Giao Lộ Mờ Sương

Chương 110: Tiếng Thở Dưới Đáy Két Sắt

Đăng: 30/08/2026 13:16 3,497 từ 1 lượt đọc

Mưa tháng Bảy ở Sài Gòn không bao giờ dứt một cách tử tế. Nó dai dẳng, trườn qua những gờ kính của tầng hầm phòng kỹ thuật hình sự số 45 Phan Đăng Lưu, kéo theo mùi cống rãnh sực lên từ phía đường Nơ Trang Long và mùi thạch cao ẩm mục của những khối nhà xây từ thập niên chín mươi.

Trong phòng chỉ có tiếng rù rù của chiếc quạt hút gió cũ kỹ và tiếng máy lọc âm thanh dải tần hẹp chạy bằng biến áp rời. Mùi ozone khét lẹt bốc ra từ những bo mạch nung nóng, quyện với mùi cồn đỏ i-ốt trên lớp băng thun quấn chặt quanh mạn sườn trái của tôi.

Mỗi nhịp thở là một lần đầu xương sườn số sáu cọ vào thành ngực. Cơn đau buốt nhói, khô khốc, như có ai cầm mảnh chai cào chậm rãi từ bên trong. Tôi thò tay vào túi áo khoác, ngón tay chạm vào góc gãy của bao Thăng Long dẹp lép. Hết nhẵn. Tôi rút ngón tay ra, cắn nhẹ mép môi dưới để vị tanh của máu làm dịu cơn buồn ngủ trĩu nặng sau hai mươi tư tiếng không chợp mắt.

Hạ Băng đứng tựa lưng vào bàn inox khám nghiệm âm bản. Cô không nhìn tôi, chỉ đưa tay xoay nhẹ van áp lực âm của bình silicon đặt dưới chân ghế. Tiếng rít nhỏ xíu vang lên khi áp suất hút dịch màng phổi được điều chỉnh.

"Huyết áp chín mươi trên sáu mươi," Hạ Băng nói, giọng phẳng lặng như một bản báo cáo tử thi. "Anh còn đúng hai tiếng trước khi thuốc giảm đau hết tác dụng hoàn toàn. Nếu muốn nghe thì nghe cho nhanh."

Lê Hoàng đứng ở góc tối cạnh tủ sắt lưu trữ, chiếc áo sơ mi rách cầu vai chưa kịp thay dính bết vào lưng. Anh không ngồi, hai bàn tay thọc sâu vào túi quần, đôi mắt đỏ ngầu chằm chằm nhìn vào chiếc máy cassette micro Sony M-902 đặt giữa bàn.

Bên cạnh chiếc máy là cuộn băng từ nhỏ bằng hai ngón tay, vỏ nhựa màu xám tro dán nhãn dập nổi chữ Nhật Bản mờ nhạt. Nó vừa được trích xuất từ ngăn đáy phụ bằng thép hai lớp của chiếc két sắt chống cháy trong phòng làm việc tại penthouse The Grand Panorama.

Thượng tá Đặng Thế Anh ngồi đối diện tôi. Chiếc áo gió cảnh sát của ông ta đẫm nước mưa ở hai bên bả vai. Ông không cởi áo, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ ép ba nhịp cơ học.

Cộc. Cộc. Cộc.

Âm thanh khô khốc làm tôi giật nhẹ mí mắt.

"Két sắt của Quốc được cài cơ chế khóa tự hủy bằng nhiệt," Thế Anh nói, giọng khàn đặc vì khói thuốc. "Nếu nhập sai mã ba lần, một ống thủy tinh chứa axit sunfuric đậm đặc sẽ vỡ ra nung chảy toàn bộ giấy tờ bên trong. Nhưng kẻ lắp két cho Quốc hai mươi năm trước là một thợ khóa người Hoa ở Chợ Lớn. Lão đã bí mật làm thêm một ngăn đáy phụ dày ba ly dưới lớp nỉ nhung. Cuộn băng này nằm ở đó."

