Chương 36: Lửa Trắng Ven Sông
Tiếng nhạc thiếu nhi rè rè phát ra từ cái loa cầm tay trên mỏm đá nghe như tiếng ma gáy giữa ban ngày. Giai điệu bài hát truyền thống của Mái ấm Hướng Dương hai mươi năm trước, trong trẻo và ngây ngô, bị ép qua màng loa rách nát trở thành một chuỗi âm thanh méo mó, rợn gáy.
Ba nhịp gõ khô khốc vang lên ngay sau đó.
Cộc. Cộc. Cộc.
Ngón trỏ của kẻ mặc áo mưa đen gõ nhịp nhàng lên thân kim loại của quả lựu đạn phốt-pho. Chốt an toàn đã nằm dưới chân hắn từ bao giờ.
Trên thùng chiếc xe bọc thép mười hai tấn, mặt Trịnh Văn Phát co giật. Cái vẻ đĩnh đạc của một viên đại tá công an dạn dày trận mạc bốc hơi sạch bách, chỉ còn lại sự hung hãn của một con thú săn mồi vừa ngửi thấy mùi bẫy sập.
- Bắn! Bắn chết mẹ nó cho tao!
Phát gầm lên, chĩa thẳng nòng súng ngắn shotgun lên mỏm đá cao hơn sáu mét. Hai tay súng mặc giáp chống đạn đứng cạnh hắn lập tức xoay nòng tiểu liên MP5 lên trời.
Đó là một sai lầm chết người. Kẻ đứng trên cao không hề có ý định đấu súng.
Cánh tay trùm vải nhựa đen vung ra một đường cong lạnh lùng. Khối kim loại hình trụ màu xám xịt rít lên một tiếng xé gió, rơi thẳng tắp xuống ngay trước kính chắn gió của chiếc xe bọc thép.
Không có tiếng nổ đanh như lựu đạn phá mảnh thông thường. Thứ phát ra là một tiếng "xì" cực lớn, giống như người ta tạt cả gáo nước lạnh vào chảo mỡ sôi sùng sục.
Một quầng sáng trắng lóa bùng lên, chói mắt đến mức nuốt chửng cả khúc sông Cái đang cuộn sóng. Khói phốt-pho trắng đậm đặc, dày như cháo đặc, cuồn cuộn trào ra, mang theo mùi tỏi thối và lưu huỳnh nồng nặc làm cháy rát niêm mạc mũi. Nhiệt độ bãi bồi tăng vọt trong tích tắc. Lửa phốt-pho bám vào nắp ca-pô xe bọc thép, ăn thủng lớp sơn tĩnh điện, gặm nham nhở vào tận gioăng cao su kính chắn gió, tỏa ra thứ nhiệt lượng lên tới cả ngàn độ C.
- Cúi xuống! - Lê Hoàng gầm lên, giật mạnh gáy áo tôi dìm xuống sau một tảng đá cuội phủ đầy rêu nhớt.
Tiếng shotgun của Trịnh Văn Phát nổ chát chúa, nhưng chùm đạn ghém chỉ cày nát vách đá hoa cương phía trên, làm đá dăm rơi rào rào xuống lòng sông. Đám lính cơ động bên dưới gào thét hoảng loạn khi làn khói trắng phủ kín tầm nhìn. Lửa phốt-pho bắn tung tóe như những giọt tàn nhang rực sáng, chạm vào đâu là bốc cháy ngùn ngụt tới đó, nước suối bắn lên chỉ làm nó phản ứng mạnh hơn.
- Chạy! Ra hướng hạ lưu! - Tôi hét qua tiếng rít của hóa chất cháy, miệng ộc ra một ngụm đờm lẫn máu tươi.
Hai cái xương sườn gãy bên ngực trái cọ vào nhau lục cục, nhói buốt như có ai thọc mũi kéo cùn vào phổi. Tôi không có thời gian để thở. Tôi túm chặt lấy cổ áo khoác của bà Mai Thị Ngọc Lan, lôi xềnh xệch người đàn bà đang rúm ró vì sợ hãi qua bãi đá cuội trơn tuột. Lan vừa bò vừa lảm nhảm những câu vô nghĩa, bùn non bết đầy mặt mũi, móng tay sơn đỏ cào rách cả da mu bàn tay tôi.
