Giao Lộ Mờ Sương

Chương 37: Lưới Thép Ven Sông

Đăng: 17/08/2026 21:45 3,371 từ 2 lượt đọc

Mùi bắp cải ủng lẫn với mùi bùn non sông Cái đặc quánh lại trong khoang lạnh tám độ C.

Tôi ngồi bệt trên một bao tải củ dền, lưng tựa vào vách tôn lạnh ngắt. Mỗi nhịp xe nảy qua ổ gà dưới chân cầu sắt km 38 là một cú thúc thẳng vào hai dẻ sườn số sáu và số bảy bên ngực trái. Nó không đau buốt kiểu da thịt bị rách, mà đau cùi cụi, nhức nhối tận màng xương, như thể có một gã thợ rèn đang dùng kìm kẹp chặt lấy cuống phổi rồi vặn từng vòng.

Tôi khạc một bãi đờm lẫn máu đen vào góc sàn xe, tiện chân gạt một nắm lá rau giập vùi lên.

Bao diêm Thống Nhất trong túi áo ngực đã ngấm nước lũ, đầu que diêm mềm nhũn. Tôi quẹt đến que thứ ba trên gờ đá lửa của chiếc bật lửa hỏng ga mới bốc lên được một đốm lửa vàng le lói. Điếu Thăng Long méo mó bén khói, rít một hơi sâu, khói thuốc cay xè xộc thẳng vào khí quản rách tẩm đẫm vị rỉ sét.

Ở góc đối diện, Đỗ Khắc Khiêm đang ngồi bó gối.

Chiếc áo sơ mi trắng cộc tay của viên Trung tướng Thứ trưởng giờ bết đầy bùn đỏ và máu đen khô cứng. Cánh tay trái bị trật khớp buông thõng giữa hai đùi, ngón tay sưng húp tím ngắt như quả chuối ngự thối. Vết đạn bắn tỉa của Lê Hoàng xé toạc bả vai phải vẫn rỉ từng giọt huyết thanh hồng nhạt qua lớp băng gạc dã chiến tôi vừa siết vội bằng dây dù.

Gương mặt từng xuất hiện trên bản tin thời sự tám giờ tối với những bài phát biểu đanh thép về kỷ cương pháp luật giờ đây xám ngoét, râu ria lởm chởm, môi khô nứt nẻ thành từng vệt rỉ máu. Nhưng đôi mắt ông ta thì chưa chết. Nó vẫn đùng đục, giễu cợt và sâu hoắm như đáy một cái giếng bỏ hoang.

"Mày hút thứ thuốc rẻ tiền này mà vẫn sống được đến ba mươi lăm tuổi à, Vũ?"

Giọng Khiêm khản đặc, nghẹt tiếng rít của dịch ứ đọng trong thanh quản.

Tôi không đáp. Tôi phả một luồng khói xanh mỏng qua khe răng, mắt nhìn chằm chằm vào chiếc túi da dù đặt giữa hai đầu gối.

Bên trong chiếc túi đó là tất cả những gì còn sót lại của hai mươi năm bùn lầy: cuốn nhật ký bìa da đen của Huỳnh Trí Cao với từng dòng ghi chép chi tiết về các khoản phần trăm bôi trơn; cuộn băng cát-sét mini của Luân 'Mã Tấu' thu âm trước khi gã bị dìm xác xuống hồ Trị An; nửa bản hợp đồng Bên B rách mép mang con dấu dã quỳ của Mai Thị Ngọc Lan; và tờ sao kê ủy nhiệm chi hai trăm triệu đồng năm 2004 có chữ ký tươi của người đàn bà đang co rúm ở góc kia.

