Giao Lộ Mờ Sương

Chương 98: Mảnh Ghép Sau Gáy

Đăng: 25/08/2026 19:20 3,666 từ 1 lượt đọc

Máu của Nguyễn Trọng Bách loang trên mặt sàn bê tông của Hangar số Ba nhanh hơn tôi tưởng. Nó không chảy thành dòng, mà đặc quánh, sủi bọt xám vì lẫn dịch tủy và mảnh xương sọ vỡ vụn. Viên đạn bắn tỉa xuyên qua thái dương bên phải gã từ cự ly hơn hai trăm mét, chính xác như một nhát đục thợ đá.

Gió từ cửa ngách thông gió trên mái vòm rít qua khe sắt, mang theo mùi dầu phản lực khét lẹt và hơi ẩm lạnh buốt của cơn mưa rào vừa dứt ngoài đường băng.

Tôi đứng tựa lưng vào mép thùng container rỉ sét. Chiếc bình áp lực âm ba ngăn gắn bên sườn trái rung lên từng chặp, tiếng rọc rọc của van silicon hút bọt máu từ khoang màng phổi nghe như tiếng nước sôi trong ấm hỏng. Xương sườn số sáu gãy lìa cọ vào màng phổi tạng theo từng nhịp thở ngắn, buốt nhói lên tận xương quai xanh. Cơn đau làm mồ hôi túa ra sau gáy, lạnh ngắt, dính chặt cổ áo sơ mi vào da thịt.

Màn hình chiếc Nokia cũ trong lòng bàn tay tôi vẫn sáng đèn xanh lét. Dòng tin nhắn vỏn vẹn mười mấy chữ gửi từ số máy nội bộ của Bệnh xá Trại giam K3 Xuân Lộc:

"Mẫu tủy sống số mười ba đã bị đánh tráo tại Đà Lạt sáng nay. Hãy nhìn vết bớt sau gáy Đặng Thế Anh."

Tôi tắt màn hình, nhét điện thoại vào túi quần bò, ngón tay cái vô thức miết mạnh vào cạnh kim loại của chiếc kẹp phẫu thuật nằm sâu trong đáy túi. Vị tanh của máu rỉ ra từ khóe môi nứt nẻ giúp tôi giữ được chút tỉnh táo cuối cùng trước cơn choáng do thiếu oxy.

Phía trước, Đặng Thế Anh đã hạ khẩu súng ngắn CZ-75 xuống ngang hông. Hắn không nhìn xác Bách. Đôi mắt sắc lạnh của viên Thượng tá nhìn chằm chằm lên ô cửa chớp thông gió tầng ba của mái vòm hangar, nơi bóng đen mặc áo mưa trùm đầu vừa gõ ba nhịp ngón tay vào không trung rồi biến mất vào khoảng tối của trần sắt.

"Tổ ba, tổ bốn phong tỏa toàn bộ cửa thoát hiểm phía Bắc!" Thế Anh giật bộ đàm gài bên cầu vai, gằn giọng. "Mục tiêu có súng bắn tỉa giảm thanh cơ số đạn nhỏ, di chuyển theo trục thông gió kỹ thuật sang khu bảo dưỡng máy bay ATR-72. Đóng chốt toàn bộ cầu thang ngoài trời trong ba mươi giây!"

Tiếng xè xè của sóng vô tuyến vang lên dồn dập. Tiếng bước chân rầm rập của lính đặc nhiệm và Cảnh sát Quân sự từ cổng A71 bắt đầu tràn vào sảnh lớn.

Thế Anh quay lưng lại phía tôi để bấm nút gọi trên bộ đàm.

Đó là một khoảnh khắc kéo dài chưa đầy ba giây.

Gió thốc từ đường lăn thổi bay mép cổ áo khoác tác chiến màu xanh rêu của hắn. Dưới ánh đèn pha công nghiệp quét ngang trần hangar, chân tóc sau gáy Đặng Thế Anh lộ ra hoàn toàn.

Một vết bớt màu đỏ thẫm.

Nó không có hình cánh hoa dã quỳ tròn trịa như vết bớt của Hoàng Yến, cũng không phải vết sẹo lồi do bỏng lửa. Nó là một mảng da thâm tím hình tam giác lệch, viền mép nham nhở, chạy dài từ chân hộp sọ xuống tận đốt sống cổ thứ hai. Nhưng điều khiến tôi khựng lại nửa nhịp thở không phải hình dạng của nó.

