Chương 35: Lòng Cống Ngầm Yang Ly
Nước cống ngầm lạnh như dao cạo vào tủy xương.
Nó không phải thứ nước mưa bốc mùi xú uế lờ đờ ở mấy con kênh Quận 4 hay rãnh nước đen ngòm dưới chân cầu Rạch Lăng. Đây là nước đầu nguồn đổ từ các hốc đá trên đèo Khánh Lê xuống đường ống xả đáy đập Yang Ly, mang theo mùi bùn đất rừng mục rữa, mùn cưa mục và vị tanh sắt lạnh ngắt của kim loại rỉ sét. Dòng nước ngập ngang thắt lưng, cuộn xoáy với áp lực đủ sức cuốn phăng một gã trưởng thành nếu sẩy chân vào hố sâu.
Tôi cắn chặt răng, bập hai gót giày vào lớp rêu trơn tuột dưới đáy ống cống bê tông đường kính ba mét. Hai dẻ sườn số sáu và số bảy bên ngực trái cọ vào nhau lục cục sau cú va chạm trên xe bán tải. Mỗi nhịp thở hắt ra đều mang theo vị đờm lẫn máu tươi tanh nồng nơi cuống họng.
Phía sau, tiếng súng tiểu liên và tiếng nổ đanh thép của shotgun rền vang từ mặt đường Quốc lộ 27C phía trên đầu. Tiếng đạn nện vào thành bê tông của cống xả như sấm dội trong một cái chum rỗng khổng lồ.
Lê Hoàng đi ngay sau tôi. Một tay cậu ta ghì chặt quai khẩu súng bắn tỉa vắt chéo lưng và chiếc túi dù đựng tập tài liệu sinh tử, tay kia túm cổ áo Đỗ Khắc Khiêm lôi xềnh xệch qua dòng nước xiết. Vị Trung tướng quyền lực tối thượng một thời của Bộ Công an giờ không khác gì một bao tải giẻ rách ướt sũng. Bả vai phải của Khiêm dính một phát đạn xuyên táo, máu tươi túa ra nhuộm đỏ một khoảng nước quanh hông lão, cánh tay trái gãy buông thõng đập lập bập vào thành bê tông. Khuôn mặt lão xám ngoét như tro tàn, hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập vì mất máu và cái lạnh buốt óc của nước suối vùng cao.
Đi sau cùng là Mai Thị Ngọc Lan. Người đàn bà từng điều hành hàng chục dự án hạ tầng nghìn tỷ giờ bò lê bò càng trên mép gờ bê tông trơn nhẫy, hai bàn tay sơn sửa móng kỹ lưỡng cào cấu vào lớp rêu nhớp nháp, miệng lảm nhảm những câu vô nghĩa.
"Đừng... đừng bắn... Tôi có tiền... Trong tài khoản Thụy Sĩ còn năm mươi triệu đô... Thằng Phát... thằng Phát nó muốn giết sạch..."
"Câm mồm lại," tôi quay đầu gằn giọng, giọng khàn đặc vì sặc khói súng. "Nước ở đây sâu hai mét. Trượt chân một cái là xác trôi thẳng ra biển làm mồi cho cá đấy."
Bà ta nấc lên một tiếng rồi ngậm chặt miệng, co dúm người bám theo gót ủng của Hoàng.
Tôi đưa tay quệt vệt máu rỉ bên khóe môi, giơ ngọn đèn pin mini soi về phía trước. Ánh sáng vàng đục quét qua vòm cống hun hút tối tăm, chỉ thấy những búi rễ cây rừng đâm xuyên qua các khe nứt bê tông rủ xuống như tóc người chết trôi. Không khí trong lòng cống đặc quánh mùi lưu huỳnh còn sót lại từ quả lựu đạn khói mà kẻ mặc áo mưa đen ném xuống mặt đường giải vây cho chúng tôi mười phút trước.
Trên nắp ca-pô chiếc Ford Ranger nát bét bị bỏ lại ở km 33, đôi dép nhựa màu xanh cháy sém mũi khắc chữ "ĐĂNG" vẫn còn in hằn trong tâm trí tôi như một nhát dao nung.