Bà Mai Thị Ngọc Lan ngồi nép sát sau lưng Lê Hoàng, hai tay ôm chặt lấy đầu gối, cả người run bần bật theo từng cơn rung của động cơ mười tấn. Chiếc áo lụa đắt tiền rách bươm, khuôn mặt trát phấn dày cộm giờ nhòe nhoẹt bùn đất và nước mắt, trông chẳng khác nào một con ma nộm vừa bị lôi ra khỏi huyệt mộ. Cứ cách vài phút, bà ta lại lẩm bẩm một tràng vô nghĩa về chiếc két sắt ở Thụy Sĩ, về năm mươi triệu đô la, rồi giật nảy mình khi tiếng sắt thép va đập dưới gầm xe vang lên.

Cánh cửa trượt thông giữa buồng lái và khoang đông lạnh khẽ kêu cọt kẹt. Gương mặt vuông vức đầy sẹo của Ba Cháy thò vào qua khe hẹp, mang theo mùi dầu luyn khét lẹt.

"Vũ. Tình hình căng rồi."

Ba Cháy nói nhanh, giọng gằn xuống sau râu mép lởm chởm. "Thằng nhỏ Tí Bo vừa bắn tin qua bộ đàm vệ tinh. CSGT trạm Diên Khánh đã kéo rào thép gai phong tỏa toàn bộ nhánh rẽ ra Quốc lộ 1 đoạn chân đèo. Chúng nó điều ba xe tuần tra cắm chốt ngay ngã ba Suối Cát, kiểm tra toàn bộ xe tải trên năm tấn. Có cả hai tổ Cảnh sát Cơ động mang súng tiểu liên báng gấp đứng gác."

Lê Hoàng ngẩng đầu lên khỏi khẩu K54 đang lau dở bằng vạt áo. Khẩu súng chỉ còn đúng ba viên đạn. Mắt Hoàng đỏ ngầu vì thiếu ngủ và khói súng, hai gò má hóp lại như người vừa ốm dậy sau một trận sốt rét rừng.

"Chúng nó lấy cớ gì để chốt chặn?" Hoàng hỏi, giọng lạnh tanh.

"Công điện khẩn từ Cục Cảnh sát Hình sự," tôi lên tiếng, dụi đầu mẩu thuốc lá xuống sàn sắt. "Trịnh Văn Phát đã đi trước một nước cờ. Hắn không dùng danh nghĩa Công an thành phố nữa. Hắn báo cáo vượt cấp, vu cho tôi và Hoàng tội danh cấu kết với tổ chức phản động lưu vong, sử dụng vũ khí quân dụng tấn công đoàn công tác của lãnh đạo Bộ. Với cái tội danh đó, bất kỳ thằng cảnh sát giao thông nào ở trạm Diên Khánh cũng có quyền nổ súng tiêu diệt tại chỗ mà không cần lệnh gọi hàng."

Mai Thị Ngọc Lan nghe đến hai chữ "nổ súng" thì rú lên một tiếng nghẹn ngào, lấy hai bàn tay bết bùn bịt chặt miệng lại.

Đỗ Khắc Khiêm bật ra một tiếng cười khục khục trong cổ họng, bả vai rung lên làm máu tươi lại ứa qua lớp băng dù.

"Thằng Phát... nó học bài nhanh đấy," Khiêm thì thào, khóe môi nhếch lên một nụ cười tàn nhẫn. "Hai mươi năm trước, nó chỉ là thằng xách cặp chạy theo sau đít tao ở Đoàn Thanh tra. Giờ nó sẵn sàng biến tao thành một xác chết phản quốc để bịt miệng cả cái vụ Đồi Thông Xanh này. Trần Vũ, mày tưởng giữ được tao là mày nắm được chuôi dao à? Mày đang ôm một quả bom nổ chậm trong cái thùng xe chở bắp cải này đấy."

Tôi chống tay lên gối, gượng đứng dậy. Cơn đau từ mạng sườn nhói lên buốt óc khiến tầm nhìn của tôi tối sầm lại trong nửa giây. Tôi bước hai bước qua lớp sàn trơn trượt, cúi xuống nắm chặt lấy cổ áo bết máu của Khiêm, giật mạnh về phía trước.