Dọc theo mép dưới của vết bớt là một hàng sẹo chấm tròn li ti cách đều nhau đúng ba mi-li-mét — dấu vết của kim chọc dò sinh thiết tủy xương loại lớn thường chỉ dùng trong các ca phẫu thuật cấy ghép mô của thập niên chín mươi.

Vết sẹo chọc tủy còn nguyên trên cơ thể một đứa trẻ ba tháng tuổi năm 2004.

"Anh nhìn cái gì?"

Thế Anh đột ngột xoay người lại. Khẩu súng trong tay hắn đã khóa chốt an toàn, nhưng ngón trỏ vẫn đặt hờ bên ngoài vành cò theo thói quen của lính hình sự dạn dày thực chiến. Đôi mắt hắn hẹp lại, quét qua lồng ngực đang phập phồng khó nhọc của tôi rồi dừng lại ở bàn tay trái đang nắm chặt xà beng mini dính đầy muội nhôm.

"Tôi nhìn người vừa thoát khỏi một phát đạn bắn tỉa," tôi buông một câu cộc lốc, nhổ bãi nước bọt lẫn máu xuống nền bê tông. "Viên đạn nhắm vào Bách, nhưng nếu Bách không bước lên nửa bước để giật cái cặp, nó đã găm trúng sau gáy anh."

Thế Anh nhếch mép, một nụ cười không có chút ấm áp nào.

"Kẻ trên mái vòm không bắn nhầm đâu, Trần Vũ. Hắn bắn Bách vì Bách biết quá nhiều về số hàng trong khoang máy bay Cam Ly."

Lê Hoàng từ phía sau chiếc xe bán tải của Ba Cháy bước tới. Áo chống đạn của Hoàng vấy đầy bùn non từ cống ngầm Cù Lao Lá, hai mắt trũng sâu vì ba ngày mất ngủ. Hắn liếc nhìn thi thể Đại tá Bách, rồi nhìn chiếc cặp nhôm đã bị tôi cắt đứt kíp nổ nhiệt nhôm nằm chỏng chơ bên bánh đáp máy bay.

"Tài liệu trong cặp là bản gốc Chuyên án 09/2021," Hoàng nói, giọng khàn đặc. "Chữ ký của tôi bị Thắng và Bách dùng làm thòng lọng. Nhưng thứ Bách nói trước khi chết... mười hai mẫu tủy sống của lũ trẻ Mái ấm Hướng Dương... nó nằm ở đâu?"

Thế Anh không trả lời ngay. Hắn bước lại gần xác Bách, dùng mũi giày lật bàn tay đã co quắp của gã giám định viên trưởng. Trong lòng bàn tay trái của Bách, kẹp giữa các ngón tay dính máu, là một chiếc chìa khóa tủ đông bằng inox có khắc mã số: K-CAMLY-04.

"Nó không nằm trong chiếc cặp này," Thế Anh trầm giọng. "Bách là chuyên gia kỹ thuật hình sự. Hắn không bao giờ để tài liệu giấy và mẫu sinh phẩm vào cùng một chỗ khi chưa nhận được tín hiệu an toàn từ bên kia biên giới. Chiếc vali titan chứa mười hai ống tủy được giấu trong khoang chứa hàng của chiếc VN-P88. Nhưng muốn mở được tủ đông chuyên dụng trong khoang, cần mẫu tủy đối chứng thứ mười ba."

Tôi siết chặt chiếc xà beng, bước lên một bước, bỏ qua cơn đau rát như bị xé thịt ở mạn sườn.

"Và mẫu số mười ba là của anh?" tôi hỏi thẳng.

Không khí trong hangar dường như đặc quánh lại. Tiếng còi xe cứu thương của Viện Kiểm sát Tối cao hú từng hồi dài ngoài đường lăn A71, nhưng bên trong góc khuất này chỉ còn lại tiếng rít gió qua mái tôn.

Thế Anh nhìn thẳng vào mắt tôi. Hắn đưa tay trái lên, chậm rãi chạm vào vết sẹo sau gáy mình.

