Chương 50: Vị Khách Sau Cánh Cửa Gác Xép
Sài Gòn đón tôi bằng thứ mùi quen thuộc không lẫn vào đâu được: mùi cống rãnh sực lên sau cơn mưa dầm tháng Bảy quyện với mùi dầu mỡ chiên đi chiên lại từ mấy xe hủ tiếu gõ ven đường.
Chiếc xe bán tải trờ tới đầu hẻm 48 Ba Đình lúc sáu giờ ba mươi sáng. Nước ngập lửng lơ nửa bánh xe, nổi lềnh bềnh những túi ni-lông xám và xác lá cây mục.
Lê Hoàng phanh xe cái két. Anh không tắt máy, hai tay vẫn bám chặt vô lăng, mắt nhìn thẳng vào con hẻm ngoằn ngoèo tối om sâu hun hút. Quầng thâm dưới mắt Hoàng trũng sâu, râu ria lởm chởm sau chuỗi ngày chạy đua từ Sài Gòn lên Bảo Lộc rồi ngược về Khánh Hòa.
"Cần tao lên cùng không?" Hoàng hỏi, giọng khàn đặc vì khói thuốc.
Tôi lắc đầu, với tay mở cửa. Lồng ngực bên trái nhói lên một phát như có ai cầm đinh mười phân đóng thẳng vào thớ thịt. Hai rẻ sườn số sáu và số bảy gãy rời chưa kịp can xương, quấn chặt ba lớp băng thun y tế, mỗi lần thở mạnh là một lần nếm lại vị tanh của máu đọng trong cuống họng. Lòng bàn tay phải dán miếng gạc tiệt trùng trắng toát, mép băng rỉ ra một vệt nâu sẫm. Chiếc kẹp phẫu thuật tang vật cộm lên trong túi quần jeans, lạnh ngắt và cứng đơ sát vào đùi non.
"Mày về trụ sở làm biên bản bàn giao với Viện Kiểm sát đi," tôi nói, đẩy cửa bước xuống nước. "Thượng tá Đặng Thế Anh đang đợi đấy. Đừng để lão bắt bẻ quy trình."
Hoàng không đáp. Anh thò tay vào hộc xe, ném ra một bao Thăng Long mới tinh bọc giấy bóng kính và một gói bánh mì ngọt.
"Hạ Băng bảo mày nuốt tạm cái gì đi rồi hẵng uống thuốc giảm đau. Đừng có chết vì thủng dạ dày trước khi ra tòa làm nhân chứng."
Tôi bắt lấy bao thuốc bằng tay trái. "Biết rồi."
"Còn thằng Đăng..." Hoàng ngập ngừng, ngón trỏ gõ nhẹ lên vô lăng hai nhịp rồi dừng hẳn. "Hồ sơ chuyển viện của nó... tao đã ký xác nhận bị thương do mảnh vỡ kính ở khách sạn Grand Palace."
Tôi đứng im dưới làn nước ngập ngang bắp chân. Mưa bắt đầu lây rây rơi trên đỉnh đầu, lạnh buốt.
"Ừ." Tôi buông một tiếng cộc lốc rồi quay lưng bước vào hẻm.
Tiếng động cơ xe bán tải rồ ga rời đi sau lưng. Tôi không ngoái lại. Đứng chôn chân nơi ngã ba hẻm cụt thêm hai phút, nhìn dòng nước đen ngòm cuộn quanh mũi giày vải rách tơi tả, tôi mới rút chiếc bật lửa Zippo ra. Quẹt ba lần, tia lửa mới chịu bắt vào đầu bấc ẩm. Khói thuốc Thăng Long đắng ngắt tràn vào phổi, tạm thời đè bẹp cơn đau thấu xương ở lồng ngực.