Đăng. Thằng nhóc trinh sát với khuôn mặt búng ra sữa, luôn mặc áo sơ mi dài tay cài kín cổ tay áo để giấu vết sẹo bỏng lồi lõm thời thơ ấu. Thằng nhóc có thói quen gõ ba nhịp ngón tay trỏ vô thức mỗi khi căng thẳng.
Một chuỗi tính toán lạnh lùng kéo dài suốt hai mươi năm. Hai đứa trẻ mồ côi sống sót qua biển lửa Mái ấm Hướng Dương năm 2004. Một đứa ẩn mình trong lực lượng cảnh sát, nắm giữ toàn bộ hệ thống lưu trữ hồ sơ và tiến độ điều tra của Đội Trọng án. Đứa còn lại mang dòng máu trực hệ của nữ bảo mẫu Mai Lan, sống ngoài vòng pháp luật, rèn luyện kỹ năng bắn tỉa và cận chiến đặc nhiệm của một bóng ma, thoắt ẩn thoắt hiện nơi góc chết của các tòa nhà cao ốc để thi hành từng bản án tử hình bằng lửa và xyanua.
Chúng không hành động đơn độc. Chúng là hai mũi kìm của cùng một cỗ máy báo thù. Một bên cung cấp đường đi nước bước, vô hiệu hóa các mắt xích công quyền; một bên giương súng, giật chốt cửa phòng kín và châm que diêm kết liễu những kẻ mặc vest sang trọng đã xây dựng ngai vàng trên tro xương của tám sinh mạng.
Đúng lúc đó, một chấn động dữ dội truyền qua lớp bê tông dày nửa mét trên đỉnh đầu.
BÙM!
Tiếng nổ đanh gọn của một khối thuốc nổ dẻo hoặc lựu đạn mỏ vịt nổ tung ngay trên miệng cống xả đập tràn. Tiếp theo là tràng súng shotgun liên tiếp ba phát. Tiếng vỏ đạn kim loại rơi lách cách trên mặt đường nhựa dội qua khe thông gió kỹ thuật.
"Trịnh Văn Phát," Hoàng thở dốc, giọng nghẹn lại sau làn nước ngập tới ngực. "Hắn đang dồn thằng bé áo mưa đen vào chân đập."
Tôi dừng bước, xoay người lại. Đèn pin chiếu thẳng vào mặt Khiêm.
Lão tướng công an ngẩng đầu lên, bờ môi tím tái nhếch thành một nụ cười méo mó tàn độc. Máu từ vết thương trên vai lão chảy dọc sống lưng thành dòng sẫm màu.
"Chúng mày tưởng... thoát được à?" Khiêm phì phò qua kẽ răng, giọng the thé như tiếng kim loại cào vào kính. "Thằng Phát... nó mang theo cả một trung đội đặc nhiệm ngụy trang công nhân giao thông. Nó không để một đứa nào... bước ra khỏi cái thung lũng Khánh Vĩnh này đâu. Tao chết... thì chúng mày cũng thành tro dưới đáy vực thôi..."
Hoàng không nói một lời. Cậu ta siết chặt ngón tay vào quai chiếc túi dù, nơi chứa cuốn nhật ký bìa da của Huỳnh Trí Cao, cuộn băng cassette của Luân 'Mã Tấu' và nửa bản hợp đồng gốc năm 2004 có dấu vân tay máu của Mai Thị Ngọc Lan.
Ánh mắt Hoàng đỏ ngầu. Trong đáy mắt người đội trưởng trọng án từng một thời kiêu hãnh ấy, tôi nhìn thấy sự sụp đổ hoàn toàn của một bức tượng đài. Cha cậu ta, Thượng tá Lê Văn Bản, cả đời mang danh liêm khiết, cuối cùng cũng chỉ là một con rối bị Khiêm và Phát giật dây bằng chiếc va-ly hai trăm triệu cứu mạng vợ. Một chữ ký khống nghiệm thu phòng cháy đổi lấy mạng sống của một người đàn bà, rồi người đàn bà ấy vẫn chết trên bàn mổ ở Singapore, còn tám đứa trẻ vô tội biến thành than vụn.