"Hai mươi năm trước, cha tôi — Tướng Phạm Gia Bảo — đưa tôi ra khỏi Mái ấm Hướng Dương bốn mươi tám tiếng trước khi ngọn lửa bốc lên không phải để tôi sống một đời an nhàn. Ông ấy lấy mẫu tủy của tôi tại trạm xá Đơn Dương để làm khóa sinh trắc học duy nhất phong tỏa toàn bộ hồ sơ di truyền của mười hai đứa trẻ còn lại. Quỹ Viễn Đông không thể bán quyền khai thác mỏ đất hiếm và chuyển giao dữ liệu địa tầng nếu không có bộ mã gen đối ứng hoàn chỉnh."

"Nhưng sáng nay có kẻ đã đột nhập trạm lưu trữ tại Đà Lạt để tráo mẫu số mười ba," tôi lạnh lùng cắt ngang. "Tin nhắn từ K3 Xuân Lộc vừa báo cho tôi biết. Kẻ vừa bóp cò trên mái vòm không chỉ muốn bịt miệng Bách. Hắn muốn đưa một mẫu tủy giả vào hệ thống để kích hoạt việc thanh lý tài sản ngầm."

Lê Hoàng lập tức giơ súng lên, hướng mắt về phía cầu thang xoắn ốc dẫn lên giàn không gian của mái vòm.

"Hắn chưa thể ra khỏi khu vực Hangar số Ba. Cửa thoát hiểm mái vòm thông sang nóc ga hàng không cũ đã bị khóa từ bên ngoài. Hắn chỉ có thể đi bằng đường máng cáp treo!"

"Ba Cháy!" tôi quay sang gã tài xế già đang đứng canh cạnh nắp ca-pô xe bán tải. "Đưa súng ngắn cho Hoàng. Khóa chặt lối xe chạy ra đường lăn."

Ba Cháy gật đầu dứt khoát, rút khẩu súng ngắn quân dụng nhét vào tay Hoàng, không nói một lời thừa thãi. Đó là tác phong của một kẻ đã cùng tôi lăn lộn qua đủ loại vũng lầy của cái đất Sài Gòn này — khi máu đã đổ, mọi lời giải thích đều là rác rưởi.

Tôi nuốt khan ngụm nước bọt đặc quánh mùi cồn y tế. Ống silicon màng phổi rung lên bần bật khi tôi bước về phía chân cầu thang kim loại.

"Vũ, anh ở lại dưới này," Hoàng giữ vai tôi lại, bàn tay hắn bóp mạnh vào lớp áo khoác da. "Phổi anh không chịu nổi áp suất leo cao đâu. Hạ Băng đang tới."

"Để tôi đi," tôi gạt tay Hoàng ra, giọng cộc lốc. "Thằng bắn tỉa gõ ba nhịp ngón tay. Đó là nhịp của kẻ đã bẻ khớp tay tôi ở Thảo Điền và bỏ lại đôi dép nhựa ở Yang Ly. Tôi nợ Tuấn một câu trả lời, và tôi không định để người khác trả thay."

Hoàng nhìn tôi trong hai giây. Hắn hiểu cái tính cứng đầu chết tiệt của tôi suốt năm năm làm việc ở Đội Trọng án. Hắn không cản nữa, chỉ xoay người lên đạn, mũi súng chúc xuống đất, dẫn đầu leo lên các bậc thang sắt rỉ sét.

Cầu thang xoắn ốc rung lên bần bật dưới từng bước chân. Càng lên cao, gió lùa qua các thanh giằng mái vòm càng mạnh, thốc từng cơn bụi kim loại và mùi phân chim bồ câu nồng nặc vào mặt.

Ở độ cao mười lăm mét, lồng ngực tôi bắt đầu biểu tình dữ dội. Áp lực âm trong bình dẫn lưu không thể bù đắp nổi sự thiếu hụt dưỡng khí. Mắt tôi hoa lên, những vệt sáng màu cam nhảy múa trên nền tôn xám. Tôi phải cắn chặt môi dưới, vị máu mặn chát tràn vào kẽ răng ép hệ thần kinh không được phép ngất lịm.

Trên sàn giàn giáo kỹ thuật của tầng ba, cách miệng ống thông gió khoảng năm mét, một vũng dầu máy loang lổ in dấu ủng cao su chuyên dụng loại đế gai hình chữ V.