Con hẻm 48 Ba Đình cắt Đoàn Văn Bơ vẫn thế. Mấy căn nhà ống san sát nhau, dây điện chằng chịt như mạng nhện treo lơ lửng trên đầu. Tiếng đài bán dẫn rè rè phát bản tin thời sự sáng sớm từ một căn gác gỗ dội ra: người ta đang đưa tin về việc khởi tố nguyên Thứ trưởng Đỗ Khắc Khiêm và phong tỏa tài sản Tập đoàn Phương Nam. Mấy người lao động nghèo ngồi xổm bên nồi nước lèo quán bún riêu đầu ngõ, vừa xì xụp húp vừa bàn tán xôn xao về những cái tên lớn vừa ngã ngựa. Đối với họ, những kẻ mặc vest sang trọng ở Quận 1 hay những ông tướng trên tivi chỉ là câu chuyện làm quà bên ly trà đá. Chẳng ai biết dưới nền đất một mái ấm ở xứ sương mù hai mươi năm trước, có những đứa trẻ đã bị thiêu sống chỉ để đổi lấy mớ biệt thự và mỏ khoáng sản nghìn tỷ ấy.
Tôi lội nước đến trước căn nhà số 48. Cửa sắt kéo tầng trệt khóa ngoài bằng một ổ khóa đồng to tướng.
Tôi không vào cửa chính. Đi vòng ra con ngách nhỏ bên hông, tôi bước lên cầu thang sắt ngoài trời dẫn thẳng lên tầng hai - nơi đặt văn phòng thám tử kiêm gác xép của mình. Mỗi bậc thang kim loại rỉ sét phát ra tiếng cọt kẹt khô khốc dưới sức nặng cơ thể.
Lên tới chiếu nghỉ, tôi dừng lại.
Mùi thuốc lá Thăng Long khét lẹt quen thuộc của tôi bị át đi bởi một mùi hương khác: mùi dầu tràm thoang thoảng lẫn với mùi giấy lưu trữ cũ mốc meo.
Cánh cửa gỗ ép dẫn vào gác xép không khóa. Khe cửa hé mở đúng một lóng tay. Trên ngạch cửa bằng gỗ lim sứt sẹo, một mẩu tăm tre tôi cài hờ đêm trước khi đi Đà Lạt đã rơi xuống sàn, nằm gãy đôi.
Có người bên trong.
Tôi hạ thấp trọng tâm, bàn tay trái lần vào túi áo khoác, ngón tay chạm vào cán chiếc tuốc-nơ-vít bằng thép tôi luôn nhét sẵn phòng thân. Thở chậm lại để ghìm cơn đau từ mạng sườn, tôi dùng mũi chân đẩy nhẹ cánh cửa gỗ.
Bản lề không phát ra tiếng động. Tôi đã tra dầu luyn vào đó từ ba năm trước.
Ánh sáng ban mai xám xịt từ ô cửa kính thông gió hắt vào căn gác xép lộn xộn. Đống màn hình máy tính của Tí Bo ở góc phòng đã tắt ngóm, phủ một lớp vải nhựa chống bụi. Tủ hồ sơ bằng tôn mở toang một ngăn kéo dưới cùng.
Trên chiếc ghế xoay duy nhất kê sát bàn làm việc, một người phụ nữ đang ngồi quay lưng về phía cửa.
Cô ta mặc chiếc áo măng-tô lụa màu be sẫm cắt may tinh tế, vạt áo phủ dài qua đầu gối, tóc cắt ngắn ngang vai uốn cụp gọn gàng. Trên chiếc bàn gỗ ép cáu bẩn đầy vết tàn thuốc của tôi, cô ta đặt một chiếc túi xách Hermes da cá sấu màu đen và một chiếc cốc thủy tinh đựng nước lọc đã cạn phân nửa.
Bên cạnh cốc nước là chiếc điện thoại bàn đời cũ của văn phòng tôi, ống nghe vẫn còn ấm hơi người.
Tôi buông tay khỏi cán tuốc-nơ-vít, bước hẳn vào phòng, dùng gót chân gạt cánh cửa đóng sập lại.
"Hoàng Yến." Tôi cất giọng, khàn và đục. "Mã vùng 028. Cô dùng chính số điện thoại bàn của tôi để nhắn tin vào máy tôi."
Người phụ nữ từ từ xoay ghế lại.
Gương mặt Hoàng Yến nhợt nhạt, dưới mí mắt còn hằn rõ quầng thâm màu xám tro - di chứng không thể xóa nhòa sau đợt rửa ruột và lọc máu khẩn cấp tại Bệnh viện Gia Định do trúng độc tố lá ngón. Nhưng ánh mắt cô ta không còn vẻ hoảng loạn, sợ sệt như cái ngày đầu tiên bước vào căn gác này ném cọc tiền năm mươi triệu xuống bàn thuê tôi điều tra cái chết của cha mình. Ánh mắt đó giờ lạnh tanh, phẳng lặng như mặt hồ nước đóng băng.
