Chương 111: Khói Lạnh Tro Tàn
Bốn giờ bốn mươi phút sáng.
Sài Gòn sau cơn dầm tháng Bảy ngập ngụa mùi rác rữa và nước cống trào ngược từ các nắp ga đường Lạc Long Quân. Bánh chiếc bán tải chém qua vũng sình lầy đục ngầu, hắt từng mảng nước đen sì lên biển hiệu han gỉ của một tiệm sửa xe máy đầu hẻm.
Khoang xe nồng nặc mùi cồn y tế, thuốc sát trùng và mùi tanh của máu rỉ qua lớp gạc mạn sườn tôi. Mỗi lần Lê Hoàng vào số rồi nhấn ga, thanh giảm xóc kêu lộc cộc, đầu xương sườn số sáu bên ngực trái lại như một mũi dao cùn nghiến sâu vào màng phổi. Tôi cắn chặt môi dưới. Vị kim loại mặn chát tràn qua kẽ răng giúp não bộ không rơi vào khoảng mù của cơn sốc thuốc giảm đau.
Hạ Băng ngồi ở băng ghế sau. Bàn tay đeo găng cao su của cô giữ chặt bình áp lực âm nối với ống silicon cắm sâu vào lồng ngực tôi. Tiếng rít cơ học phát ra từng nhịp khẽ khàng: rè... rè...
"Huyết áp tám mươi lăm trên năm mươi," Hạ Băng nói, mắt nhìn màn hình máy đo cầm tay gắn trên đùi. "Van dẫn lưu rò khí cấp hai. Anh không còn quá một tiếng trước khi phổi trái xẹp hẳn nếu tiếp tục vận động mạnh."
Tôi không quay đầu lại, với tay rút bao Thăng Long bẹp dúm trong túi áo khoác. Bao rỗng. Tôi vo tròn lớp giấy bạc, ném xuống sàn xe đã ướt sũng bùn đất.
"Chùa Giác Lâm mở cửa lúc năm giờ," tôi nói, giọng khản đặc như tiếng kim loại cọ vào đá mài. "Vũ 'Chân Thọt' không hẹn tôi đến để tụng kinh."
Lê Hoàng bẻ lái gắt vào con đường dẫn vào cổng phụ của ngôi chùa cổ. Ánh đèn pha vàng vọt quét qua những bức tường vôi bong tróc, rêu phong bám từng mảng xám xịt như vảy rắn. Cả khu vực Tân Bình giờ này chìm trong sự im lìm ngột ngạt. Tiếng chuông gió bằng đồng treo trên mái ngói cong phát ra âm thanh khô khốc giữa màn sương sớm đặc quánh mùi lưu huỳnh.
"Gậy ba-toong bịt đồng mạ crôm," Lê Hoàng hạ kính xe, tay phải đặt hờ lên báng khẩu K54 cài bên hông cửa. "Trần Trọng Vũ từng là lính điều tra của Quân khu. Sau vụ ở Cam Ranh năm 2006, ông ta biến mất khỏi danh sách quân nhân. Tai nạn thuyền buồm ở Nha Trang ba năm trước chỉ vớt được chiếc áo phao dính máu. Không có xác."
"Một gã biết rõ cách chết giả để đứng ngoài vòng tố tụng," tôi nhổ bọt máu trong miệng ra ngoài cửa kính. "Hắn dùng mã thang máy riêng để vào penthouse trước Đăng hai mươi phút. Hắn mở cửa, để lại cuộn băng Sony, rồi ngồi nhìn bàn cờ tự chạy."
"Nhưng dấu vân tay trên mảnh giấy pơ-luya," Hạ Băng ngắt lời, ngón tay cô siết nhẹ vào cổ ống silicon giữ thăng bằng khi xe dừng hẳn dưới bóng cây bồ đề cổ thụ, "vết sẹo hình chữ V ngược ở tâm xoáy ngón trỏ phải. Đó không phải dấu vết hình thành do tai nạn lao động hay dao rạch thông thường. Nó là sẹo phẫu thuật cắt chuyển vạt da."
