Chương 21: Máu Dưới Hầm Bát Quái
Mùi vôi vữa ẩm mốc bảy mươi năm của trại Chí Hòa quyện với mùi gỉ sắt tanh tưởi dưới lòng đất. Không khí đặc quánh như thể người ta có thể cắt nó ra từng miếng.
Tiếng đế giày da nện cồm cộp sau lưng tôi. Chậm rãi. Đều đặn. Đó không phải bước chân của một kẻ hốt hoảng đi tuần, mà là nhịp đi của một gã đồ tể đang bước vào lò mổ quen thuộc.
Hai cái xương sườn nứt bên ngực trái nhói lên từng cơn buốt óc. Mồ hôi lạnh túa ra từ chân tóc, cay xè khóe mắt. Ngón trỏ của tôi siết nhẹ trên cò khẩu K54. Nòng thép đen ngòm vẫn gí chặt vào hõm gáy gã sát thủ hộ pháp.
Tên khổng lồ cảm nhận được luồng kim loại lạnh ngắt sau đầu. Hắn dừng tay, nhưng những ngón tay gân guốc vẫn chưa buông hẳn khỏi cuống họng của Nguyễn Minh Đăng. Đăng ngửa đầu ra sau chiếc ghế sắt, mặt tím tái, tròng mắt vằn tia máu đỏ sẫm, hai lá phổi rít lên từng hồi khò khè như bễ rèn thủng.
- Đội phó Trần Vũ. - Một giọng nói trầm đục vang lên từ cửa hầm sau lưng tôi, lạnh như nước đá rã đông trong nhà xác. - Anh vẫn giữ cái thói thích chĩa súng vào người khác nhỉ?
Tôi không quay đầu lại. Quay đầu trong một góc hẹp ba mét vuông là tự sát. Nhìn thẳng vào mắt tên hộ pháp trước mặt, tôi liếc nhanh hình ảnh phản chiếu mờ nhạt trên vách tường xi măng ướt nước nhờ ánh đèn tuýp mười watt leo lét.
Một gã đàn ông mặc thường phục, áo khoác đen kéo khóa kín cổ, tay phải thọc sâu trong túi áo. Dáng người tầm thước, tóc cắt cua sát da đầu. Đó là gương mặt quen thuộc ở Đội Điều tra Tổng hợp thuộc quyền quản lý trực tiếp của Ban Chuyên án mới — Thiếu tá Phạm Viết Tân, cánh tay mặt chuyên làm việc bẩn của Đại tá Trịnh Văn Phát.
- Tân. - Tôi nhổ bọt máu lẫn trong chân răng xuống nền đá. - Trịnh Văn Phát trả cho chú mày bao nhiêu để làm cái trò cắt họng người trong hầm tối này?
- Chú Phát không mua tôi bằng tiền, anh Vũ. - Tân bước thêm hai bước, dừng lại đúng khoảng cách năm mét. Khoảng cách tiêu chuẩn để rút súng không bị cướp. - Chú ấy cho tôi một vị trí mà một thằng công an quèn không ô dù như tôi có phấn đấu ba mươi năm cũng không chạm tới được. Đặt khẩu K54 xuống. Anh chỉ có ba giây trước khi tôi bắn nát gáy anh.
Thời gian ngắt còi báo động của Bác sĩ Thiện chỉ còn chưa đầy bốn mươi giây.
Đăng dưới ghế sắt bỗng giật mạnh cổ tay. Sợi xích sắt va vào thành ghế loảng xoảng. Bàn tay đầy sẹo bỏng của cậu ta run rẩy chỉ xuống chân gã hộ pháp, ngón tay cái gập lại, ba ngón còn lại xòe ra thành hình góc vuông.
Đó là ám hiệu rút chốt phá vây trong giáo trình tác chiến đặc nhiệm cũ mà tôi và Tuấn từng huấn luyện cho lính mới.
Tên hộ pháp nghĩ rằng có viện binh sau lưng tôi nên bắt đầu cựa mình. Cơ bắp trên lưng hắn cuồn cuộn dưới lớp áo thun rách, vết thương ở bắp tay phải rỉ máu đỏ tươi thấm đẫm dải băng trắng. Hắn tính xoay người hất văng nòng súng của tôi.
Sai lầm lớn nhất của những kẻ cậy khỏe là nghĩ người khác sợ đau.
Tôi không đợi Tân đếm đến ba.