Cạnh vũng dầu là một chiếc vỏ đạn bằng đồng sáng bóng dài gần sáu phân.

Hoàng dùng mũi dao găm nhặt chiếc vỏ đạn lên, soi dưới ánh đèn pin mini.

"Đạn 7.62x54mmR của súng bắn tỉa Dragunov," Hoàng thì thầm. "Đuôi vỏ đạn dập chìm mã: K-86 // LÔ 04. Cùng một nguồn xuất xưởng với lô đạn CZ-75 đã bắn Tuấn."

Tôi quỳ một chân xuống sàn sắt, thở dốc từng cơn. Mắt tôi dừng lại ở một vật nhỏ rơi bên cạnh máng trượt cáp viễn thông.

Đó không phải là vũ khí hay tài liệu.

Đó là một mẩu bánh mì khô cháy sém một góc, được bọc trong mảnh lá chuối héo đã khô giòn, thắt nút bằng sợi chỉ ngũ sắc rẻ tiền của vùng đồng bào thiểu số Lâm Đồng.

Mẩu cơm cháy lá chuối.

Vết nứt trong đầu tôi toác ra trong một tích tắc. Hình ảnh bảo mẫu Đặng Thị Nhàn nằm co quắp trên giường bệnh Chợ Rẫy, chiếc Zippo trắng khắc dòng chữ "Chị đã xong phần cơm cháy", và tiếng còi tim kéo dài vô tận ở Phân viện Quân y Nhà Bè khi Đăng trút hơi thở cuối cùng... Tất cả dội về như một cú đấm thẳng vào xương sườn gãy.

Tôi đứng khựng lại, tay bám chặt vào lan can sắt lạnh buốt. Bàn tay run lên mất nửa nhịp.

"Trần Vũ?" Hoàng quay lại nhìn tôi.

"Không có gì," tôi siết chặt hàm, giọng đanh lại, vứt mẩu lá chuối vào túi áo trong. "Gió trên này độc quá. Đi tiếp."

Lớp vỏ bọc bên ngoài tôi lập tức khép chặt lại. Không có chỗ cho sự yếu đuối trên độ cao hai mươi mét giữa một sân bay đang chuẩn bị phong tỏa.

Phía trước, đường dây cáp treo dẫn thẳng sang nóc tòa nhà Hậu cần Sân bay đã bị cắt đứt một sợi. Kẻ bắn tỉa đã dùng móc khóa trượt tụt xuống nóc chiếc xe tải chở nhiên liệu đậu bên ngoài hàng rào an ninh và biến mất vào làn mưa mù mịt hướng ra đường Bạch Đằng.

Nhưng hắn đã bỏ lại thứ quan trọng nhất.

Mắc kẹt ở góc máng xối tôn, ngay dưới chân cột thu lôi của mái vòm, là một chiếc hộp bảo ôn sinh học hình trụ bằng thép không gỉ. Đèn báo nhiệt độ trên nắp hộp vẫn chớp xanh ở mức âm hai mươi độ C.

Mặt ngoài của hộp dán nhãn niêm phong bằng sáp đỏ, in chìm dòng chữ:

"BỘ Y TẾ - PHÂN VIỆN DI TRUYỀN HỌC // MẪU SINH PHẨM SỐ: 13-KTS // ĐỐI TƯỢNG: Đ.T.A - 2004".

Thế Anh bước tới từ phía sau. Hắn không nhìn chiếc hộp, mà nhìn sợi dây cáp bị cắt đứt lơ lửng giữa không trung.

"Hắn không kịp mang mẫu số mười ba đi," Thế Anh nói, giọng không lộ chút cảm xúc. "Hắn chỉ kịp bắn Bách để ngăn Bách chỉ vị trí mười hai mẫu còn lại."

Tôi dùng xà beng mini cạy nhẹ ngàm khóa hộp bảo ôn. Nắp hộp bật mở với một tiếng xì nhẹ của khí ni-tơ lỏng bốc khói trắng xóa.

Bên trong lớp xốp cách nhiệt màu xám là một ống nghiệm thủy tinh dày chứa dịch tủy màu vàng nhạt đã đông đặc. Dưới đáy ống nghiệm dán một mảnh giấy pơ-luya nhỏ bằng móng tay.