"Tôi biết anh sẽ về đây trước khi lên Đội Trọng án," Hoàng Yến nói, giọng đều đều, không chút gợn sóng. "Một thói quen của người lính cũ: luôn quay về căn cứ để dọn dẹp dấu vết."
Tôi kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp đối diện bàn làm việc, ngồi xuống. Xương sườn nhói lên một nhịp buốt tận óc, khiến tôi phải cắn chặt môi dưới, nuốt ngược ngụm máu tanh vào bụng. Tôi móc bao Thăng Long, rút một điếu gõ gõ lên mặt bàn nhưng không châm.
"Cô trốn khỏi bệnh viện từ ba giờ sáng hôm qua. Cảnh sát bảo vệ ở Gia Định tưởng cô bị bắt cóc." Tôi nhìn thẳng vào mắt cô ta. "Hóa ra cô không lên Đà Lạt như cái tin nhắn nặc danh đánh lạc hướng."
"Nếu tôi lên Đà Lạt, Trịnh Văn Phát đã bắn nát đầu tôi bên bờ vực đèo Mimosa rồi," Hoàng Yến nhếch mép, một nụ cười mỉa mai thoáng qua bờ môi khô nứt. "Trò nghi binh đó là do tôi học từ chính anh đấy, Trần Vũ. Đưa một chiếc xe gắn định vị chạy ngược chiều lên đèo, còn bản thân thì đi xe ôm dạt về một nhà nghỉ tồi tàn ở Bến xe Miền Đông."
Tôi đặt điếu thuốc xuống mặt bàn, ngay cạnh chiếc cốc cạn.
"Cô đến đây làm gì? Mai Thị Ngọc Lan đã bị di lý về trại T16 ngoài Hà Nội. Đỗ Khắc Khiêm, Võ Khang đều đã có lệnh bắt tạm giam. Toàn bộ tài sản năm mươi triệu đô ở Zurich đã bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương niêm phong. Bản án hai mươi năm trước đã kết thúc rồi."
"Kết thúc?"
Hoàng Yến bật ra một tiếng cười khẽ, khô khốc như tiếng lá thông gãy dưới gót giày. Cô ta thò tay vào chiếc túi xách cá sấu, rút ra một tập tài liệu bọc trong túi ni-lông dày, dằn mạnh lên mặt bàn.
Đó là một cuốn sổ tay bìa cứng mạ vàng mép giấy, đã ố vàng vì thời gian, góc bìa có vết cháy xém hình bán nguyệt.
"Anh nghĩ mọi chuyện đã kết thúc vì anh đã bắt được những con thú lớn?" Hoàng Yến nhìn tôi, ánh mắt sắc như lưỡi dao cạo. "Anh nghĩ cha tôi chết, Phúc chết, Cao chết, Khiêm và Lan bị bắt là công lý đã được thực thi?"
Tôi không chạm vào cuốn sổ. Mắt tôi dán vào vết cháy trên bìa. Vết cháy đó được tạo ra bởi ngọn lửa có nhiệt độ rất cao, tương tự như vết phốt-pho trắng tôi từng thấy trên nền gạch chái bếp Mái ấm Hướng Dương.
"Cuốn sổ này là gì?" Tôi hỏi.
"Nhật ký công trình của mẹ tôi. Mai Thị Ngọc Lan," Hoàng Yến nói, từng chữ rành rọt rớt xuống không gian ngột ngạt của căn gác. "Bà ấy không bao giờ tin tưởng Phạm Kiến Quốc, cũng chẳng bao giờ tin Đỗ Khắc Khiêm. Đêm 12 tháng 11 năm 2004, trước khi đưa can xăng cho Đinh Trọng Phúc, mẹ tôi đã bắt tất cả những kẻ có mặt ký tên vào danh sách chia phần thực tế."
"Danh sách đó Đội Trọng án và Viện Kiểm sát đã có bản sao từ thẻ bài của Thượng tá Lê Văn Bản rồi."