Tôi dập cả cùi chỏ tay trái vào đúng vết đĩa cắt sắt trên bắp tay bị thương của gã hộ pháp, đồng thời dùng hết sức bình sinh đạp mạnh gót giày bốt vào khoeo chân hắn. Gã khổng lồ rống lên một tiếng nghẹn ngào, khuỵu gối xuống sàn đá. Lợi dụng thân hình đồ sộ của hắn làm lá chắn che chắn toàn bộ góc bắn của Tân từ phía sau, tôi rút ống tiêm nhựa chứa adrenaline liều cao mà Hạ Băng đưa lúc ở trạm xá từ túi áo khoác, đâm thẳng mũi kim dài bốn phân xuyên qua lớp áo khoác vào bả vai tên hộ pháp rồi bẻ gập thân kim lại.
Dược chất kích thích thần kinh cực mạnh khiến cơ thể gã giật nảy lên, mất kiểm soát cơ bắp trong cơn co thắt dữ dội.
Đoàng!
Tiếng súng nổ đanh gọn trong không gian hẹp bị bóp nghẹt bởi ống giảm thanh gắn trên nòng súng của Tân. Viên đạn 9mm xé toạc vai áo của tên hộ pháp, găm phập vào bờ vai hộ pháp của gã thay vì trúng ngực tôi. Máu tươi bắn tung tóe lên bức tường đá rêu phong.
Gã hộ pháp đổ ụp về phía trước như một cây gỗ mục.
Lồng ngực trái của tôi co rút dữ dội. Hai mảnh xương sườn nứt cọ vào nhau phát ra âm thanh lục cục nghê rợn ngay dưới màng phổi. Tôi cắn chặt môi đến bật máu để không ngất đi vì cơn sốc đau đớn, xoay người trượt thấp trên mặt sàn đá trơn nhớt. Khẩu K54 trong tay phải nâng lên theo quán tính cơ bắp mười năm trong ngành.
Tân vừa kịp lên đạn viên thứ hai. Ánh mắt hắn lóe lên tia kinh ngạc khi thấy tôi không hề gục ngã sau cú va chạm.
- Đứng im! - Tôi quát, tiếng quát rít qua kẽ răng.
Nòng súng K54 của tôi khóa chặt vào xương ức của Tân. Bàn tay Tân đang cầm khẩu súng ngắn giảm thanh khựng lại giữa không trung. Hắn nhìn nòng súng đen ngòm của tôi, rồi nhìn xuống vệt máu loang lổ dưới sàn. Hắn biết tôi là ai. Tôi từng bắn hạ ba tên cướp có vũ trang ở cầu Nhị Thiên Đường sáu năm trước khi hắn còn là một trinh sát tập sự ngồi viết biên bản.
- Anh không dám bắn đâu, Trần Vũ. - Khóe miệng Tân giật giật. - Ở đây là tầng hầm Chí Hòa. Một tiếng súng nổ không giảm thanh của khẩu K54 kia sẽ kéo cả một đại đội cảnh vệ xuống đây xé xác anh ra từng mảnh.
- Mày nghĩ tao còn sợ chết à? - Tôi cười gằn, hơi thở phì phò mùi thuốc lá và máu. - Mày nghĩ tao sống ba năm qua như một con chó rách ở Quận 4 để làm gì? Để đợi cái ngày tao tống hết lũ khốn nạn chúng mày xuống cái hầm này đấy!
Đăng ngồi trên ghế sắt, giọng khàn đặc cắt ngang bầu không khí nghẹt thở:
- Chìa khóa xích... trong túi áo ngực nó... Anh Vũ... nhanh lên...
Đúng lúc đó, chiếc đồng hồ điện tử trên vách tường hầm nhảy về số 00:00.
Hú... Hú... Hú!
Tiếng còi báo động khẩn cấp của Trại tạm giam Chí Hòa rền vang, xé toạc màn đêm u tịch. Âm thanh đinh tai nhức óc dội vào các bức tường đá Bát Quái, khuếch đại lên gấp mười lần như tiếng sấm gầm dưới địa ngục. Đèn tuýp vàng vọt phụt tắt, thay thế bằng những dải đèn xoay màu đỏ thẫm chớp nháy liên hồi, quét qua những song sắt han gỉ tạo thành những cái bóng méo mó như đàn quỷ dữ.
Tân biến sắc. Hắn nhận ra hệ thống kiểm soát đã bị kích hoạt toàn diện.