Tôi mở cửa xe. Hơi lạnh ẩm ướt của sương sớm ùa vào buồng phổi, kéo theo một cơn ho rút ruột. Tôi vịn tay vào thành cửa bọc thép, đứng chết trân mất năm giây để ghìm lồng ngực lại. Bình áp lực âm bên hông kêu lục bục khi bọt máu trào ngược vào ngăn chứa thứ nhất.
Lê Hoàng bước xuống trước, chiếc áo khoác nghiệp vụ sẫm màu che đi khẩu súng ngắn đã mở khóa an toàn. Anh bước vòng qua mũi xe, đưa cho tôi một điếu thuốc lá Thăng Long gãy đầu lọc được vuốt lại mép giấy.
"Hút không?"
Tôi cầm lấy, ngậm vào môi. Không châm lửa. Vị thuốc lào nồng gắt và cay đắng của lớp lá thuốc ngấm ẩm xộc thẳng vào cuống họng, đè bớt vị tanh của dịch màng phổi.
"Đi lối sau," tôi bảo. "Khu bảo tháp xá lợi và nhà cốt."
Chúng tôi luồn qua cánh cổng gỗ lim khép hờ bên hông chùa. Mùi nhang trầm cũ kỹ quyện đặc với mùi ẩm mốc của hàng ngàn hũ sành tích tụ qua hàng chục năm tạo nên một thứ không khí lạnh buốt, bám dính vào da thịt. Ánh sáng vàng đục từ những ngọn đèn dầu lay lắt hắt lên các bậc thang đá chẻ.
Phòng lưu trữ tro cốt nằm sâu ở dãy nhà ba gian phía sau chánh điện. Cửa chớp bằng gỗ mun đã bị cạy bung then cài từ bên ngoài, để lại một vết xước mới tinh dài chừng mười lăm phân làm lộ ra thớ gỗ màu nâu đỏ chưa kịp bám bụi.
Lê Hoàng rút khẩu K54, ngón trỏ đặt ngoài vành cò theo đúng điều lệnh. Anh dùng mũi giày đẩy nhẹ cánh cửa.
Két...
Tiếng bản lề rỉ sét rên rỉ trong không gian tĩnh mịch.
Bên trong là bốn dãy kệ gỗ dầu cao sát trần, chia thành hàng trăm ô vuông nhỏ. Mỗi ô đặt một hũ sành tráng men da lươn hoặc thau đồng, phía trước dán tấm ảnh bốn nhân sáu đã ố vàng cùng mảnh giấy ghi họ tên, ngày mất. Mùi tàn nhang rụng đầy trên nền gạch tàu lạnh ngắt.
Dưới sàn nhà, ngay lối đi giữa hai dãy kệ số Ba và số Bốn, một vệt bụi vôi sống kéo dài thành đường thẳng dẫn sâu vào góc tối chân tháp. Cứ cách sáu mươi lăm phân, lại có một vết lõm tròn đường kính đúng hai mươi mi-li-mét, cạnh ngoài lún sâu hơn cạnh trong mười lăm độ.
Vết tì của gậy ba-toong chịu lực lệch của người bị liệt khớp háng trái.
"Người vừa ở đây," tôi cúi thấp người, ánh đèn pin mini trên tay tôi soi sát mép gạch. Lớp vôi sống dính vụn kim loại sáng màu đồng thau tróc crôm chưa bị gió cuốn đi. "Dưới mười lăm phút."
"Vũ," Hạ Băng gọi khẽ từ phía sau.
Cô đang soi đèn vào ô kệ số 114 ở tầng thứ ba dãy B.