"Bản sao đó chỉ có mười lăm cái tên quan chức nhận đất nền biệt thự," Hoàng Yến cắt ngang, giọng hạ thấp xuống một tông, lạnh buốt. "Nó không có cái tên thứ mười sáu. Kẻ nắm giữ ba mươi phần trăm dòng tiền ngầm từ việc bán quặng đất hiếm thô sang biên giới suốt mười tám năm qua."
Tôi ngừng thở nửa nhịp.
Ngón tay trỏ bàn tay trái của tôi đặt trên mặt bàn vô thức co lại.
"Cô đang nói ai?"
Hoàng Yến không trả lời ngay. Cô ta nghiêng đầu, nhìn lướt qua vết máu khô rỉ qua lớp gạc trắng trên lòng bàn tay phải của tôi, rồi nhìn lên đôi mắt trũng sâu vì thiếu ngủ của tôi.
"Anh bảo vệ Đăng, đúng không?"
Không gian trong căn gác xép chùng xuống, đặc quánh như thể dưỡng khí vừa bị rút sạch. Tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái tôn tầng ba nghe rõ mồn một. Một con thạch sùng tặc lưỡi ba tiếng trên trần nhà mục nát.
Tôi không chớp mắt, mặt lạnh như tượng đá. "Tôi không hiểu cô đang nói gì."
"Đừng diễn nữa, cựu Đội phó," Hoàng Yến cười nhạt, nhưng đáy mắt không có chút ý cười nào. "Vết rách trên lòng bàn tay anh là do cạnh kim loại của chiếc kẹp phẫu thuật cứa phải. Loại kẹp kìm mạch máu đầu cong mười sáu xăng-ti-mét của trạm xá công an. Vết cứa đó hoàn toàn trùng khớp với cơ chế hình thành vết rách trên cổ tay phải của thằng Đen khi nó luồn dây thép giật chốt cửa căn penthouse của cha tôi."
Tôi vẫn ngồi bất động. Bàn tay giấu dưới gầm bàn siết chặt thành nắm đấm, đầu móng tay găm sâu vào da thịt đau điếng để ngăn một phản xạ thừa thãi.
"Cô ở bệnh viện thì biết gì về hiện trường penthouse?"
"Tôi không cần nhìn hiện trường," Hoàng Yến nói chậm rãi. "Vì chính tôi là người đã cung cấp cho thằng Đen bản vẽ sơ đồ mạng lưới cảm biến và góc chết camera của tòa nhà The Grand Panorama."
Lời nói của cô ta như một gáo nước đá dội thẳng vào gáy tôi.
Tôi mở bao thuốc, rút chiếc bật lửa Zippo. Ngọn lửa bùng lên soi rõ từng nếp nhăn mệt mỏi trên trán tôi. Tôi rít một hơi dài, khói thuốc xanh mờ tỏa ra che khuất khoảng không gian giữa hai người.
"Cô hợp tác với Đăng từ đầu?" Tôi hỏi, giọng bình thản đến tàn nhẫn. "Vậy màn kịch cô đến đây thuê tôi, rồi tự uống độc tố lá ngón ở Thảo Điền... là để làm gì?"
"Để anh bước vào cuộc chơi," Hoàng Yến nói, mắt không rời ngọn khói thuốc đang lượn lờ. "Thằng Đen quá non nớt. Nó mang lòng hận thù của một đứa trẻ mồ côi suốt hai mươi năm, nó nghĩ chỉ cần giết sạch Quốc, Hưng, Phúc, Cao rồi ép Khiêm lộ diện là xong. Nó không hiểu được quyền lực của những kẻ mặc vest. Tôi biết nếu chỉ có nó và lão Hùng, bọn họ sẽ bị Trịnh Văn Phát bắn chết như hai con chó hoang trong rừng thông Đà Lạt trước khi kịp đưa bất kỳ tài liệu nào ra ánh sáng."
Cô ta ngừng lại, với tay lấy chiếc cốc thủy tinh, nhưng nhận ra nước đã cạn. Cô ta đặt cốc xuống, ngón tay sơn móng đỏ gõ nhẹ lên thành thủy tinh ba nhịp.
Cộc. Cộc. Cộc.