Lợi dụng khoảnh khắc Tân phân tâm nhìn lên trần hầm, tôi lao tới. Không phải bằng tốc độ của một vận động viên, mà bằng sự liều lĩnh của một con thú cùng đường. Tôi húc thẳng bả vai phải vào ngực Tân, đè hắn ngã ngửa ra sàn đá. Khẩu súng giảm thanh văng ra xa, rơi tõm vào rãnh nước thải hôi thối cạnh tường.
Tân giãy giụa, đấm liên tiếp vào sườn trái của tôi. Mỗi cú đấm giáng vào vùng xương gãy giống như một mũi khoan thép dùi thẳng vào tim. Tôi thét lên một tiếng man dại, dùng báng khẩu K54 nện thẳng vào thái dương của hắn.
Một phát. Hai phát.
Tân mềm oặt, tròng mắt trợn ngược rồi lịm đi trên vũng nước bẩn.
Tôi quỳ sụp xuống sàn, ho sặc sụa. Từng ngụm máu bầm trào ra khóe miệng, nóng hổi và mặn chát. Cả cơ thể tôi run rẩy như một cỗ máy sắp rã rời từng con ốc. Nhưng tôi không được phép dừng lại. Cái thành phố này không bao giờ cho kẻ thất bại cơ hội hít thở lần thứ hai.
Tôi bò lại gần xác Tân, thọc tay vào túi áo ngực hắn giật lấy chùm chìa khóa đa năng bằng thép sáng loáng.
Lách chùm chìa vào ổ khóa xích chân Đăng, tôi vặn mạnh. Tiếng cạch khô khốc vang lên. Sợi xích sắt nặng trịch rơi tuột xuống đất.
Đăng ngã chúi về phía tôi. Tôi đưa tay đỡ lấy vai cậu ta. Bàn tay tôi chạm vào mặt trong cánh tay Đăng — một mảng da sần sùi, lồi lõm kéo dài từ cổ tay lên tận nách, dấu tích của một trận đại hỏa hoạn hai mươi năm trước ăn sâu vào da thịt. Đăng thở dốc, tựa cả thân hình gầy gò vào vai tôi.
- Đi được không? - Tôi gằn giọng hỏi, kéo tay cậu ta vắt qua cổ mình.
- Nửa bản hợp đồng... - Đăng thì thào, môi nứt nẻ rớm máu. - Anh tìm thấy ở Bến Vân Đồn chưa?
- Tao cầm một nửa. Nửa kia đâu? Kẻ đứng tên Bên B là ai? - Tôi sốc mạnh vai Đăng, gặng hỏi giữa tiếng còi hú điên cuồng dội từ trên trần hầm.
Đăng ngước đôi mắt đỏ ngầu nhìn tôi. Trong ánh đèn báo động đỏ quạch, ánh mắt cậu ta sâu hoắm, phẳng lặng đến rợn người, hoàn toàn không có vẻ sợ hãi của một kẻ vừa bước qua cửa tử.
- Bên B không phải cá nhân... - Đăng nói từng chữ, giọng lạnh băng. - Nó là Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Hạ tầng Tây Nguyên... danh nghĩa là doanh nghiệp cổ phần, nhưng tài khoản thụ hưởng dòng tiền chuyển nhượng đất năm 2004 đứng tên một người khác. Người đó không ký tên bằng chữ viết thông thường. Hắn ký bằng con dấu mật mã hình bông hoa dã quỳ và chữ ký nháy của một người từng phụ trách tài chính toàn bộ hệ thống quỹ từ thiện miền Nam thời điểm đó...
- Ai? - Tôi gầm lên, xương sườn nhói buốt.
- Trần Khắc Luân không giữ nửa còn lại. Nửa còn lại bị giấu ngay trong bức tượng Bác Hồ bằng thạch cao ở phòng truyền thống của Mái ấm Hướng Dương cũ... nay là sảnh chính của khách sạn Grand Palace Đà Lạt. - Đăng ho khù khụ, máu trào ra ngực áo. - Nhưng kẻ cầm bật lửa... kẻ trực tiếp đưa can xăng năm lít cho Đinh Trọng Phúc... chính là người ký tên đại diện Bên B. Trên bản hợp đồng đó, hắn để lại vân tay ngón cái bằng mực đỏ.
