụi dã quỳ. Khi tôi quay đầu nhìn lại... trần nhà sập xuống. Mùi da thịt cháy khét lẹt lẫn với mùi dầu diezen công nghiệp."

Cậu ta dừng lại. Một khoảng lặng kéo dài nuốt chửng cả căn phòng ngầm.

"Hai mươi năm qua, anh Vũ ạ," Đăng tiếp tục, giọng lại trở về vẻ lạnh băng khô khốc. "Mỗi lần tôi nhắm mắt lại, tôi đều ngửi thấy mùi khét đó. Pháp luật của các anh ở đâu khi bọn chúng dùng mười lăm héc-ta đất đẫm máu đó để xây khách sạn năm sao? Pháp luật của các anh ở đâu khi chú Tuấn tìm ra mẫu tro cốt có chứa dung môi hydrocacbon thì bị một phát đạn bắn xuyên trán trong hẻm cụt?"

"Cậu có thể đưa toàn bộ chứng cứ cho Viện Kiểm sát Tối cao ngay từ đầu!" Tôi gắt lên, ngực đau buốt. "Như cái cách cậu vừa gửi thư cho một trăm sáu mươi đại biểu Quốc hội!"

"Không được," Đăng lạnh lùng ngắt lời tôi. "Nếu không có xác của Phạm Kiến Quốc, nếu không có cái chết của Ngô Bách Hưng và Đinh Trọng Phúc, các anh sẽ không bao giờ đào bới hồ sơ Mái ấm Hướng Dương. Trần Đình Cửu và Phan Hải Nam có một mạng lưới chân rết kéo dài từ Nam chí Bắc. Bất kỳ lá đơn tố cáo nào gửi đi theo đường chính thống đều sẽ biến mất trong vòng hai mươi tư giờ, và người gửi sẽ chết vì tai nạn giao thông như chú Hùng năm xưa."

Cậu ta nhìn thẳng vào mặt tôi, từng chữ thốt ra như đinh đóng vào cột:

"Tôi phải tạo ra một chuỗi án mạng liên hoàn. Tôi phải biến từng cái xác thành một chiếc két sắt giữ vật chứng mà chính quyền thành phố không thể nào ỉm đi được. Tôi dùng máu của bọn chúng để thắp lại ngọn lửa mà chúng đã dập tắt hai mươi năm trước."

"Và cậu dùng tôi làm con cờ để giải mã những chiếc két sắt đó?"

"Phải." Đăng không hề né tránh. "Vì chỉ có anh mới đủ điên để đuổi theo đến cùng. Chỉ có anh mới không bị mua chuộc bởi bất kỳ chiếc ghế hay khoản tiền nào."

Tôi ngồi im. Tàn thuốc lá rơi xuống mu bàn tay, nóng rát, nhưng tôi không buồn phủi.

Một cảm giác mệt mỏi cùng cực tràn ngập khắp các thớ thịt. Tôi nghĩ về Phạm Kiến Quốc chết nghẹn trong căn penthouse triệu đô. Tôi nghĩ về Ngô Bách Hưng bị nghiền nát dưới gầm xe bồn ba mươi tấn. Tôi nghĩ về Đinh Trọng Phúc bị thiêu sống trên chiếc ghế sắt ven kênh Rạch Lăng.

Tất cả đều là những kẻ thủ ác tột cùng. Tất cả đều đáng chết một ngàn lần.

Nhưng người ngồi trước mặt tôi lúc này — một cảnh sát điều tra, người mang thẻ ngành, người vừa lập công lớn cứu cả một vùng đất khỏi tay bọn tham nhũng — cũng chính là một kẻ giết người hàng loạt máu lạnh nhất mà tôi từng đối đầu.

"Bây giờ anh định làm gì?" Đăng hỏi. Giọng cậu ta bình thản đến rợn người. "Tra còng số tám vào tay tôi? Gọi Lê Hoàng và đoàn kiểm sát vào lập biên bản bắt giữ trinh sát Nguyễn Minh Đăng về tội giết người cấp độ một?"

Cậu ta chỉ tay về phía chiếc áo khoác công an treo trên vách đá.

"Chứng cứ nằm cả ở đó. Bản thảo kế hoạch, sợi dây dù còn dính ADN của Phạm Kiến Quốc giấu trong lót giày, và chiếc kẹp y tế dính máu của chính tôi. Chỉ cần anh bước ra khỏi cánh cửa kia và nói một câu, chuyên án này sẽ kết thúc hoàn hảo. Anh sẽ là người hùng phá án."

Tôi nhìn vào mắt Đăng. Cậu ta không hề thách thức tôi. Cậu ta thực sự sẵn sàng đón nhận điều đó.

Một kẻ đã dành trọn hai mươi năm cuộc đời chỉ để sống cho một bản án, khi bản án đã thi hành xong, sự sống hay cái chết đối với cậu ta chẳng còn nghĩa lý gì nữa.