Khuôn mặt già nua của Khiêm áp sát mặt tôi. Mùi mồ hôi chua loét lẫn mùi máu tanh phả thẳng vào mũi.

"Nói về con dấu vàng đi, Thứ trưởng," tôi rít qua kẽ răng. "Đừng giả điếc. Đăng vừa gọi điện cho tôi. Đêm mười hai tháng mười một năm 2004, Mái ấm Hướng Dương có mười một đứa trẻ. Đứa bé ba tháng tuổi con của Mai Lan không chết cháy. Ai là kẻ đã bế nó ra khỏi chái bếp trước khi Phúc châm lửa? Ai là kẻ ký vào bản hợp đồng Bên C để nhận hai mươi phần trăm cổ phần ưu đãi vô danh cùng với Trịnh Văn Phát?"

Ánh mắt giễu cợt của Đỗ Khắc Khiêm hơi khựng lại. Đồng tử ông ta co rút nhẹ trong một phần mười giây. Cái phản xạ sinh học không bao giờ nói dối của một kẻ vừa bị đâm trúng tim đen.

Nhưng rồi, sự xảo quyệt của một con cáo già ba mươi năm trong ngành lại trồi lên, phủ kín mặt ông ta bằng một lớp băng lạnh ngắt.

"Thằng nhãi Đăng... nó tỉnh rồi à?" Khiêm nhổ một bọt máu ra sàn xe. "Nó sống sót sau khi bị tao đập nát ngực ở trạm xá, chứng tỏ con Băng cũng có chút tay nghề đấy. Nhưng nó biết một mà không biết hai. Đứa bé đó... con dấu vàng đó... không phải thứ mà một thằng thám tử què quặt như mày có thể với tới được đâu."

"Tôi không cần với tới đỉnh trời," tôi siết chặt cổ áo Khiêm hơn, ngón tay ấn mạnh vào mép vết thương bả vai của ông ta. "Tôi chỉ cần một cái tên để ghi vào bản báo cáo gửi Viện Kiểm sát Tối cao."

Khiêm nghiến răng chịu đau, mồ hôi hột túa ra trán như tắm, nhưng miệng vẫn nhếch lên:

"Tên à? Mày muốn biết tên của kẻ đã ký duyệt cho mười lăm héc-ta đất rừng đổi chủ trong vòng bốn mươi tám tiếng? Mày nghĩ một thằng Trung tá Thanh tra quèn như Phát lúc đó dám tự tay đóng dấu đỏ vào văn bản giải tỏa trắng một cơ sở từ thiện tôn giáo à? Phát chỉ là con chó giữ cửa. Con dấu vàng thuộc về kẻ có quyền điều động cả một trung đoàn công an sang biên giới 'tập trận' đúng vào đêm ngọn lửa bùng lên để không một chiếc xe cứu hỏa nào tiếp cận được đồi thông."

Lê Hoàng đứng bật dậy, khẩu K54 trong tay chĩa thẳng vào giữa trán Khiêm. Ngón tay Hoàng đặt trên vành cò đã run lên từng chặp vì phẫn nộ.

"Bố tôi... Thượng tá Lê Văn Bản... có liên quan gì đến kẻ giữ con dấu đó không?" Tiếng Hoàng gầm lên, trầm đục và khô khốc như tiếng đá vỡ.

Khiêm liếc mắt nhìn họng súng đen ngòm, ánh mắt không hề chớp.