Bỗng nhiên, toàn bộ hệ thống đèn khẩn cấp dưới tầng hầm phụt tắt ngấm. Tiếng còi hú nghẹn lại rồi im bặt.
Bóng tối dày đặc lập tức nuốt chửng Hầm số 7.
Một tiếng nổ trầm đục từ phía ngoài cổng phụ dội qua đường cống ngầm. Mặt đất dưới chân rung chuyển nhẹ.
Lê Hoàng đã hành động. Thằng nhóc đã lái xe cấp cứu đâm nát trạm biến áp phụ ngoài đường Tô Hiến Thành để ngắt toàn bộ nguồn điện lưới của phân trại, ép hệ thống chuyển sang máy phát điện dự phòng vốn phải mất ít nhất hai phút để khởi động lại.
Chúng tôi có một trăm hai mươi giây trong bóng tối tuyệt đối.
- Đi! - Tôi kéo lê Đăng về phía miệng cống ngầm dẫn sang trạm xá.
Tôi bật chiếc đèn pin mini kẹp giữa hai hàm răng, ánh sáng le lói dẫn đường qua đống bùn lầy và rác rưởi dưới đáy cống. Đăng cắn răng bước theo từng bước khập khiễng. Nước cống đen ngòm ngập tới bắp chân, bốc mùi xú uế tanh nồng làm tôi muốn nôn mửa. Mỗi bước chân là một nhát dao đâm vào mạn sườn trái của tôi, nhưng tôi cứ thế nghiến răng kéo Đăng đi.
Ba phút sau, đầu tôi húc vào nắp tấm đan bằng gang dưới sàn phòng kho trạm xá.
Tôi dùng hết tàn lực đẩy tấm đan sang một bên. Một bàn tay mềm nhưng lạnh và dứt khoát thò xuống nắm chặt lấy cổ tay tôi, kéo mạnh lên.
Là Hạ Băng.
Cô mặc chiếc áo blouse trắng lấm lem bùn đất và thuốc sát trùng, gương mặt thanh tú đanh lại dưới ánh sáng lờ mờ từ chiếc đèn pin đội đầu. Bên cạnh cô, Thượng tá Bùi Văn Thiện đang đứng chắn trước cửa phòng y tế, hai tay cầm chặt thanh sắt tháo từ chân giường bệnh.
- Đăng! - Hạ Băng khẽ thốt lên khi nhìn thấy thân hình đầy thương tích của viên trinh sát trẻ. Cô lập tức rút kéo y tế cắt phăng ống tay áo của Đăng, cắm một ống truyền dịch Ringer Lactate vào tĩnh mạch mu bàn tay cậu ta để chống sốc mất máu.
- Cảnh vệ khu Bát Quái đang phá cửa ngắt mạch. - Bác sĩ Thiện nói nhanh, giọng run nhưng dứt khoát. - Hai xe bán tải của Trịnh Văn Phát ngoài cổng số 2 đã nhận được lệnh bao vây trạm xá. Chúng ta chỉ có con đường duy nhất là xe cứu thương ở cổng phụ. Cậu Hoàng vừa gây mất điện, lính gác ngoài cổng đang hỗn loạn.
Bác sĩ Thiện móc từ trong túi áo blouse ra một chiếc phong bì xi măng cũ kỹ, mép dán đã ố vàng theo năm tháng, đưa thẳng vào tay tôi.
- Đây là thứ mà ba năm trước Đại úy Nguyễn Tuấn đã gửi tôi giữ. - Ánh mắt ông Thiện quắc lên dưới cặp lông mày bạc trắng. - Tuấn bảo nếu cậu ấy chết và có một ngày anh hoặc Hoàng tìm đến, hãy giao cái này. Bên trong là bản sao kê tài khoản ngân hàng chuyển tiền mua xăng và tiền bồi dưỡng hai trăm triệu đồng năm 2004, kèm danh sách các quan chức nhận hối lộ dự án Đồi Thông Xanh.
Tôi siết chặt phong bì trong tay. Mùi giấy cũ ẩm mốc át cả mùi thuốc sát trùng. Tuấn... người đồng đội tôi đã gián tiếp đẩy vào chỗ chết ba năm trước, ngay cả khi nằm xuống vẫn để lại cho tôi con đường để đòi lại công lý.
- Đi mau! - Tôi thở dốc, nhét phong bì vào túi ngực, sát cạnh khẩu K54.