Phía sau, Lê Hoàng một tay kẹp nách Đỗ Khắc Khiêm, tay kia cầm khẩu súng ngắn K54 quét về phía màn khói trắng. Khiêm đã xám ngoét như một xác chết trôi sông, cánh tay trái gãy buông thõng đung đưa theo từng bước giật cục, nhưng đôi mắt chim ưng của lão vẫn mở trừng trừng, hằn lên những tia máu đỏ lòm.
- Trần Vũ... bỏ tao ra... - Lan giãy giụa, nước mắt nước mũi nhầy nhụa trên lớp phấn trang điểm đắt tiền. - Tài khoản ở Thụy Sĩ... tao cho mày hết... năm mươi triệu đô... cứu tao...
- Câm họng lại nếu bà không muốn bị luộc chín bằng phốt-pho! - Tôi nghiến răng, giật mạnh khiến bà ta chúi nhủi về phía trước.
Một loạt đạn MP5 bắn mù quáng xuyên qua màn khói trắng. Đạn găm phầm phập vào mặt nước, làm nước suối bắn tung tóe thành những cột trắng xóa. Tôi nghe tiếng Trịnh Văn Phát ho sặc sụa, tiếng gã chửi thề qua chiếc loa phóng thanh đã bị lửa nướng méo mó:
- Vây chặt chân đèo! Chúng nó không qua được sông đâu!
Tôi không quay đầu lại. Giữa bãi bồi sỏi đá trơ trọi không một bóng cây, chỉ cần một phát đạn lạc là đủ để biến công sức của cả chục con người thành tro bụi.
Dòng sông Cái mùa mưa tháng Bảy chảy xiết như ngựa đứt cương. Nước đục ngầu phù sa đỏ quạch, dâng cao tới tận thắt lưng. Dưới đáy là những tảng đá mồ côi tròn nhẵn trơn như mỡ cá.
Lê Hoàng đẩy Đỗ Khắc Khiêm xuống mép nước. Lực nước cuộn lập tức cuốn phăng chân lão trung tướng. Khiêm ặc lên một tiếng, đầu chìm nghỉm dưới làn sóng đục. Hoàng phải nghiến răng, dùng hết sức bình sinh túm lấy quai áo giáp của lão giật ngược lên.
- Vũ! Đỡ lấy lão! - Hoàng hét, tiếng bị tiếng gầm của dòng sông nuốt chửng một nửa.
Tôi bước hụt một bước. Bàn chân thụt sâu vào một hốc đá ngầm. Cơn đau từ mạng sườn xộc thẳng lên đại não làm tầm nhìn của tôi tối sầm lại trong nửa giây. Theo quán tính sinh tồn suốt sáu năm làm lính trinh sát, bàn tay trái của tôi vung ngược ra phía sau, ngón tay quờ quạng tìm một bờ vai quen thuộc để lấy điểm tựa bọc lót.
Khoảng không trống rỗng.
Chỉ có bọt nước buốt giá tạt rát mặt và tiếng gió rít qua khe núi Khánh Vĩnh. Không có Đại úy Tuấn đứng ở vị trí chốt chặn số hai như ba năm trước ở hẻm Cầu Muối. Chẳng có ai ở đó cả.
Tôi nuốt khan một ngụm máu tanh tưởi trào lên cuống họng, quệt mu bàn tay dính bùn cống ngang miệng rồi chửi đổng một câu cộc lốc:
- Mẹ kiếp.
Lớp vỏ bọc chai sạn lập tức sập xuống, khóa chặt cái hố đen vừa nứt ra trong lồng ngực. Tôi chộp lấy cổ áo Đỗ Khắc Khiêm, cùng Hoàng kéo lê tấm thân nặng trịch của lão qua đoạn nước sâu nhất.
Bà Lan lóp ngóp bò theo sau, bám chặt vào thắt lưng da của tôi như một kẻ chết đuối bám cọc gỗ mục.
Sau lưng chúng tôi, mỏm đá miệng cống xả đã hoàn toàn chìm trong khói độc màu trắng. Chiếc xe bọc thép mười hai tấn rú ga điên cuồng, nhưng hai lốp trước bị phốt-pho thiêu chảy rụi đã khiến cỗ xe nặng nề trượt bánh trên lớp bùn nhão, nghiêng hẳn sang một bên mép vực bãi bồi. Tiếng gầm rú của động cơ diesel bị bóp nghẹt bởi những tiếng nổ lép bép của kim loại giãn nở vì nhiệt.