"Bố mày à?" Khiêm cười gằn. "Bản là một thằng ngu. Cả đời thanh liêm, đến lúc vợ sắp chết vì ung thư tủy thì quỳ xuống chân tao xin hai trăm triệu để đưa bả sang Singapore. Tao ném cho ông ta cái va-ly tiền đó, đổi lấy một chữ ký vào biên bản nghiệm thu PCCC khống. Sau đó thì sao? Vợ chết, tiền hết, ông ta ôm cuốn sổ trực ban định đi đầu thú. Tao chỉ cần điều ông ta về làm Phó Giám đốc phụ trách Hậu cần, tước sạch quyền điều tra, giao cho ông ta việc trông coi kho xăng và bãi xe rác. Năm năm trước, ông ta gục chết ngay trên bàn làm việc ở văn phòng Hậu cần, bên cạnh là lá đơn xin lỗi chưa kịp gửi cho Ban Giám đốc. Hoàng à, bố mày không chết vì nhồi máu cơ tim đâu. Ông ta chết vì nhục."

"Câm mồm!" Hoàng nghiến răng, ngón tay siết cò súng. Khóa nòng K54 khẽ nhích về phía sau một milimét.

Tôi vươn tay ra, gạt nòng súng của Hoàng chếch sang một bên vách tôn.

"Đừng để nó chết dễ thế, Hoàng," tôi nói, giọng trầm xuống. "Nó phải sống để quỳ trước mộ của tám đứa trẻ ở nghĩa trang Đồi Thông. Và trước mộ của Tuấn."

Tôi buông cổ áo Khiêm ra. Thân hình to béo của ông ta đổ sụp xuống bao tải củ dền như một bao cát rách.

Tôi quay sang Ba Cháy, người vẫn đang đứng nhìn qua ô cửa trượt với điếu thuốc sâu kèn kẹp trên môi.

"Ba Cháy. Xe mình có qua nổi trạm Diên Khánh không?"

Ba Cháy lắc đầu, nhổ tàn thuốc xuống gầm:

"Không có cửa, Vũ ơi. Đăng ký xe này là xe chở nông sản tuyến cố định Đà Lạt - Chợ đầu mối Thủ Đức. Bình thường tao chỉ cần kẹp năm xị vào cuốn sổ đăng kiểm là lướt qua trạm nhẹ re. Nhưng hôm nay tụi nó mang theo cả chó nghiệp vụ và máy soi gầm. Cái khoang lạnh cách nhiệt này giấu được người với hàng lậu thông thường, chứ chó đặc nhiệm nó ngửi thấy mùi máu tươi của lão già kia là xong phim ngay."

"Còn đường nào vòng qua Khánh Vĩnh để xuôi về phía Nam không?" tôi hỏi.

"Có một đường," Ba Cháy chau mày, lấy ngón tay thô ráp quệt lên lớp bụi bám trên vách xe để vẽ một đường ngoằn ngoèo. "Từ chân cầu sắt km 38 này, rẽ vào con đường đất đỏ xuyên qua nông trường mía Cam Hiệp. Đường này xe chở mía đi nát bét hết rồi, ổ voi ngập tới nửa bánh xe, nhưng nó thông ra một nhánh sông cạn dẫn thẳng về cảng cá Ba Ngòi ở Cam Ranh. Ở đó tao có thằng em chạy tàu hút cát. Nếu lọt được về Ba Ngòi trước năm giờ chiều, tao có thể bốc cả đám tụi mày lên tàu đi đường biển về Vũng Tàu rồi dạt sang Cần Giờ."

Tôi nhìn đồng hồ. Ba giờ mười lăm chiều.

Trời bên ngoài bắt đầu đổ một cơn mưa rào đặc trưng của vùng giáp ranh cao nguyên và đồng bằng duyên hải. Tiếng mưa quất ràn rạt lên nóc thùng tôn như hàng ngàn mũi kim sắt rơi tự do.

"Chạy đường mía đi," tôi quyết định dứt khoát. "Bỏ Quốc lộ 1. Chúng ta đi đường thủy."

Chiếc xe tải mười tấn gầm rú, sang số nặng nề rồi từ từ bò khỏi gầm cầu sắt km 38, trườn vào con đường đất đỏ nhầy nhụa bùn lầy của nông trường mía.

Tôi ngồi thụp xuống sàn xe, lấy chiếc điện thoại Nokia màn hình đơn sắc trong túi da dù ra. Máy rung lên bần bật. Số vệ tinh mã hóa của Hạ Băng.