Tôi rút kính lúp hiện trường trong túi áo ra soi.

Dòng chữ viết tay bằng mực tím học trò hiện rõ dưới lớp sương giá:

"Mẫu lấy ngày 11/11/2004 tại Đơn Dương. Đứa trẻ mang nhóm máu O Rh âm, đột biến gen mất đoạn ngắn trên nhiễm sắc thể số 9."

Tôi quay phắt lại nhìn Đặng Thế Anh.

"Hạ Băng từng đưa cho tôi xem hồ sơ bệnh án của anh lưu tại Cục Cảnh sát Hình sự khi tiếp nhận chức Trưởng phòng PC02," tôi nói chậm rãi từng từ, mắt dán chặt vào vết bớt thâm tím sau gáy hắn. "Anh mang nhóm máu AB. Và anh không hề có đột biến mất đoạn trên nhiễm sắc thể số 9."

Lê Hoàng sững người. Nòng súng K59 trong tay Hoàng hơi hạ xuống một phân, đôi mắt trừng trừng nhìn viên Thượng tá đang đứng sừng sững giữa gió lộng của mái vòm.

"Thế Anh..." Hoàng thốt lên, giọng nghẹn lại. "Anh... không phải là đứa trẻ thứ mười ba?"

Đặng Thế Anh không chối. Hắn từ từ tháo chiếc găng tay da màu đen bên tay phải ra, để lộ bàn tay với những vết chai sâu ở lòng bàn tay và kẽ ngón trỏ — dấu vết của người cầm bút máy nhiều hơn cầm súng trong suốt hai mươi năm qua.

"Tôi chưa bao giờ nói mình là đứa trẻ đó," Thế Anh bình thản nói, ánh mắt nhìn ra khoảng không xám xịt của bầu trời Tân Sơn Nhất. "Đứa trẻ thứ mười ba thật sự đã chết vì suy hô hấp trên chuyến xe U-oát vượt đèo Ngoạn Mục đêm 11/11/2004. Cha tôi đã chôn nó dưới chân đèo, rồi mang tôi — một đứa trẻ mồ côi khác có cùng ngày sinh tại trại tế bần Gia Lai — về trám vào vị trí đó để che mắt đường dây của Tạ Đình Bách và Nguyễn Khắc Thắng."

"Vậy ai là kẻ mang đột biến nhiễm sắc thể số 9?" tôi gằn giọng, bước ép sát lại gần hắn, mặc cho chiếc bình dẫn lưu màng phổi va đập kêu lách cách vào lan can sắt. "Ai là kẻ thực sự đã sống sót và giữ mẫu tủy gốc của Mái ấm Hướng Dương?"

Thế Anh quay lại, nhìn thẳng vào mặt tôi. Lần đầu tiên, tôi nhìn thấy một tia mệt mỏi cùng cực trong đáy mắt của người đàn ông quyền lực này.

"Người đó không chết ở hầm lạnh B2 Nhà Bè đêm qua đâu, Trần Vũ. Cậu ta đang trên đường lên chuyến tàu chở quặng cuối cùng rời bến cảng Cát Lái."

Tiếng còi xe cứu thương bên dưới sân đỗ ré lên rồi tắt ngấm.

Cửa thang máy vận thăng kỹ thuật bật mở với một tiếng cạch khô khốc. Hạ Băng bước ra sàn giàn giáo, trên tay xách theo hộp cấp cứu ngoại khoa dã chiến. Mái tóc chị ướt sũng nước mưa, chiếc áo blouse trắng khoác ngoài bộ đồ mổ lem luốc những vệt cồn đỏ và dầu máy.

Chị không nhìn Thế Anh, cũng không nhìn chiếc hộp bảo ôn. Đôi mắt sắc lạnh của chị quét thẳng vào mặt tôi, nhìn xuống vệt máu tươi đang thấm đỏ lớp băng thun quanh lồng ngực trái.

Chị bước tới, đặt mạnh chiếc hộp dụng cụ xuống sàn sắt. Tiếng kim loại va chạm vang lên chát chúa.

"Huyết áp bao nhiêu?" chị hỏi cộc lốc, tay rút ngay một ống tiêm giảm đau dự phòng và một cuộn băng gạc vô trùng mới.