Kẻ mặc áo mưa đen đã biến mất. Trên mỏm đá chỉ còn lại chiếc loa phóng thanh đang phát những nốt nhạc cuối cùng của bài đồng ca Mái ấm Hướng Dương, trước khi bị một tảng đá lở đè bẹp dí.
Chúng tôi vật lộn với dòng nước xiết suốt mười lăm phút. Mười lăm phút dài như cả một thế kỷ trôi qua dưới đáy địa ngục.
Khi bàn chân tôi chạm vào bãi cát bồi bên bờ nam sông Cái, hai đầu gối tôi hoàn toàn mất cảm giác. Tôi quăng Đỗ Khắc Khiêm lên một đám cỏ tranh rậm rạp rồi ngã vật ra lớp sỏi ướt, lồng ngực phập phồng như chiếc ống bễ rách.
Hoàng kéo Mai Thị Ngọc Lan lên bờ. Người đàn bà giàu có bậc nhất đất Sài Gòn lúc này trông không khác gì một mụ ăn mày chết trôi: tóc tai rũ rượi bết chặt vào má, bộ đồ lụa hàng hiệu rách tả tơi để lộ những mảng da bầm tím vì va đập vào đá ngầm.
Lê Hoàng rút khẩu súng ngắn ra, tháo băng đạn kiểm tra. Còn đúng ba viên. Cậu ta ngồi bệt xuống cạnh tôi, ngửa đầu nhìn lên vòm lá keo rừng ướt đẫm nước mưa, lồng ngực giật từng cơn ngắt quãng.
- Khối u ở tủy của mẹ tôi... - Hoàng đột ngột lên tiếng, giọng khàn đặc như tiếng kim loại cọ vào đá mài. - Ngày ông Bản mang chiếc va-ly hai trăm triệu về nhà, mẹ tôi đã không còn nhận ra ai nữa rồi. Bệnh viện Changi trả về sau đúng bốn mươi tám tiếng.
Cậu ta không nhìn tôi. Cậu ta nhìn chằm chằm vào một giọt nước đang đọng lại trên đầu ruồi khẩu K54.
Tôi không đáp. Tôi thọc tay vào túi áo khoác chống nước, rút bao thuốc lá Thăng Long đã ướt sũng nửa góc. Rút một điếu méo mó nhét lên môi, tôi bật chiếc hộp quẹt gas bằng ngón tay run rẩy. Đánh lửa ba lần, que đá mới chịu nhả ra một đốm lửa vàng le lói.
Tôi rít một hơi thật sâu. Khói thuốc khét lẹt xộc vào phổi, xua đi phần nào cái mùi tanh tưởi của bùn cống và mùi lưu huỳnh còn ám trên da áo.
- Ông già cậu đã trả giá bằng một cơn đột tử trên bàn làm việc - Tôi nhả khói qua kẽ răng, giọng cộc lốc. - Còn thằng đang nằm đằng kia thì chưa.
Tôi hất đầu về phía Đỗ Khắc Khiêm.
Lão trung tướng nằm ngửa giữa đám cỏ tranh, hơi thở khò khè như bọng đái lợn bị chọc thủng. Một bên vai áo của lão đẫm máu đen đặc, miệng méo xệch nhưng con mắt còn lại vẫn nhìn chúng tôi với vẻ giễu cợt đầy cay độc.
- Tụi mày... nghĩ... đưa được tao về Sài Gòn à? - Khiêm thều thào qua hàm răng đánh vào nhau lập cập vì lạnh. - Thằng Phát... nó nắm trọn... Công an tỉnh... Tụi mày chỉ là... mấy con chuột cống...
- Chuột cống thì cũng đủ răng để cắn đứt cuống họng ông - Tôi chống gối đứng dậy, đá nhẹ vào mũi giày da bết bùn của lão. - Ngậm miệng lại để giữ lấy chút hơi tàn mà hầu tòa.