"Thời điểm ghi âm?" tôi hỏi, cổ họng rát như nuốt phải cát.

"Đồng hồ xung nhịp quang học trên đầu từ xác định cuộn băng bắt đầu quay lúc hai mươi ba giờ mười phút đêm mười tám tháng Bảy," Thế Anh đẩy chiếc cần gạt máy lọc âm. "Hai mươi phút trước khi trinh sát Đăng bước vào phòng."

Hoàng siết chặt quai hàm. Bắp thịt bên má anh giật nhẹ một cái. Anh không nói gì, nhưng hơi thở phả ra nghe nặng trịch.

Thế Anh ấn nút Play.

Tiếng rít của sợi băng từ ma sát qua đầu đọc phát ra từ loa kiểm âm. Âm thanh nền đặc trưng của tầng bốn mươi một tòa cao ốc trung tâm: tiếng gió rít qua khe cửa kính hai lớp cách âm, tiếng máy điều hòa trung tâm chạy êm ru, và tiếng nước đá va lách cách vào thành ly thủy tinh pha lê.

Rồi có tiếng thở dốc. Tiếng thở của một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, béo phệ, tim đập nhanh do huyết áp tăng vọt. Đó là Phạm Kiến Quốc.

"Mười hai triệu..." Giọng Quốc vang lên trong băng, run rẩy và đứt quãng. "...Tôi đã bảo là tiền đã vào tài khoản trung gian ở Singapore rồi. Các người còn muốn cái gì nữa?"

Một khoảng lặng kéo dài bốn giây.

Không có tiếng trả lời bằng giọng nói. Chỉ có tiếng đế giày da bước trên sàn gỗ sồi. Tiếng bước chân rất nhẹ, đều đặn, không có độ trượt của đế cao su thông thường mà là tiếng đanh gọn của giày da đế da cao cấp may thủ công. Từng bước một.

Cộp. Cộp. Cộp.

Người đó dừng lại cách micro chừng hai mét.

"Ông Quốc," một giọng nói cất lên.

Không phải giọng biến âm kỹ thuật số. Đó là một giọng nam trung, trầm, phát âm tròn vành rõ chữ theo thổ âm miền Bắc nhưng đã pha lẫn âm sắc Sài Gòn sau nhiều năm sinh sống. Một giọng nói lịch thiệp đến lạnh gáy.

"Khoản mười hai triệu đó là phần của ông Khang," người đàn ông lạ mặt nói chậm rãi. "Còn phần của những người đã nằm lại dưới đồi thông... ông định trả bằng cái gì?"

Tiếng ly thủy tinh rơi xuống thảm len dày. Nước đổ tràn ra sàn.

"Mày... mày là ai?" Giọng Quốc lạc đi, tiếng nghẹt thở do dây thanh đới co thắt đột ngột. "Làm sao mày có mã thang máy riêng?"

"Mã thang máy do chính ông đặt từ mười năm trước," người đó đáp, tiếng kim loại cọ nhẹ vào nhau, nghe như một chiếc kẹp cà vạt hoặc một chiếc bật lửa kim loại được xoay trên đầu ngón tay. "Ngày mười hai tháng mười một. Ông quên rồi sao?"

"Không thể nào..." Quốc lùi lại, tiếng lưng tựa mạnh vào mép bàn làm việc bằng gỗ gõ đỏ làm rung chiếc đèn bàn. "Hồ sơ đó đã bị hủy... Chính tay thằng Thắng đốt sạch ở trạm xá rồi!"

"Giấy tờ thì cháy được. Nhưng người thì không."

Một tiếng sột soạt của tập tài liệu bằng giấy ráp được đặt lên mặt bàn kính.

"Bản thỏa thuận năm hai nghìn lẻ bốn chỉ có ba bên ký," người đàn ông lạ mặt tiếp tục, giọng bình thản như đang đọc một bản hợp đồng mua bán nhà đất thông thường. "Bên A là ông và Luân. Bên B là công ty Tây Nguyên. Bên C là đám thanh tra. Nhưng có một điều khoản phụ không đánh máy, viết tay bằng mực tím ở chân trang thứ mười hai. Ông nhớ nội dung của nó chứ?"