Ô kệ đó rỗng. Nhưng xung quanh khung gỗ đóng đinh bốn góc vẫn còn sót lại một lớp bụi nhang chưa kịp lắng. Trên mặt bục gỗ mun, ai đó vừa đặt một chiếc hộp sắt vuông nhỏ nhãn hiệu trà Thiết Quan Âm, nắp hộp mở hờ.
Bên trong hộp không có tro cốt.
Chỉ có một mẩu than củi cháy dở dài chừng ba đốt ngón tay, được bọc cẩn thận bằng một chiếc khăn tay lụa trắng viền chỉ đỏ đã ngả màu ố vàng, cùng một xấp tài liệu mỏng bằng giấy than xanh gấp làm tư.
Lê Hoàng dùng kẹp gắp y tế rút mép giấy than ra ngoài. Dưới ánh sáng trắng của đèn pin, những dòng chữ đánh máy cơ học thời bao cấp hiện rõ từng nét chữ đậm nhạt:
"BIÊN BẢN GIAO NHẬN THI THỂ VÔ DANH - HIỆN TRƯỜNG VỤ HỎA HOẠN ĐÊM 11/11/2004
Địa điểm: Mái ấm Hướng Dương, Phường 3, TP. Đà Lạt.
Số lượng thi thể tiếp nhận: 08 nạn nhân.
Ghi chú đặc biệt: Tử thi số 08 (Nữ giới, độ tuổi ước tính 20-25) bị than hóa toàn phần tại ngưỡng cửa hầm chái bếp. Không thể thu thập mẫu vân tay. Răng hàm dưới có vết hàn kim loại bạc ở răng số 6 hàm trái.
Bàn giao cho: Đội Thẩm tra Quân sự Phía Nam - Đại diện tiếp nhận: Đại úy Trần Trọng Vũ."
Mắt tôi dừng lại ở dòng chữ cuối cùng.
Phía dưới chữ ký của Trần Trọng Vũ năm 2004 là một con dấu tròn mực đỏ đã mờ nhạt: "PHÒNG BẢO VỆ AN NINH QUÂN ĐỘI - BAN THẨM TRA ĐẶC BIỆT".
"Năm 2004, quân đội không trực tiếp tham gia quản lý Mái ấm Hướng Dương," Lê Hoàng cau mày, các khớp ngón tay siết chặt báng súng K54. "Tại sao một Đại úy thẩm tra quân sự lại đi tiếp nhận thi thể một vụ cháy dân sự ở Lâm Đồng?"
"Bởi vì vụ cháy đó chưa từng là một tai nạn dân sự," một giọng nói trầm đục, khô khốc vang lên từ phía sau bức màn nhung đen che lối thông ra hậu viên.
Âm thanh kim loại gõ cộc cộc trên nền gạch tàu vang lên từng nhịp đều đặn.
Cộc... Cộc... Cộc...
Lê Hoàng xoay người, họng súng K54 lập tức giương lên khóa chặt vào khoảng tối sau bức màn.
Từ trong bóng mờ của hậu viên, một bóng người đàn ông bước ra. Gã trạc ngoài năm mươi tuổi, vóc người cao gầy, khoác chiếc áo măng-tô kaki sờn vai màu cỏ úa không quân hàm. Chân trái gã bước hơi cứng, toàn bộ trọng lực cơ thể dồn lên cây gậy ba-toong bằng gỗ mun có đầu bịt bằng đồng thau mạ crôm đã tróc loang lổ lớp kim loại xanh bóng.
Khuôn mặt gã hốc hác, gò má nhô cao, và đuôi mắt phải có một vết sẹo kéo dài xuống tận mép tai. Nhưng đôi mắt gã sáng quắc, lạnh và sâu hoắm như đáy một cái giếng cạn.
Bàn tay phải cầm gậy của gã để lộ ngón trỏ mang một vết sẹo co rút hình chữ V ngược.
"Hạ súng xuống đi, Đội trưởng Lê," người đàn ông nói, giọng nam trung chuẩn Bắc pha chút âm sắc Sài Gòn sau nhiều năm trôi dạt. "Nếu tôi muốn bắn các anh, tôi đã không để lại cuộn băng micro ở két sắt của thằng Quốc."