Tôi bấm nút nhận, áp máy vào tai.

"Vũ nghe."

"Anh còn thở được không?" Giọng Hạ Băng truyền qua sóng vệ tinh, trầm, lạnh và đều đặn như tiếng máy đo điện tim. Nhưng tôi nghe thấy tiếng gió rít bên ngoài cửa sổ trạm xá Bảo Lộc xen lẫn tiếng bíp bíp của máy thở oxy.

"Vẫn chưa chết được," tôi đáp cộc lốc. "Đăng thế nào rồi?"

"Áp lực màng phổi đã ổn định sau khi dẫn lưu tám trăm mililit máu đông. Nhịp tim tám mươi, huyết áp một trăm mười trên bảy mươi. Tôi vừa tiêm kháng sinh liều cao và morphin giảm đau cho cậu ấy." Hạ Băng dừng lại một nhịp. Khoảng lặng kéo dài đúng ba giây. "Đăng vừa nói thêm một chi tiết trước khi chìm vào giấc ngủ sâu."

"Chi tiết gì?"

"Vết sẹo bỏng trên cánh tay Đăng... không phải do đám cháy năm 2004 gây ra," Hạ Băng nói, từng từ rơi xuống sắc lẻm như dao mổ. "Cậu ấy bị bỏng năm 2009, trong một vụ phóng hỏa khác nhằm tiêu hủy kho lưu trữ hồ sơ hộ tịch của huyện Đức Trọng. Có kẻ đã cố tình xóa sạch mọi dấu vết về sự tồn tại của đứa trẻ thứ mười một. Đăng lao vào đám cháy đó để cứu cuốn sổ điểm danh gốc của Mái ấm Hướng Dương."

Tôi khựng lại. Khói thuốc lá tàn trên đầu ngón tay làm bỏng rát lớp da chai sạn.

"Cuốn sổ đó ghi những gì?"

"Trong trang cuối cùng của sổ điểm danh ngày mười một tháng mười một năm 2004, dòng tên đứa bé ba tháng tuổi bị bôi đen bằng mực hóa chất. Nhưng ở phần ghi chú người bảo trợ hàng tháng, có một chữ ký nháy bằng bút máy Parker mực xanh cửu long, đi kèm một ký hiệu mật mã: C.04."

Ký hiệu C.04.

Tôi nhìn sang chiếc túi da dù. Trong nửa bản hợp đồng Bên B thu được từ pho tượng thạch cao, ở góc dưới cùng bên phải của Bên C, cũng có một dòng chữ in mờ bị rách nửa trên: '...ỦY VIÊN BAN THƯỜNG VỤ - KÝ HIỆU PHÊ DUYỆT: C.04'.

"Băng này," tôi nói khẽ, giọng khàn đặc.

"Tôi nghe."

"Chăm sóc tốt cho thằng nhỏ. Đừng để ai tiếp cận phòng bệnh. Kể cả người của Công an tỉnh Lâm Đồng."

"Tôi biết phải làm gì. Anh cũng vậy." Hạ Băng ngập ngừng nửa giây, rồi hạ thấp giọng. "Bên ngực trái của anh... ráng đừng để tràn khí. Nếu ho ra máu cục, phải lấy kim băng chọc giải áp ngay lập tức. Đừng có chết trên cái xe chở rau đó."

"Biết rồi."

Tôi tắt máy. Màn hình đen ngòm phản chiếu khuôn mặt hốc hác, bết bùn của chính tôi.

Tôi vô thức đưa tay sờ vào túi áo trong, nơi chiếc sim điện thoại cũ nát của Tuấn được bọc trong một mảnh nilon nhỏ. Ba năm nay, mỗi lần lâm vào ngõ cụt, tôi lại có thói quen ngoái đầu ra sau lưng theo phản xạ của một mũi trưởng trinh sát, chờ đợi một tiếng gõ báng súng báo hiệu vị trí bọc lót quen thuộc của thằng em.