Tiếng Quốc thở dốc biến thành một chuỗi âm thanh ú ớ nghẹn ứ trong cổ họng.

"Điều khoản đó quy định..." người đàn ông nói từng từ một, rõ mồn một qua loa kiểm âm: "...Người đại diện nhận tiền đợt đầu phải đích thân có mặt tại hiện trường để giám sát việc bàn giao mặt bằng sạch. Đêm đó, ông đã đứng ở gốc thông đầu dốc. Ông đã nhìn thấy hai đứa trẻ chạy ra cửa sổ tầng lửng."

"Tôi không... Tôi không khóa cửa!" Quốc gào lên trong tuyệt vọng. "Thằng Phúc khóa! Thằng Phúc cầm xích sắt phi mười hai khóa từ ngoài! Tôi chỉ bảo nó dọa thôi... Tôi thề là tôi chỉ bảo nó đốt cái chái bếp để đuổi tụi nó đi thôi!"

"Nhưng khi lửa bén vào can dầu diezen, ông đã không mở khóa."

Im lặng. Một khoảng im lặng kéo dài đến nghẹt thở.

Tiếng gió rít ngoài cửa sổ tầng bốn mươi như dội thẳng vào căn phòng bán hầm.

"Mày muốn bao nhiêu?" Giọng Quốc chùng xuống, chuyển sang giọng điệu của một kẻ buôn bán sừng sỏ đang tìm cách mua lại mạng sống của chính mình. "Năm mươi triệu đô ở Zurich. Tôi cho mày toàn bộ mã khóa. Tao chỉ cần giữ lại cái hộ chiếu..."

"Năm mươi triệu đó không phải của ông," người đàn ông cắt ngang, giọng không hề có chút dao động. "Nó là tiền đền bù của mỏ quặng. Và nó sẽ được dùng đúng chỗ của nó. Còn bây giờ, ông có hai mươi phút để thu dọn những thứ ông nghĩ là có thể mang theo được."

"Mày... mày không giết tao?"

"Tôi không giết người," người đàn ông đáp, tiếng bước chân bắt đầu di chuyển về phía cửa. "Tôi chỉ mở cửa cho người cần vào."

Tiếng chốt cửa điện tử kêu "tít" một tiếng ngắn. Tiếng cánh cửa gỗ nặng nề khép lại.

Trong đoạn băng chỉ còn lại tiếng thở dồn dập như thú hoang của Phạm Kiến Quốc. Tiếng ngăn kéo bị giật tung, tiếng chìa khóa kim loại rơi lách cách, và tiếng một vật kim loại nặng bị kéo lê trên sàn. Đó là lúc Quốc hoảng loạn mở két sắt, giấu cuộn băng ghi âm này vào ngăn đáy bí mật, rồi luống cuống lấy tập hồ sơ ủy thác bỏ vào cặp da.

Đúng mười lăm phút sau, tiếng cửa penthouse lại mở ra một lần nữa.

Lần này, không có tiếng bước chân đế da. Chỉ có tiếng ma sát sột soạt của vải dù bọc giày dã chiến, tiếng dây dù siết mạnh tạo ra một âm thanh nghẹt thở kéo dài chính xác bốn mươi giây. Tiếng chân Quốc đạp giãy giụa lên tấm thảm len, yếu dần, rồi im bặt.

Tiếng máy cassette dừng lại bằng một tiếng "tạch" khô khốc. Băng hết.

Căn phòng kỹ thuật rơi vào sự tĩnh lặng tuyệt đối.

Tôi đưa tay lên ngực trái, ngón tay bóp chặt vào lớp băng thun. Dưới thớ vải, ống dẫn lưu silicon giật nhẹ theo từng nhịp đập của tim.

Hoàng bước tới một bước, hai mắt trừng trừng nhìn vào cuộn băng trên bàn. "Người đầu tiên... không phải là Đăng."