"Trần Trọng Vũ," tôi thở hắt ra, tay phải đè chặt lên mạn sườn đang co rút từng hồi. "Cựu sĩ quan thẩm tra độc lập. Ba năm trước ông chết đuối ở vịnh Nha Trang, giờ lại về đây giữ chùa?"
Người đàn ông khẽ nhếch mép. Nụ cười không có chút ấm áp, chỉ là sự co giật của những bó cơ chai sạn.
"Thành phố này thích những kẻ đã chết hơn người còn sống, thám tử Trần," ông ta bước thêm một bước, đầu gậy ba-toong gõ lên mép gạch tàu. "Người chết thì không đòi cổ phần mỏ đất hiếm. Người chết không hỏi về mười ba bộ hồ sơ rút tủy năm 1985. Và người chết thì không thể bước vào phòng 308 của Ban Nội chính để ném cuộn băng Betacam vào mặt Nguyễn Khắc Thắng."
"Ông là người mở cửa penthouse cho Đăng?" Lê Hoàng không hạ súng, giọng anh sắc lạnh như thép tôi. "Ông biết Đăng sẽ siết cổ Quốc?"
"Tôi không chỉ mở cửa," Trần Trọng Vũ thản nhiên nhìn vào mắt Lê Hoàng, không hề chớp. "Tôi là người đưa cho thằng bé bản thiết kế mạch cảm biến thang máy. Thằng bé có quyền đòi lại món nợ hai mươi năm trước. Mẹ nó chết cháy ở ngưỡng cửa hầm, tro xương của mẹ nó bị thằng Quốc đem chôn vô danh dưới chân đồi thông để làm bãi đỗ xe cho khu nghỉ dưỡng. Anh muốn tôi ngăn nó lại bằng điều luật nào của Bộ luật Hình sự?"
"Ông đang tiếp tay cho một kẻ giết người hàng loạt," Lê Hoàng gằn từng tiếng.
"Kẻ giết người?" Trần Trọng Vũ cười gằn, âm thanh như tiếng đá vỡ dưới đáy hầm. "Phạm Kiến Quốc nuốt trọn năm mươi triệu đô la tiền bảo lãnh của Quỹ Viễn Đông, ký lệnh điều xe bồn đổ năm ngàn lít dầu diezen thiêu sống mười hai đứa trẻ. Huỳnh Trí Cao ký quyết định giao đất. Đỗ Khắc Khiêm dùng quyền Thứ trưởng xóa sổ hồ sơ khám nghiệm. Trịnh Văn Phát đưa lính cơ động chặn đường xe cứu hỏa. Còn Nguyễn Khắc Thắng... Thắng chính là kẻ đã hạ lệnh cho thằng Phong bắn xuyên tim Đại úy Nguyễn Tuấn ở hẻm Cầu Muối."
Ông ta quay sang nhìn tôi, ánh mắt dừng lại ở chiếc kẹp tóc nhôm hình bướm đang nhô ra khỏi mép túi áo ngực tôi.
"Trần Vũ," ông ta nói, giọng chùng xuống một nhịp rất nhỏ. "Cậu giữ chiếc kẹp tóc của Mai Lan ba năm nay. Cậu có biết tại sao Tuấn liều mạng vào hẻm Cầu Muối không?"
Tôi im lặng. Khói thuốc lá Thăng Long chưa châm trên môi đắng ngắt.
"Tuấn vào đó không phải vì chuyên án ma túy," Trần Trọng Vũ tiếp tục, từng lời như nhát búa nện vào lồng ngực đang rách toạc của tôi. "Tuấn vào đó để lấy lại mẩu xương than hóa mang chiếc nhẫn bạc hoa dã quỳ của chị gái mình. Mẩu xương đó bị Nguyễn Trọng Bách giấu trong két sắt của kho tang vật hẻm Cầu Muối để khống chế Tuấn suốt hai năm ròng. Bách dọa sẽ ném mẩu xương đó xuống cống rãnh nếu Tuấn dám báo cáo lên Viện Kiểm sát về mẫu dung môi hydrocacbon nặng."