Tôi với tay lấy cốc nước ấm trên bàn, uống một ngụm lớn. Vị thuốc an thần đắng ngắt nơi đầu lưỡi.

"Tuấn từng nói với tôi một câu trước khi chết ở hẻm Cầu Muối," tôi trầm giọng nói, mắt nhìn về phía ngọn đèn neon đang chập chờn. "Nó bảo: 'Anh Vũ, cái nghề này đáng sợ nhất không phải là bị tội phạm bắn chết. Đáng sợ nhất là đến một ngày mình nhận ra mình đang trở thành chính thứ quái vật mà mình từng thề sẽ tiêu diệt.'"

Đăng khẽ giật mình. Bàn tay đang vuốt cuốn sổ da của cậu ta dừng lại.

Tôi đứng dậy. Cơn đau từ hai rẻ sườn gãy làm tôi lảo đảo, phải vịn tay vào mép bàn gỗ để giữ thăng bằng. Tôi rút điếu thuốc tàn ra khỏi miệng, dí nát vào đáy gạt tàn inox.

Tôi nhấc chiếc điện thoại cũ của mình lên, mở phần tin nhắn, bấm nút xóa toàn bộ hộp thư đến. Dòng tin nhắn nặc danh biến mất vĩnh viễn vào khoảng không kỹ thuật số.

Sau đó, tôi bước lại gần vách đá, cầm lấy chiếc áo khoác công an của Đăng. Tôi thò tay vào túi trong, rút ra chiếc kẹp phẫu thuật kim loại còn dính vệt máu khô mờ nhạt.

Tôi thả chiếc kẹp vào lòng bàn tay mình, siết chặt lại. Cạnh kim loại sắc nhọn cắm sâu vào da thịt tôi, rỉ ra một giọt máu tươi hòa lẫn với vết máu cũ.

"Anh làm gì vậy?" Đăng thều thào, mắt mở to.

Tôi không trả lời. Tôi nhét chiếc kẹp vào túi quần của mình, quay lưng bước về phía cửa vòm.

"Vết cứa trên tay cậu là do bị mảnh kính vỡ cứa phải khi khiêng cáng chạy qua đồi thông Grand Palace," tôi nói, giọng lạnh lùng, không ngoái đầu lại. "Biên bản pháp y của Hạ Băng sẽ ghi như thế. Bản án của pháp luật đối với Trần Đình Cửu đã xong. Còn bản án của cậu..."

Tôi dừng lại ở ngưỡng cửa, tay đặt lên then cài bằng gỗ.

"...cậu sẽ phải sống cả phần đời còn lại với mùi khét của đám cháy đó trong đầu. Đó là bản án dành cho cậu, Nguyễn Văn Đen."

Tôi đẩy cửa bước ra ngoài.

Gió lạnh từ thung lũng ùa vào hành lang buồng mổ, mang theo mùi sương mù ngai ngái và mùi thông non sau cơn mưa dầm. Lê Hoàng và Hạ Băng đang đứng đợi ở cuối dãy hành lang đá chẻ. Thấy tôi bước ra, cả hai đều quay lại.

Lê Hoàng ném cho tôi một bao thuốc Thăng Long mới toanh, giọng cộc lốc: "Xong chưa? Xe của Viện Kiểm sát đang đợi dưới chân dốc. Đặng Thế Anh muốn chúng ta có mặt tại trụ sở Công an tỉnh để ký biên bản bàn giao toàn bộ tang vật."

Tôi đón lấy bao thuốc, rút một điếu châm lửa. Lần này, bật lửa một phát cháy ngay.

"Xong rồi," tôi đáp. "Đăng cần chuyển về Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng để tiếp tục hút dẫn lưu. Cậu ta không liên quan gì đến chuỗi hiện trường ở Sài Gòn."

Hạ Băng nhìn tôi. Đôi mắt trong veo của cô nhìn xuống bàn tay phải đang rỉ máu của tôi, rồi nhìn vào đôi mắt mệt mỏi của tôi. Cô không nói một lời nào, chỉ khẽ bước lại gần, rút một miếng gạc tiệt trùng từ túi áo blouse ấn chặt vào lòng bàn tay tôi.

Bàn tay cô ấm áp giữa cái lạnh buốt giá của Đà Lạt lúc bốn giờ sáng.

"Đi thôi," tôi nói, bước qua mặt hai người họ, hướng về phía bậc thang dẫn lên mặt đất.

Khi bước chân tôi vừa chạm vào lớp đất mùn ướt sũng của rừng thông đồi Robin, chiếc điện thoại Nokia trong túi áo tôi bất ngờ rung lên một nhịp ngắn.

Một tin nhắn mới vừa được gửi đến từ một số máy bàn cố định có mã vùng 028 — mã vùng của Thành phố Hồ Chí Minh.

Tôi mở màn hình.

Tin nhắn chỉ vỏn vẹn một dòng địa chỉ viết không dấu:

"So 48 Ba Dinh, Quan 4. Co nguoi dang doi anh o gop xep."

0