"Nên cô cần một cái mỏ neo," tôi tiếp lời, giọng mỉa mai. "Một thằng cựu cảnh sát hình sự bị đuổi khỏi ngành, sống vất vưởng ở hẻm Quận 4, mang trong mình món nợ máu với đứa em trai đã chết của Mai Lan. Một kẻ cứng đầu đến mức dù bị gãy xương sườn cũng sẽ cắn chặt lấy vụ án cho tới khi lôi được bộ xương khô cuối cùng ra khỏi bóng tối."
"Đúng," Hoàng Yến thừa nhận, không một chút ngượng ngùng. "Và anh đã làm rất tốt. Tốt hơn cả những gì tôi kỳ vọng. Anh đưa được Lê Hoàng vào cuộc, anh kéo được Viện Kiểm sát Tối cao tới chân đồi Robin, anh phế truất Trần Đình Cửu, tống giam Đỗ Khắc Khiêm và hủy diệt hoàn toàn mẹ tôi cùng tập đoàn của cha tôi."
"Nhưng cô vẫn chưa hài lòng?"
"Làm sao tôi có thể hài lòng khi kẻ đứng đầu thực sự vẫn đang ngồi nhâm nhi rượu vang trong một căn biệt thự Pháp cổ ở Quận 3?"
Hoàng Yến mở túi ni-lông, lật trang bìa cuốn nhật ký công trình năm 2004.
Trang giấy pơ-luya ngả màu vàng khè, chi chít những con số liệu thăm dò địa chất, tọa độ các vỉa quặng đất hiếm tại sườn đông Mái ấm Hướng Dương, và dòng chữ viết tay bằng mực tím của Mai Thị Ngọc Lan:
'Ngày 10/11/2004: Đã thỏa thuận xong tỷ lệ phân chia lợi nhuận mỏ. Bên A (Quốc - Lan): 40%. Bên B (Bảo trợ tư pháp & Quân khu): 30%. Bên C (Duyệt thẩm định đô thị & Giải tỏa): 30% giao cho Người ủy quyền độc lập.'
Phía dưới dòng chữ 'Người ủy quyền độc lập' là một con dấu tròn bằng sáp đỏ đã nứt nẻ, in hình một thanh kiếm gãy nằm vắt ngang bông hoa sen tám cánh. Bên cạnh con dấu là chữ ký bằng bút máy mực đen sắc lẹm, nét gãy dứt khoát như một nhát chém.
Tôi nhìn chữ ký đó.
Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng, quen thuộc đến mức khiến tôi quên cả cơn đau ở lồng ngực.
Nét chữ đó, độ nghiêng bốn mươi lăm độ sang trái, nét móc ngược ở đuôi chữ 'T'... tôi đã nhìn thấy hàng trăm lần trên các quyết định kỷ luật, quyết định phân công chuyên án, và biên bản điều động lực lượng của Công an Thành phố Hồ Chí Minh suốt sáu năm tôi còn đeo quân hàm Đại úy Đội phó Đội Trọng án.
"Thượng tá Bùi Văn Thiện?" Tôi khẽ thốt lên, giọng lạc đi.
"Thiện chỉ là người thừa hành giữ con dấu," Hoàng Yến lạnh lùng lắc đầu. "Người ký tên này là người đã từng trực tiếp chỉ đạo chuyên án Cầu Muối ba năm trước. Người đã phê duyệt cho anh đưa tổ trinh sát của Tuấn vào hẻm cụt, đồng thời là người đã ký quyết định đình chỉ công tác, tước danh hiệu Công an Nhân dân của anh sau khi Tuấn chết."
Tôi nhìn trừng trừng vào dòng chữ ký.
Mọi mảnh ghép vụn vặt suốt ba năm qua bỗng chốc đảo lộn rồi khớp lại với nhau một cách tàn nhẫn đến rợn người.
Ngày tôi bị kỷ luật rời ngành, một vị lãnh đạo đã vỗ vai tôi trong căn phòng lạnh ngắt của Ban Giám đốc, giọng trầm ấm đầy vẻ tiếc nuối: 'Cậu là trinh sát giỏi nhất tôi từng đào tạo, Vũ à. Nhưng cuộc đời này không phải lúc nào đúng sai cũng rõ ràng. Rút về đi, mở văn phòng tư nhân, kiếm một cuộc sống bình yên. Đừng bới móc lại những gì đã chôn dưới đất.'