Một món nợ máu không bao giờ gột rửa được.
Dòng nước dưới chân tôi đột ngột dâng cao thêm một tấc, chảy xiết hơn. Những mảng bèo tây và cành thông gãy trôi dạt vào ngực buốt nhức. Mực nước đập tràn đang xả đáy theo chu kỳ tự động.
Tôi hụt chân.
Lớp đá cuội trơn tuột dưới đáy cống sụp xuống một hố xoáy ngầm. Cả cơ thể tôi chìm nghỉm vào dòng nước đen ngòm lạnh ngắt. Áp lực nước ép mạnh vào lồng ngực gãy vụn làm cơn đau bùng lên dữ dội, xé toạc từng thớ cơ. Nước suối tràn vào mũi, mặn chát vị bùn và máu.
Theo một phản xạ đã ăn sâu vào xương tủy suốt sáu năm làm lính hình sự, tay trái tôi quờ quạng vung ra phía sau, tìm kiếm một bờ vai quen thuộc để bọc lót chốt chặn.
Không có ai ở đó.
Khoảng trống lạnh buốt của dòng nước ngầm dội thẳng vào lòng bàn tay tôi.
Ba năm trước, ở con hẻm cụt ngập bùn cống rãnh Cầu Muối, Tuấn đã đứng ở đúng vị trí bọc lót ấy trước khi loạt đạn hoa cải của đám buôn người xé nát ngực cậu ta. Ba năm nay, tôi chưa từng xóa số điện thoại của Tuấn trong danh bạ chiếc Nokia cũ, cũng chưa từng cho phép bất kỳ ai đứng ở vị trí yểm trợ phía sau lưng mình thêm một lần nào nữa.
Một bàn tay thô ráp, cứng như gọng kìm sắt túm chặt lấy cổ áo khoác của tôi, giật ngược lên khỏi mặt nước.
Tôi ho sặc sụa, khạc ra một ngụm đờm đen lẫn máu đặc dính vào vách bê tông.
"Anh Vũ! Tỉnh lại!" Tiếng Hoàng quát bên tai, át cả tiếng gầm rú của dòng nước xả.
Tôi chớp mắt xua đi màn sương mờ đục đang phủ lấy đồng tử, vịn tay vào gờ cống đứng thẳng dậy. Tôi không nhìn Hoàng, chỉ đưa mu bàn tay ướt sũng lau ngang cằm, giọng lạnh tanh cợt nhả:
"Mẹ kiếp. Mấy thằng công binh thiết kế cái cống này quên làm tay vịn cho người tàn tật rồi."
Lớp vỏ bọc cộc cằn lập tức đóng sập lại. Cơn đau nơi ngực trái được tôi nén chặt xuống đáy dạ dày cùng ngụm nước suối buốt giá. Tôi không có thời gian để thương xót cho chính mình, càng không có quyền gục ngã ở cái xó cống ngầm không có ánh sáng mặt trời này.
"Đi tiếp," tôi nói cộc lốc, đẩy khẩu K54 lên khỏi mặt nước, kiểm tra hộp tiếp đạn. Năm viên. Đủ cho một cuộc thanh toán cự ly gần. "Ba Cháy đang đợi ở chân cầu sắt hạ lưu sông Cái. Nếu chúng ta không ra kịp trước khi cửa xả chính mở hết công suất, toàn bộ cái cống này sẽ biến thành ống phóng thủy lực nghiền nát xương."
Chúng tôi lầm lũi tiến về phía trước thêm hai trăm mét.
Độ dốc của lòng cống bắt đầu hạ thấp dần. Tiếng nước gầm phía sau nhỏ lại, nhường chỗ cho âm thanh rả rích của mưa rừng và tiếng gió hú qua các khe đá ngoài cửa xả.
Nhưng ngay tại khúc quanh cuối cùng trước khi thông ra hạ lưu sông Cái, một vật cản kim loại khổng lồ chắn ngang toàn bộ lòng cống.