"Không phải," tôi nói, giọng trầm xuống. "Đăng không đi giày da đế thủ công. Thể hình của Đăng mảnh, bước chân của trinh sát ngoại tuyến luôn tiếp đất bằng nửa bàn chân trước, âm thanh trong băng sẽ có độ trượt nhẹ. Kẻ đầu tiên đi gót trước, dáng đi thẳng, nhịp chân cách đều sáu mươi lăm phân. Đó là thói quen vận động của một người từng qua đào tạo sĩ quan chỉ huy hoặc làm việc trong cơ quan ngoại giao."

"Và quan trọng nhất," Hạ Băng lên tiếng, ngón tay cô chỉ vào biểu đồ sóng âm hiển thị trên màn hình máy tính dã chiến, "tần số giọng nói của người này nằm ở dải một trăm hai mươi héc. Độ tuổi sinh học dao động từ bốn mươi tám đến năm mươi hai tuổi. Giọng nói có độ dày của người hút thuốc tẩu hoặc thuốc lá lá, hoàn toàn không khớp với mẫu giọng của Đăng hay bất kỳ ai trong nhóm trinh sát trẻ."

Thế Anh rút một bao Thăng Long từ túi áo, rút một điếu thảy sang phía tôi.

Tôi đón lấy điếu thuốc bằng tay phải. Bàn tay hơi run. Tôi đưa điếu thuốc lên mũi ngửi mùi lá thuốc khô khét lẹt, không châm lửa. Ở góc phòng, chiếc bật lửa Zippo của Tuấn nằm trong ngăn kéo bàn làm việc cũ của Hoàng, cách tôi ba bước chân. Tôi không nhìn về hướng đó.

"Kẻ này biết mã thang máy riêng của Quốc," tôi nói, lật lại từng chi tiết trong đầu. "Mã thang máy đó chỉ có ba người biết: Quốc, Hoàng Yến, và người trực tiếp quản lý hệ thống an ninh tòa nhà do Tập đoàn Phương Nam chỉ định."

"Hoàng Yến đã khai hết chưa?" Hoàng quay sang nhìn Thế Anh.

"Yến đang được Viện Kiểm sát bảo vệ tại trạm xá Bộ Tư lệnh Quân khu," Thế Anh đáp. "Cô ta khẳng định đêm đó chỉ đưa sơ đồ cảm biến góc chết cho Đăng qua một hộp thư chết ở bưu điện Quận 5. Yến không hề biết có kẻ thứ ba xuất hiện trước Đăng hai mươi phút."

"Yến không nói dối," tôi lắc đầu, nhớ lại vết bớt đỏ sau gáy cô gái dưới căn hầm số 48 Ba Đình. "Nếu Yến biết kẻ này, cô ta đã không liều mạng uống độc tố lá ngón để kéo tôi vào cuộc. Kẻ này đứng cao hơn Yến, đứng cao hơn cả Đăng."

Tôi đứng dậy. Mạn sườn trái nhói lên một cơn đau dữ dội khiến mắt tôi tối sầm trong nửa giây. Tôi chống một tay xuống mép bàn inox, cắn chặt môi dưới cho đến khi vị tanh mặn tràn vào kẽ răng.

Hạ Băng bước tới định giữ vai tôi, nhưng tay cô dừng lại giữa không trung, cách lớp áo khoác của tôi vài phân. Cô hạ tay xuống, đút vào túi áo blouse trắng.

"Anh muốn đi đâu?" cô hỏi cộc lốc.

"Tầng bốn mươi," tôi nói. "The Grand Panorama."

Hoàng nhìn tôi: "Hiện trường đã bị niêm phong kín ba lớp. Đội Kỹ thuật hình sự của Bộ đã rà soát ba lần."

"Họ rà soát để tìm chứng cứ giết người," tôi nhét điếu thuốc chưa châm vào túi áo ngực. "Họ không rà soát để tìm thứ mà kẻ đầu tiên để lại."