Nhưng sau lưng tôi lúc này chỉ có bóng tối lờ nhờ của khoang đông lạnh và ánh mắt căm hờn rực lửa của Lê Hoàng.

Một khoảng trống lạnh toát thốc qua lồng ngực. Không phải vì hai dẻ sườn gãy. Mà vì cái cảm giác của một kẻ đi săn nhận ra mình đã sống sót bằng mạng sống của người khác quá nhiều lần.

Tôi rút bao thuốc, ngậm thêm một điếu Thăng Long méo mó vào môi, quẹt diêm. Ngọn lửa bùng lên soi rõ bức ảnh Mái ấm Hướng Dương thứ bảy tôi vừa rút ra từ túi dù.

Bức ảnh chụp ngôi mộ tập thể không bia đá tại nghĩa trang Đồi Thông.

Ở góc dưới bức ảnh, có một dòng chữ viết tay bằng bút dạ đỏ đã khô:

'KẺ BẾ ĐỨA TRẺ ĐI... CHƯA BAO GIỜ RỜI KHỎI BÀN CỜ.'

Bỗng nhiên, chiếc xe tải mười tấn giật nảy một cú dữ dội rồi phanh khét lẹt. Bánh xe trượt dài trên lớp bùn nhão của đường mía, va mạnh vào một vật cản kim loại phát ra tiếng 'RẦM' chói tai. Toàn bộ sọt bắp cải và củ dền trong khoang đổ ụp xuống sàn.

Lê Hoàng lập tức lùi lại một bước, lên đạn khẩu K54 nghe một tiếng 'rắc' đanh gọn.

Cửa trượt buồng lái bị đập thình thình. Giọng Ba Cháy hét lên thất thanh qua khe hở:

"Vũ! Hoàng! Nhảy xuống mau! Có biến rồi!"

Tôi đẩy mạnh cánh cửa trượt, thò đầu ra buồng lái nhìn qua kính chắn gió gạt nước điên cuồng.

Phía trước đầu xe tải, giữa con đường đất đỏ ngập bùn cắt ngang rừng mía bạt ngàn của nông trường Cam Hiệp, không có rào chắn CSGT. Không có xe tuần tra Diên Khánh.

Chỉ có duy nhất một chiếc xe bán tải màu đen không biển số đỗ chắn ngang đường.

Đứng tựa lưng vào nắp ca-pô chiếc bán tải dưới màn mưa tầm tã là một bóng người mặc áo mưa trùm đầu màu đen kịt.

Trên tay kẻ đó không cầm súng ngắn hay dao găm, mà đang cầm một chiếc hộp nhạc thiếu nhi bằng gỗ cũ kỹ mạ đồng. Giai điệu bài hát thiếu nhi thập niên 2000 vang lên từ chiếc loa phóng thanh mini gắn trên nóc xe bán tải, át cả tiếng mưa rừng:

Từng nốt nhạc leng keng rợn người vọng lại giữa thung lũng mía hoang vu.

Kẻ mặc áo mưa đen từ từ nâng bàn tay trái lên. Ngón tay trỏ mang găng da đen gõ nhịp nhàng ba tiếng cộc, cộc, cộc vào nắp ca-pô ướt đẫm nước mưa.

Sau đó, kẻ đó giơ cao một vật thể hình chữ nhật bọc trong túi nilon trong suốt:

Đó là nửa bản hợp đồng Bên A còn lại năm 2004 - có đóng con dấu tròn bằng sáp đỏ của kẻ mang mật danh C.04.

Và ngay phía sau chiếc xe bán tải, bốn chiếc xe SUV bảy chỗ màu đen đồng loạt bật đèn pha chiếu thẳng vào kính buồng lái xe của chúng tôi, xé toạc màn mưa mù mịt bằng những luồng sáng trắng lóa mắt.

0