Người đó chính là Thiếu tướng Nguyễn Khắc Thắng - nguyên Phó Giám đốc phụ trách Cảnh sát Điều tra Công an TP.HCM, hiện vừa được điều chuyển giữ chức Phó Bí thư Thường trực Thành ủy kiêm Trưởng ban Nội chính Thành phố cách đây hai tháng.
"Nguyễn Khắc Thắng..." Tôi lẩm bẩm, điếu thuốc trên môi đã tắt ngấm tự lúc nào.
"Đêm 12 tháng 11 năm 2004, Nguyễn Khắc Thắng lúc đó là Trưởng phòng Cảnh sát Hình sự Lâm Đồng," Hoàng Yến nói tiếp, giọng cô ta như tiếng chuông báo tử gõ từng nhịp vào màng nhĩ tôi. "Chính ông ta là người đã ký lệnh điều động toàn bộ xe cứu hỏa của thành phố Đà Lạt đi ứng cứu một vụ 'cháy giả' ở kho xăng dầu Đan Kia cách đó hai mươi cây số, tạo ra khoảng mù bốn mươi lăm phút để lửa ở Mái ấm Hướng Dương thiêu rụi tất cả tám đứa trẻ và bảo mẫu Lan."
Tôi im lặng.
Tôi mở danh bạ chiếc điện thoại Nokia cũ kỹ. Màn hình đơn sắc hiện lên danh sách liên lạc ngắn ngủn. Tôi vuốt ngón tay xuống chữ T.
Số máy của Đại úy Nguyễn Tuấn.
Ba năm rồi, tôi chưa từng xóa. Tôi đã đổi ba đời máy, mỗi lần chuyển sim là một lần tự tay lưu lại từng con số đó.
Tôi nhìn chằm chằm vào cái tên trên màn hình xám xịt trong năm giây. Ngón tay khẽ run lên. Rồi tôi tắt màn hình, nhét điện thoại vào túi áo khoác, với tay lấy chiếc Zippo quẹt lửa châm lại điếu thuốc đã tắt.
Khói thuốc cay xè mắt.
"Cô muốn gì ở tôi?" Tôi ngước lên, ánh mắt đã lấy lại vẻ mệt mỏi, bất cần cố hữu. "Bây giờ Nguyễn Khắc Thắng đang ở đỉnh cao quyền lực. Ông ta là Trưởng ban Nội chính. Viện Kiểm sát Tối cao vừa bắt một loạt tướng tá, dư luận đang chấn động, sẽ không ai dại gì mở rộng chuyên án lên tới cấp Thành ủy lúc này nếu không có chứng cứ vật chất không thể chối cãi."
"Chứng cứ vật chất nằm ở ngay đây," Hoàng Yến chỉ tay vào cuốn nhật ký công trình. "Và một thứ nữa."
Cô ta rút từ túi áo măng-tô ra một chiếc chìa khóa két sắt bằng đồng thau dài ngoằng, loại khóa bảo mật của Ngân hàng Quân đội chi nhánh Hàm Nghi.
"Hộp thư an toàn số 88. Đứng tên tôi. Bên trong là cuốn băng ghi hình nguyên gốc dài mười hai phút do một camera giám sát giao thông thời Pháp của Sở Công chính Đà Lạt vô tình ghi lại được cảnh xe con của Nguyễn Khắc Thắng có mặt tại cổng Mái ấm Hướng Dương lúc một giờ mười lăm sáng đêm định mệnh đó."
"Tại sao cô không giao nó cho Viện Kiểm sát Tối cao?"
Hoàng Yến đứng dậy. Cô ta bước tới bên ô cửa kính nhìn xuống con hẻm ngập nước bên dưới. Mưa ngoài trời bắt đầu nặng hạt, gõ lộp độp liên hồi lên mặt kính bám đầy bụi bẩn.
"Vì Viện Kiểm sát sẽ thỏa hiệp," Hoàng Yến nói, không quay đầu lại. "Họ đã bắt Cửu, bắt Khiêm, bắt Phát. Họ đã có đủ chiến tích để báo cáo lên cấp trên. Họ sẽ dừng lại ở ranh giới an toàn để giữ vững sự ổn định chính trị. Nguyễn Khắc Thắng sẽ được cho hạ cánh an toàn, nghỉ hưu sớm vì lý do sức khỏe, và sống sung túc suốt phần đời còn lại bằng số tiền nhuốm máu của cha tôi và những đứa trẻ vô tội."