Đó là cửa van chắn rác bằng thép phi 20 đan hình mắt cáo, cao hơn hai mét, ngập sâu dưới bùn cát. Phía trên cánh cửa sắt là một sợi xích to bản khóa chặt bằng một ổ khóa đồng công nghiệp phủ đầy rêu phong và hà bám.
"Mắc kẹt rồi," Hoàng thở dốc, soi đèn pin vào then khóa rỉ sét. "Cửa này chỉ mở từ phòng điều khiển trên đập chính."
"Không cần phòng điều khiển," tôi lội tới mép cửa sắt, dùng báng súng K54 gõ mạnh vào thân khóa. Tiếng kim loại vang lên đùng đục. "Ổ khóa này bị ẩm hai mươi năm rồi. Lõi đồng bên trong đã mục."
Tôi quay sang nhìn Đỗ Khắc Khiêm. Lão đang dựa lưng vào vách bê tông thở dốc, đôi mắt lờ đờ nhìn dòng nước dưới chân.
"Hoàng, đưa cây xà beng mini trong ba lô cứu hộ đây."
Tôi luồn thanh thép tôi cứng vào giữa hai vòng xích, tì một đầu vào gờ bê tông chịu lực, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể và cơ bụng còn lành lặn nghiến mạnh xuống. Cơn đau từ hai xương sườn gãy bùng lên như có ai cắm một thanh sắt nung đỏ vào phổi. Tôi cắn chặt môi dưới đến bật máu tươi, không cho phép một tiếng rên nào lọt ra ngoài.
RẮC!
Càng khóa đồng gãy đôi dưới lực đòn bẩy. Đoạn xích sắt nặng trịch rơi tõm xuống nước.
Tôi đẩy mạnh cánh cửa sắt gỉ sét mở hé ra một khoảng rộng vừa một người chui lọt. Gió lạnh từ thung lũng sông Cái lập tức thốc thẳng vào mặt, mang theo mùi sương mù đặc quánh và hơi ẩm ngai ngái của cỏ dại ven sông.
Đúng khoảnh khắc chúng tôi vừa bước ra khỏi miệng cống ngầm, bước chân lên bãi bồi sỏi đá lởm chởm dưới chân đèo Khánh Lê, chiếc điện thoại vệ tinh bọc trong túi chống nước gắn bên hông tôi rung lên bần bật.
Tôi giật phăng lớp túi nilon, bấm nút nghe.
"Anh Vũ!" Giọng thằng Tí Bo rít qua loa thoại vệ tinh, xen lẫn tiếng gõ bàn phím điên cuồng và tiếng rè rè của sóng vô tuyến bị can thiệp. "Xe của Ba Cháy đã vào vị trí ở trụ cầu sắt cũ km 38! Nhưng có biến lớn rồi! Tín hiệu định vị của chiếc xe tải bọc thép mười hai tấn vừa di chuyển từ km 33 xuống ngã ba đường dân sinh dẫn thẳng vào bãi xả hạ lưu!"
"Nói ngắn gọn," tôi thở dốc, mắt quét qua màn sương mù dày đặc đang bao phủ mặt sông Cái.
"Trịnh Văn Phát không ở lại đập Yang Ly!" Tí Bo hét lên trong máy. "Hắn để lại sáu tên lính cơ động chặn thằng bé áo mưa đen ở chân đập, còn bản thân hắn dẫn đầu chiếc xe bọc thép đi đường vòng tắt qua rừng keo xuống đón đầu các anh ở cửa xả! Hắn biết các anh chỉ có duy nhất một đường thoát ra sông Cái!"
Tôi chưa kịp đáp lời thì một âm thanh cơ khí quen thuộc xé toạc màn sương mù tĩnh lặng của thung lũng.
Tiếng động cơ diesel hạng nặng mười hai tấn gầm rú như một con thú dữ bị thương. Ánh đèn pha công suất cực đại màu vàng đục từ chiếc xe tải bọc thép quét ngang qua rặng lau sậy rậm rạp bên bờ sông, chiếu thẳng vào cửa cống ngầm nơi bốn người chúng tôi đang đứng chôn chân.
Cách chúng tôi chưa đầy một trăm mét, chiếc xe bọc thép gắn khung gạt kim loại đè bẹp những bụi cây rừng, trườn tới như một khối sắt di động.