Chiếc xe bán tải của Hoàng lao qua cầu Khánh Hội trong màn mưa xám xịt lúc bốn giờ sáng. Sài Gòn ở góc nhìn này giống như một con thú khổng lồ đang thở dốc dưới lớp bùn lầy. Những tòa tháp chọc trời bọc kính phản chiếu ánh đèn vàng vọt của đèn đường, đối lập hoàn toàn với những mái tôn rỉ sét nằm san sát bên bờ kênh Tàu Hủ phía sau lưng chúng tôi.

The Grand Panorama sừng sững như một khối đá đen cắm thẳng vào nền trời Quận 1.

Chúng tôi đi thang máy kỹ thuật lên tầng ba mươi chín, rồi leo cầu thang bộ thoát hiểm lên tầng bốn mươi. Dải băng niêm phong màu đỏ có dấu sáp của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao dán chéo cánh cửa gỗ gõ đỏ dày mười phân.

Thế Anh dùng chìa khóa nghiệp vụ mở ổ khóa cơ phụ, cẩn thận lách mép băng dính để không làm rách con dấu.

Không khí bên trong penthouse nồng nặc mùi bụi mịn, mùi thảm ẩm và mùi hôi thối đặc trưng của tử khí còn sót lại dù hiện trường đã được xử lý hóa chất tẩy rửa.

Căn phòng làm việc rộng gần một trăm mét vuông, sàn gỗ sồi nhập khẩu phủ một lớp bụi mỏng. Chiếc bàn làm việc đồ sộ vẫn nằm nguyên vị trí cũ. Vết phấn trắng vẽ lại tư thế tử thi của Phạm Kiến Quốc in hằn trên tấm thảm len trước kệ sách.

Tôi bước lại gần chiếc bàn, không bật đèn trần mà chỉ dùng chiếc đèn pin ánh sáng vàng công suất nhỏ rọi sát mặt sàn.

"Kẻ đầu tiên bước vào đây," tôi nói, giọng thì thầm như sợ đánh thức những bóng ma còn lẩn khuất trong góc phòng, "đã đứng ở vị trí này. Đối diện với Quốc."

Tôi nhìn xuống tấm thảm len màu xám tro.

Dưới ánh đèn pin quét nghiêng mười lăm độ, lớp lông thảm dày ba phân hiện lên một vết lõm rất nhỏ, tròn, đường kính khoảng hai mươi mi-li-mét.

"Đây không phải là vết giày," tôi ngồi xổm xuống, khớp gối kêu rắc một tiếng. Tôi rút chiếc nhíp nhỏ trong túi dụng cụ của Hạ Băng, gạt nhẹ từng sợi lông thảm.

Một đầu bịt bằng đồng thau mạ crôm đã bị tróc một góc lộ ra lớp kim loại ố xanh.

"Vết chống của một cây gậy ba-toong," Hạ Băng cúi xuống bên cạnh tôi, hơi thở của cô thoảng mùi bạc hà lấn át mùi tử khí. "Người này có tật ở chân trái. Lực tì xuống thảm lệch một góc mười lăm độ về phía bên ngoài. Khối lượng cơ thể đè lên cây gậy ước tính khoảng hai mươi lăm đến ba mươi cân, chứng tỏ chân trái của hắn bị liệt một phần hoặc thoái hóa khớp háng nặng."

Tôi đứng thẳng người dậy, lưng áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi lạnh.

Một người đàn ông trạc năm mươi tuổi. Giọng nói chỉ huy, am hiểu tường tận bản thỏa thuận năm 2004, có chân trái bị tật phải chống gậy bịt đồng, và nắm giữ mã an ninh riêng của tòa nhà.

"Trong hồ sơ Chuyên án Một-Một-Không-Bốn," tôi nhìn Thế Anh, "ai là người bị thương tật ở chân trái?"

Thế Anh đứng lặng trong bóng tối của ô cửa kính lớn. Ánh chớp ngoài trời rạch ngang nền trời đen đặc, hắt qua khung kính soi rõ gương mặt góc cạnh của ông ta.