Cách vị trí chúng tôi khoảng ba trăm mét về phía hạ lưu, dưới bóng mờ của cây cầu sắt cũ km 38, một đốm đèn gầm màu vàng chớp tắt ba nhịp ngắn.
Tín hiệu của Ba Cháy.
Lê Hoàng đứng bật dậy, xốc nách Đỗ Khắc Khiêm lên vai. Tôi nắm cổ tay Mai Thị Ngọc Lan, kéo giật bà ta đứng thẳng. Bốn cái bóng xiêu vẹo lầm lũi tiến vào rừng keo ven bờ sông Cái, bám theo lối mòn của dân đi trầm để tiếp cận chân cầu sắt.
Dưới gầm cầu rỉ sét loang lổ vết thời gian, chiếc xe tải mười tấn phủ bạt xanh mang biển kiểm soát 49C-118.92 đang nổ máy cầm chừng. Mùi dầu diesel cháy dở và mùi ngai ngái của rau su su bốc ra từ thùng xe nồng nặc.
Ba Cháy đứng dựa lưng vào bánh xe sau, ngậm tẩu thuốc bằng gỗ mù u, hai tay đút sâu vào túi áo khoác bò bạc phếch. Thấy chúng tôi bước ra từ rặng tre gai, gã lập tức gõ tẩu thuốc vào lốp xe, bước nhanh tới đỡ lấy Đỗ Khắc Khiêm.
- Vừa kịp - Ba Cháy nói cộc lốc, giọng trầm đục. - Đội CSGT trạm Diên Khánh vừa dựng rào phong tỏa đầu cầu đèo bên Khánh Hòa cách đây mười phút. Thằng Tí Bo vừa bắn tin qua bộ đàm vệ tinh.
- Hạ Băng và thằng Đăng thế nào rồi? - Tôi hỏi, giọng khô khốc.
- Qua khỏi đèo Tà Nung an toàn rồi. Bác sĩ Băng đang giữ thằng nhỏ ở một trạm xá tư nhân kín đáo dưới Bảo Lộc. Thằng Đăng thở được rồi, nhưng chưa tỉnh hẳn.
Ba Cháy vừa nói vừa mở chốt thùng xe tải. Bên trong, giữa những sọt bắp cải và đá cây giữ lạnh, là một khoang rỗng được che chắn khéo léo bằng các tấm xốp cách nhiệt dày cộp.
Lê Hoàng đẩy Đỗ Khắc Khiêm và Mai Thị Ngọc Lan vào sâu bên trong khoang rỗng. Người đàn bà đổ sụp xuống sàn gỗ ướt lạnh, run rẩy thu mình vào một góc tối tăm giữa những bao tải rau dại. Khiêm tựa lưng vào vách thùng xe, nhắm nghiền mắt lại, lẩm bẩm những lời nguyền rủa vô vọng.
Tôi trèo lên bậc thềm thùng xe, với tay lấy chiếc túi da dù chống nước mà Lê Hoàng đang giữ chặt bên người.
Kéo khóa túi. Bên trong là cuốn nhật ký bìa da đen của Huỳnh Trí Cao, cuộn băng cát-sét ghi âm trăn trối của Luân "Mã Tấu", nửa bản hợp đồng Bên B rách mép thu hồi từ bức tượng thạch cao ở Grand Palace, và bản sao kê ủy nhiệm chi hai trăm triệu năm 2004 có chữ ký tươi của Mai Thị Ngọc Lan.
Những mảnh ghép bằng giấy ố vàng và mực tím. Hai mươi năm tội ác, tám mạng người chết cháy, một đồng đội nằm gai nếm mật ba năm dưới mộ sâu, tất cả gói gọn trong một bọc tài liệu nặng chưa đầy hai ký lô.
Đúng lúc đó, chiếc điện thoại vệ tinh cục gạch trong túi áo khoác của tôi rung lên bần bật.
Màn hình đơn sắc hiện lên một dãy số lạ được chuyển hướng qua máy chủ nội bộ.
Tôi bấm nút nhận, áp ống nghe vào tai. Tôi không nói gì. Giữa cái thế giới bẩn thỉu này, kẻ mở miệng trước luôn là kẻ nắm đằng lưỡi.
Đầu dây bên kia im lặng suốt ba giây. Chỉ có tiếng rè rè của sóng ngắn và tiếng gõ lách cách của bàn phím máy tính.