"Tám mươi trên năm mươi," tôi đáp, giọng khàn đặc. "Vẫn chưa chết được."

"Anh muốn chết thì ra chỗ khác mà nhảy," Hạ Băng không ngẩng đầu lên, thuần thục dùng kéo cắt lớp băng cũ dính máu, cắm lại van dẫn lưu một chiều đang bị nghẽn bọt khí. "Tôi không rảnh khâu lại màng phổi cho một cái xác không biết nghe lời."

Đôi bàn tay chị đeo găng cao su lạnh ngắt, nhưng từng thao tác siết chỉ và cố định ống thông silicon đều chuẩn xác tới mức tàn nhẫn. Cơn đau thấu xương làm tôi nín thở, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau tới mức bật máu ở chân nướu.

Hạ Băng cúi xuống sát ngực tôi để nghe tiếng rì rào phế nang. Mùi thuốc sát trùng iodine quyện với mùi dầu thông thoang thoảng trên tóc chị làm dịu đi cái vị tanh nồng của khói súng trong vòm họng tôi.

"Đăng không có ở Nhà Bè," chị nói nhỏ, chỉ đủ cho tôi nghe giữa tiếng gió rít. "Mẫu máu thu được ở bậc cửa sổ hầm B2 sáng nay có đột biến mất đoạn nhiễm sắc thể số 9. Tôi vừa chạy giải trình tự gen xong trước khi chạy sang đây."

Tôi nhìn chị. Hạ Băng không nhìn lại tôi. Chị dán miếng băng dính cố định cuối cùng lên da tôi, rồi quay sang đóng nắp hộp dụng cụ bằng một cái sập dứt khoát.

Giữa chúng tôi không cần thêm một lời giải thích nào. Cái chết giả ở phòng áp lực âm, cuộc đào tẩu qua máng xả rác, và phát đạn bắn tỉa xuyên sọ Nguyễn Trọng Bách từ cự ly hai trăm mét... Tất cả các mắt xích rời rạc của chuỗi án mạng hai mươi năm bỗng nhiên siết lại thành một vòng thòng lọng hoàn chỉnh.

Chiếc điện thoại vệ tinh của Lê Hoàng trên tay bỗng rung lên bần bật.

Hoàng bấm nút nhận, bật loa ngoài.

Giọng của Tí Bo truyền qua sóng ngắn rè rè, xen lẫn tiếng gõ bàn phím điên cuồng từ căn hẻm Quận 4:

"Anh Hoàng! Anh Vũ! Có biến lớn ở Cát Lái! Hệ thống radar hàng hải luồng Soài Rạp vừa bị mất tín hiệu trạm phát số 4! Tàu chở hàng rời mang số hiệu HP-09 đang chuẩn bị nhổ neo rời phao số không mà không có lệnh xuất bến của Cảng vụ! Trên tàu có một container đông lạnh đặc biệt đăng ký dưới danh nghĩa vận chuyển vắc-xin của Quỹ Nhi đồng Quốc tế!"

Tôi giật lấy chiếc điện thoại từ tay Hoàng, áp vào tai:

"Tí Bo! Người ký lệnh xuất kho container đó là ai?"

"Em vừa bẻ khóa được hệ thống hải quan điện tử!" tiếng Tí Bo hét lên trong ống nghe. "Tên người gửi là Nguyễn Mai Lan... nhưng chữ ký điện tử được xác thực bằng mã định danh cá nhân của Nguyễn Minh Đăng lúc năm giờ bốn mươi phút sáng nay!"

Gió trên mái vòm Hangar số Ba thốc mạnh qua khung sắt, cuốn bay những tàn tro giấy vụn từ đống phế liệu dưới sân bay lên không trung.

Tôi nhìn xuống đường băng rực nắng sau cơn mưa dầm.

Chiếc xe bán tải của Ba Cháy đang nổ máy chờ sẵn ở chân cầu thang, khói xả đen ngòm phả vào không khí ẩm ướt của Sài Gòn.

Bản án hai mươi năm chưa từng kết thúc sau phát đạn ở Hangar số Ba. Kẻ châm que diêm đầu tiên vẫn đang cầm ngọn lửa bước lên boong tàu cuối cùng, và tôi biết mình chỉ còn đúng một cơ hội để ngăn cái thành phố này tiếp tục chìm vào tro bụi.

0