Trên thùng xe mở toang, Đại tá Trịnh Văn Phát đứng sừng sững trong chiếc áo măng-tô đen đẫm nước mưa. Trên tay hắn là khẩu shotgun nòng ngắn cưa báng, ngón tay đặt sẵn vào vành cò, nòng súng đen ngòm lạnh lùng chĩa thẳng vào ngực tôi.
Bên cạnh hắn, hai tay súng mặc đồ bảo hộ màu đen giương hai khẩu tiểu liên MP5 khóa chặt đường rút lui ra bờ sông.
"Hết đường chạy rồi, Trần Vũ," giọng Phát vang lên qua chiếc loa phóng thanh gắn trên nóc xe bọc thép, âm trầm và lạnh tanh như tiếng đá lăn dưới vực sâu. "Ném cái túi da dù và hai can phạm ra trước mũi xe. Tao sẽ cho mày và thằng con trai của Lê Văn Bản một phát đạn ân huệ vào thái dương để khỏi phải chết đuối thối rữa dưới lòng sông này."
Lê Hoàng lập tức nâng khẩu súng bắn tỉa lên ngang tầm mắt, tia laser đỏ từ kính ngắm rọi thẳng vào giữa trán Trịnh Văn Phát. Nhưng hai tay súng tiểu liên của Phát đã nhanh hơn nửa nhịp, tiếng lên đạn lách cách vang lên đồng loạt trong màn mưa.
Khoảng cách một trăm mét. Không có vật che chắn. Chúng tôi đứng giữa bãi bồi trống trải, sau lưng là cửa cống ngầm xả lũ, trước mặt là cỗ xe bọc thép và ba họng súng tử thần.
Một tình thế không có đường lùi.
Gió từ sông Cái thốc mạnh làm tà áo rách bươm của tôi dán chặt vào da thịt lạnh buốt. Tôi buông thõng bàn tay cầm khẩu K54 bên hông, ngón tay miết nhẹ lên năm viên đạn chì cuối cùng trong băng.
Nhưng đúng lúc Trịnh Văn Phát chuẩn bị hạ lệnh khai hỏa, từ mỏm đá cao chót vót nhô ra trên miệng cống xả đập Yang Ly phía sau lưng chúng tôi, một vệt sáng chói lòa bùng lên xé toạc màn sương mù xám xịt.
Không phải tiếng súng.
Đó là âm thanh lảnh lót, trong veo đến rợn người của một bài hát thiếu nhi thập niên 2000 phát ra từ một chiếc máy phóng thanh cầm tay, vang vọng khắp hẻm núi đèo Khánh Lê:
"Mặt trời hồng tươi... soi sáng nụ cười... Đàn chim tung cánh bay qua đồi thông..."
Bài hát truyền thống của Mái ấm Hướng Dương.
Trịnh Văn Phát khựng lại. Nòng súng shotgun trên tay hắn hơi hạ xuống nửa tấc. Gương mặt sắt đá của gã Đại tá Công an thành phố lần đầu tiên giật giật cơ mặt dưới ánh đèn pha, để lộ một nét kinh hoàng nguyên thủy từ đáy sâu ký ức hai mươi năm trước.
Trên đỉnh mỏm đá ngập tràn rêu phong và nước suối đổ, bóng đen mặc áo mưa trùm kín đầu đứng sừng sững giữa trời mưa gió.
Trong tay trái của kẻ giấu mặt không phải là một khẩu súng bắn tỉa.
Đó là một quả lựu đạn cháy phốt-pho đã rút chốt an toàn, ngọn lửa mồi màu xanh lơ ma quái đang rít lên phì phò, nhỏ từng giọt hóa chất nung đỏ xuống phiến đá hoa cương.
Kẻ áo mưa đen giơ bàn tay phải lên, hướng về phía chiếc xe bọc thép của Trịnh Văn Phát, chậm rãi gõ ba nhịp ngón tay trỏ vào khoảng không trung lạnh giá.
Cộc. Cộc. Cộc.
Một bản án tử hình tối hậu vừa điểm nhịp giữa giao lộ mờ sương.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.