Tôi quên thở nửa nhịp.
Ngực trái nhói buốt. Một dòng máu ấm trào ra mép băng gạc dán chân ống silicon, rỉ xuống thắt lưng da.
Tôi với tay vào túi quần, ngón tay chạm vào chiếc bật lửa kim loại đã cạn gas. Tôi quẹt ba lần. Tia lửa xẹt qua trong bóng tối mờ đục rồi lụi tắt. Tôi buông tay, để mặc điếu thuốc gãy ngậm chặt trên khóe môi.
"Vậy ra," tôi nhìn thẳng vào người đàn ông chống gậy, "ông là người giữ hũ tro thật của Mai Lan?"
"Không phải một mình Mai Lan," Trần Trọng Vũ xoay người, đầu gậy ba-toong chỉ vào hốc tường tối phía sau dãy kệ B. "Tất cả những hũ sành ở Nghĩa trang Đồi Thông năm 2004 chỉ chứa đất sét và vôi tôi. Đêm đó, chính tay tôi và ông Bản đã dùng xe cứu thương dã chiến đưa toàn bộ di cốt của tám nạn nhân rời khỏi hiện trường trước khi xe bồn của Tướng Cửu chạy vào san phẳng."
Hạ Băng bước lên một bước, ánh đèn trên tay cô run nhẹ: "Di cốt của họ... đang ở đâu?"
Người đàn ông không trả lời ngay. Ông ta thò tay vào túi măng-tô, rút ra một chùm chìa khóa bằng đồng thau cũ kỹ, tra vào ổ khóa của một cánh cửa sắt sơn chống rỉ ngầm dưới chân bệ thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Cạch.
Cánh cửa sắt nặng nề hé mở. Bên trong không phải là một căn phòng chứa tro cốt thông thường, mà là một khoang bảo ôn nhỏ rộng chừng năm mét vuông, được làm lạnh bằng dàn máy nén khí chạy êm ru.
Trên các kệ inox trắng toát, tám chiếc hũ bằng đá cẩm thạch trắng được xếp thành hàng ngang ngay ngắn. Trước mỗi chiếc hũ là một ngọn đèn hoa sen bằng sáp đỏ, cháy leo lét không khói. Phía trước chiếc hũ ở chính giữa đặt một đôi dép nhựa trẻ em màu vàng đã cháy xém quai, một cuốn vở tập viết lớp một bị cháy mất góc bìa, và một chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm thứ ba — chiếc kẹp tóc nguyên vẹn không hề dính muội than.
Dưới chân bệ đá cẩm thạch, một tấm kim loại dập nổi hàng chữ:
"DANH SÁCH BẢO TỒN VẬT CHỨNG ĐẶC BIỆT - CHUYÊN ÁN 1104/LĐ
Lưu kho vô thời hạn theo Quyết định số 00-QP/1985."
"Tôi đã giữ tro cốt của họ suốt hai mươi năm," Trần Trọng Vũ nói, lưng ông ta tựa vào khung cửa sắt, bàn tay tì chặt lên đỉnh gậy mun. "Đợi một ngày có người mang đủ bằng chứng để buộc những kẻ mặc vest sang trọng phải quỳ xuống trước những hũ tro này."
"Đăng đã chết," tôi nói cộc lốc.
Người đàn ông khựng lại. Cây gậy ba-toong trên tay ông ta khẽ trượt một mi-li-mét trên mặt đá hoa cương, phát ra tiếng rít chói tai.
Một giây im lặng đặc quánh như chì đổ vào tai.