Cô ta quay người lại, đối diện với tôi.
"Tôi không cần ông ta nghỉ hưu an toàn. Tôi muốn ông ta phải nếm trải cảm giác danh dự bị xé nát, quyền lực bị chôn vùi, giống như cái cách ông ta đã đẩy cha tôi vào chỗ chết và bức tử mẹ tôi."
"Cô muốn tôi dùng cách của Đăng?" Tôi nhếch mép, buông một câu mỉa mai. "Một cựu cảnh sát đi làm sát thủ giấu mặt?"
"Không," Hoàng Yến bước tới mép bàn, chống hai tay xuống mặt gỗ, nhìn thẳng vào đồng tử tôi. "Tôi muốn anh làm đúng việc của một thám tử tư mà tôi đã trả tiền thuê từ ngày đầu tiên: vạch trần sự thật trước công chúng. Tối mai, lúc tám giờ, tại Hội trường Thành ủy, sẽ diễn ra Lễ trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Ban Nội chính Thành phố. Nguyễn Khắc Thắng sẽ trực tiếp lên bục nhận huân chương và phát biểu truyền hình trực tiếp."
Cô ta đẩy chiếc chìa khóa két sắt bằng đồng thau về phía tôi.
"Anh có ba mươi sáu tiếng để lấy cuốn băng từ Ngân hàng Quân đội và tìm cách đưa nó lên màn hình máy chiếu của buổi lễ."
Tôi nhìn chiếc chìa khóa đồng nằm trơ trọi giữa bàn, cạnh chiếc kẹp phẫu thuật tang vật tôi vừa giấu trong túi quần.
Thêm một ranh giới nữa. Thêm một cái bẫy chết người được giăng ra giữa trung tâm đầu não của cái thành phố hoa lệ này.
"Nếu tôi từ chối?" Tôi hỏi cụt lủn.
Hoàng Yến không trả lời. Cô ta cầm chiếc túi xách cá sấu, xoay người bước về phía cửa gác xép. Khi tay cô ta chạm vào nắm đấm cửa gỗ ép, cô ta dừng lại nửa nhịp, buông một câu lạnh ngắt vào khoảng không:
"Anh không từ chối đâu, Trần Vũ. Vì chính Nguyễn Khắc Thắng là người đã trực tiếp gọi điện cho bác sĩ pháp y ba năm trước, yêu cầu khâu thi thể của Nguyễn Tuấn lại thật nhanh và đóng hồ sơ tử vong do 'sơ suất nghiệp vụ' của Đội phó Trần Vũ."
Cánh cửa gỗ ép mở ra rồi khép lại cái cạch.
Tiếng gót giày cao gót của Hoàng Yến nện đều đặn trên những bậc thang sắt ngoài trời, xa dần rồi chìm hẳn vào tiếng mưa rào xối xả trên mái tôn Quận 4.
Tôi ngồi lại một mình giữa căn gác xép u tối nồng mùi thuốc lá và dầu tràm.
Lồng ngực bên trái nhói buốt từng cơn theo nhịp tim đập. Tôi với tay nhặt chiếc chìa khóa két sắt bằng đồng thau lên. Kim loại lạnh ngắt cọ vào lòng bàn tay băng gạc rỉ máu.
Đúng lúc đó, chiếc điện thoại bàn đời cũ trên bàn làm việc bỗng rung lên bần bật rồi phát ra những tiếng chuông reo chói tai.
Reng. Reng. Reng.
Tôi nhìn chằm chằm vào máy điện thoại ba giây. Màn hình hiển thị số gọi đến: một dãy số nội bộ bốn chữ số quen thuộc của Phòng Cảnh sát Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi thò tay nhấc ống nghe, áp vào tai nhưng không lên tiếng.
Đầu dây bên kia im lặng mất hai giây. Sau đó, một giọng nói trầm thấp, uy quyền và quen thuộc vang lên qua lớp tạp âm rè rè của đường dây viễn thông cũ:
"Vũ à? Cậu về Sài Gòn rồi phải không? Chiều nay ghé qua văn phòng Ban Nội chính gặp tôi một lát. Chúng ta có chuyện cũ cần phải nói cho dứt điểm."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.