Rồi một giọng nói quen thuộc vang lên, trầm tĩnh, lạnh lùng, nhưng nhịp thở có phần nông và gấp gáp:
- Anh Vũ.
Là trinh sát Nguyễn Minh Đăng. Cậu ta đã tỉnh lại ở trạm xá Bảo Lộc.
- Tôi nghe - Tôi đáp cộc lốc.
- Đừng đi theo Quốc lộ 1 về Sài Gòn - Đăng nói, từng chữ rành rọt như được đọc từ một bản kế hoạch đã lập sẵn trong đầu. - Trịnh Văn Phát không chỉ báo động cho Lâm Đồng và Khánh Hòa. Hắn đã gửi một công điện khẩn cấp đến Cục Cảnh sát Hình sự, vu cho anh và Đội trưởng Hoàng tội danh cấu kết với tổ chức phản động lưu vong dùng vũ khí quân dụng tấn công lãnh đạo Bộ.
- Tôi biết rồi - Tôi quẹt tàn thuốc xuống sàn xe. - Lão Khiêm và con mụ Lan đang nằm trong thùng xe của tôi. Tôi sẽ mang họ về tận bàn làm việc của Viện Kiểm sát Tối cao.
Một khoảng lặng ngắn ngủi kéo dài qua đường truyền vệ tinh.
Rồi tiếng Đăng lại vang lên, lần này trầm xuống một tông, mang theo một thứ âm sắc kỳ lạ khiến sống lưng tôi khẽ lạnh đi:
- Anh Vũ này... Anh có nhớ cuốn sổ điểm danh năm 2004 của Mái ấm Hướng Dương không?
Tôi nhíu mày, hai xương sườn gãy lại co rút buốt nhói:
- Nhớ. Mười đứa trẻ. Tám đứa chết cháy. Hai đứa thoát. Cậu là một trong hai đứa đó.
- Không - Đăng đáp cụt lủn, giọng phẳng lặng như mặt nước hồ không đáy. - Đêm đó có mười một đứa.
Tôi khựng lại. Bàn tay đang cầm điếu thuốc dừng lại giữa không trung.
- Mười một? - Tôi gặng hỏi.
- Đứa thứ mười một không có tên trong sổ hộ khẩu của mái ấm. Nó là con riêng của chị bảo mẫu Nguyễn Mai Lan, mới được ba tháng tuổi, được chị ấy giấu trong nôi mây sau chái bếp. Khi Đinh Trọng Phúc đổ năm lít xăng vào cửa sau, ngọn lửa đã bắt vào cái nôi đầu tiên.
Đăng dừng lại một nhịp. Qua ống nghe, tôi nghe thấy rõ ràng tiếng ngón tay trỏ của cậu ta vô thức gõ ba nhịp nhẹ lên mặt bàn gỗ trạm xá:
Cộc. Cộc. Cộc.
- Đứa bé đó không chết cháy, anh Vũ. Có người đã bế nó ra khỏi ngọn lửa trước khi mái nhà sập xuống. Nhưng người bế nó đi... không phải là chú Trí hay chú Tuấn.
Tim tôi đập hụt một nhịp. Cảnh tượng kẻ mặc áo mưa đen đứng trên mỏm đá miệng cống xả Yang Ly, ném quả lựu đạn phốt-pho cứu mạng chúng tôi rồi biến mất vào rừng sâu bỗng hiện về rõ mồn một.
- Ai? - Tôi gằn giọng.
- Người giữ con dấu vàng đêm mười hai tháng mười một năm hai mươi năm trước - Đăng thì thầm, hơi thở cậu ta dường như dính chặt vào màng nhĩ tôi. - Kẻ đã ký vào bản hợp đồng Bên C để nhận hai mươi phần trăm cổ phần... không chỉ có một mình Trịnh Văn Phát.
Tiếng tút dài vô hồn vang lên cắt đứt cuộc gọi.
Tôi từ từ hạ chiếc điện thoại xuống, nhìn đăm đăm vào màn sương mù dày đặc đang bắt đầu tràn xuống từ đỉnh đèo Khánh Lê, phủ trắng xóa cả dòng sông Cái bên dưới chân cầu sắt.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.