Ông ta không hỏi Đăng chết thế nào. Không hỏi ai đã bắn. Ông ta chỉ từ từ rút một bao diêm Thống Nhất trong túi áo ngực, quẹt một que diêm, châm vào ngọn đèn sáp hoa sen trước chiếc hũ đá cẩm thạch mang tên Nguyễn Mai Lan.
Ánh lửa vàng cam bùng lên, soi rõ dòng chữ khắc chìm trên thớ đá:
"NGUYỄN MAI LAN - SINH NGÀY 12/11/1980 - HY SINH ĐÊM 11/11/2004 TẠI MÁI ẤM HƯỚNG DƯƠNG."
"Thằng bé đã làm xong việc của nó," Trần Trọng Vũ khẽ nói, thổi tắt que diêm. Mùi khói diêm sinh khét lẹt lan tỏa trong khoang lạnh. "Nó giữ trọn lời hứa với mẹ nó."
"Còn việc của ông?" Lê Hoàng hạ nòng súng K54 xuống ngang đùi, giọng anh trầm xuống nhưng vẫn giữ nguyên sự đanh thép của một sĩ quan điều tra. "Ông gọi chúng tôi đến đây không phải chỉ để thắp nhang."
"Đúng," Trần Trọng Vũ quay lại, rút từ đáy hũ đá cẩm thạch của Mai Lan ra một chiếc phong bì da dù quân dụng dán ba lớp băng keo vải, bên trên đóng dấu niêm phong sáp đỏ hình thanh kiếm gãy. "Chiếc va-ly titan của Đặng Trần Quang chỉ là một nửa bản đồ. Tài khoản một trăm hai mươi triệu đô la ở Zurich chỉ là tiền mặt. Còn đây... là thứ mà Quỹ Viễn Đông và những kẻ đứng sau chúng thực sự thèm khát suốt bốn mươi năm qua."
Ông ta đặt chiếc phong bì da dù lên lòng bàn tay tôi.
Bìa da lạnh ngắt, nặng trịch.
"Bản thỏa thuận chuyển nhượng ngầm mỏ quặng đất hiếm vùng ranh giới Cam Ranh - Đơn Dương năm 1985," Trần Trọng Vũ gằn từng tiếng. "Có chữ ký gốc của sáu người tham gia phiên họp bí mật tại Hà Nội năm đó. Trong đó có ba người vẫn đang ngồi trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhất chuẩn bị chủ trì phiên họp Ban Chấp hành Trung ương vào sáng mai."
Tôi siết chặt chiếc phong bì. Cơn đau từ mạn sườn lại nhói lên, kéo theo cảm giác tê dại lan dọc xuống năm đầu ngón tay trái.
Đúng lúc đó, chiếc điện thoại Nokia trong túi áo ngực tôi rung bần bật.
Màn hình đơn sắc chớp sáng.
Một tin nhắn SMS gửi đến từ đầu số nội bộ của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an:
"ĐỘI TRƯỞNG LÊ HOÀNG, THÁM TỬ TRẦN VŨ: CÔNG ĐIỆN HỎA TỐC SỐ 01/BCA VỪA ĐƯỢC BAN HÀNH LÚC 04:55 SÁNG. LỆNH BẮT TẠM GIAM KHẨN CẤP ĐỐI VỚI THƯỢNG TÁ ĐẶNG THẾ ANH VỀ TỘI CHIẾM ĐOẠT TÀI LIỆU TUYỆT MẬT QUỐC GIA. TỔ TRINH SÁT BỘ ĐANG BAO VÂY KHU VỰC CHÙA GIÁC LÂM."
Lê Hoàng nhìn vào màn hình điện thoại tôi, quai hàm bạnh ra.
Bên ngoài cổng chùa, tiếng rít của lốp xe đặc chủng phanh gấp trên mặt đường nhựa ướt sũng vang lên xé toạc màn sương sớm, tiếp nối bằng tiếng then cài kim loại của những khẩu tiểu liên đang đồng loạt lên đạn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.