"Năm hai nghìn lẻ sáu," Thế Anh nói chậm rãi, từng từ rơi xuống như đá tảng, "sau vụ nổ kho vũ khí ở Cam Ranh khiến Thiếu tướng Phạm Gia Bảo hy sinh, có một sĩ quan thẩm tra độc lập của Ủy ban Kiểm tra Quân sự bị thương nặng do mảnh đạn cối găm vào khớp háng trái. Ông ta được đưa sang Liên bang Nga phẫu thuật thay khớp nhân tạo, sau đó chuyển ngạch sang làm Cố vấn Tư pháp cho Tập đoàn Dầu khí và các dự án khai khoáng đặc biệt."

"Tên ông ta là gì?" Hoàng siết chặt khẩu K54 bên hông.

"Trần Trọng Vũ," Thế Anh đáp. "Bí danh thời chiến là Vũ 'Chân Thọt'. Nhưng ông ta đã được báo cáo là qua đời cách đây ba năm trong một vụ tai nạn thuyền buồm tại vịnh Nha Trang."

"Chết giả," tôi nhếch mép, một nụ cười cay đắng trượt qua môi. "Thành phố này có quá nhiều người chết giả để sống một cuộc đời khác trong bóng tối."

Tôi bước lại gần chiếc két sắt mở toang ở góc phòng.

Ngăn đáy phụ đã bị bẩy lên, để lộ lớp thép non bên dưới. Tôi rọi đèn pin vào sâu bên trong hốc thép.

Ở góc trong cùng, dính chặt vào lớp mỡ bảo quản kim loại, là một mẩu giấy pơ-luya màu vàng ngà bị xé vội, chỉ bằng nửa bao diêm.

Tôi dùng nhíp gắp mẩu giấy ra, đặt lên lòng bàn tay của Hạ Băng.

Dưới ánh đèn soi dấu vết sinh học, trên mẩu giấy hiện lên một dòng chữ viết tay bằng mực bút máy Parker màu xanh Cửu Long sắc lẻm. Nét chữ cứng cáp, gãy gọn, đuôi chữ V kéo dài gạch ngang qua thân chữ như một lưỡi dao:

"Bản án của Quốc chỉ là sự khởi đầu. Hẹn gặp lại tại phòng lưu trữ tro cốt Chùa Giác Lâm, Đội phó Trần Vũ."

Mặt sau mẩu giấy là một dấu vân tay ngón trỏ phải bằng mực đỏ. Nhưng ở tâm xoáy của vân tay, có một vết sẹo thẳng cắt đứt toàn bộ các đường vân chính — một vết sẹo hình chữ V ngược.

Tôi nhìn chằm chằm vào dấu vân tay đó.

Gió bên ngoài đập mạnh vào mặt kính tầng bốn mươi, phát ra một tiếng rền rĩ trầm đục.

Tôi thò tay vào túi áo, lấy điếu thuốc Thăng Long vừa nhận lúc nãy, bẻ gãy đầu lọc làm đôi rồi ngậm vào miệng. Tôi không châm lửa. Vị đắng ngắt của lá thuốc ngấm vào đầu lưỡi, kéo theo sự tỉnh táo lạnh buốt chạy dọc sống lưng.

"Không phải Chùa Thông," tôi nói khẽ, mắt nhìn qua khung kính hướng về phía Tây thành phố, nơi những mái ngói cổ kính của Chùa Giác Lâm đang chìm trong màn sương đêm. "Hắn đang đợi ở đó."

Tôi quay lưng bước ra phía cửa thoát hiểm, bỏ lại sau lưng căn penthouse lạnh lẽo của kẻ đã chết. Cơn đau ở mạn sườn trái lại giật lên từng cơn dữ dội, nhưng tôi không dừng lại.

Bàn cờ chưa bao giờ kết thúc. Kẻ bày ra cái chết của Phạm Kiến Quốc không phải là người đang nằm trong nhà xác, mà là kẻ đang cầm cây gậy ba-toong đứng chờ tôi giữa những hũ tro cốt vô danh của Sài Gòn hai mươi năm trước.

0