Bốn người chúng tôi dìu nhau lao ra hành lang phụ dẫn ra sân sau trạm xá. Mưa tháng Bảy ngoài trời vẫn trút xuống như thác đổ, đập ràn rạt lên mái tôn xi măng. Bầu trời Sài Gòn lúc ba giờ sáng đen kịt như một hũ mực tàu, thỉnh thoảng bị xé toạc bởi những tia chớp ngoằn ngoèo rạch ngang không gian.
Chiếc xe cứu thương chuyên dụng của Trung tâm Giám định Pháp y đang nổ máy chờ sẵn ở góc cua chân tường rào, đèn pha tắt ngấm, chỉ có tiếng máy dầu gầm gừ trong màn mưa. Lê Hoàng ngồi sau vô-lăng, trán quấn một vòng băng trắng còn ướt máu sau cú đâm xe vào trạm biến áp, tay phải nắm chặt cần số, tay trái cầm khẩu K59 chĩa ra ngoài cửa kính hạ một nửa.
- Lên xe! Nhanh! - Hoàng quát lớn qua tiếng mưa gầm.
Tôi và Hạ Băng đẩy Đăng vào khoang sau của xe cấp cứu. Bác sĩ Thiện bước lùi lại một bước, đứng dưới mái hiên trạm xá, lắc đầu khi tôi đưa tay định kéo ông lên.
- Tôi ở lại. - Ông Thiện mỉm cười cay đắng, nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu. - Tôi là Trưởng trạm Y tế. Tôi cần ở lại để ký biên bản xác nhận phạm nhân buồng số 7 bị nhóm lạ mặt có vũ trang bắt cóc tẩu thoát. Nếu tôi đi, Ban Giám đốc sẽ lập tức phát lệnh truy nã đỏ toàn quốc đối với chiếc xe này vì tội phản quốc. Tôi ở lại giữ chân Trịnh Văn Phát ít nhất được mười hai tiếng. Đi đi! Đòi lại công bằng cho thằng Tuấn và những đứa trẻ ở Đà Lạt!
Chưa kịp để tôi nói lời cảm ơn, ông Thiện đã giật mạnh cánh cửa sau xe cứu thương, đóng sầm lại.
Hoàng đạp lút ga. Chiếc xe cứu thương bốn bánh rú rít trên nền bê tông ướt sũng, lao vút qua cánh cổng phụ bằng sắt đang mở toang, húc bay dải rào chắn dã chiến rồi phóng thẳng ra đường Tô Hiến Thành.
Tiếng còi hụ của ba chiếc xe bán tải cảnh sát đặc nhiệm lập tức vang lên từ phía sau. Những luồng đèn pha công suất cao quét loang loáng qua kính chiếu hậu, xé nát màn mưa đêm mù mịt.
Trong khoang sau chao đảo dữ dội, Hạ Băng quỳ bên cạnh Đăng, ngón tay thoăn thoắt kẹp máy đo nồng độ oxy vào ngón trỏ của cậu ta. Tiếng máy bíp bíp vang lên từng nhịp gấp gáp.
Tôi tựa lưng vào vách xe kim loại lạnh ngắt, rút gói thuốc lá ướt sũng trong túi quần ra. Còn đúng một điếu chưa gãy. Tôi châm lửa, rít một hơi thật sâu. Khói thuốc cay nồng xộc thẳng vào cuống họng, đè bớt cơn đau rách màng phổi.
Tôi xé mép chiếc phong bì của Tuấn để lại dưới ánh đèn pin leo lét của Hạ Băng.
Những tờ giấy in kim đã ngả màu vàng ố hiện ra. Đó là bản sao kê ủy nhiệm chi từ Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh Lâm Đồng ngày 10 tháng 11 năm 2004 — hai ngày trước đêm ngọn lửa thiêu rụi Mái ấm Hướng Dương.
Số tiền: Hai trăm triệu đồng.
Người thụ hưởng: Đinh Trọng Phúc.
Bên chuyển tiền: Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Hạ tầng Tây Nguyên.
Nhưng dòng chữ ký người duyệt chi ở góc dưới cùng mới là thứ khiến bàn tay cầm điếu thuốc của tôi đông cứng lại.
Đó không phải là tên của một quan chức vô danh.
Dưới con dấu tròn màu đỏ bị nhòe nước có ghi rõ họ tên và chức danh của người đại diện theo pháp luật, kiêm Tổng Giám đốc của công ty xây dựng đó hai mươi năm trước:
"Bà Mai Thị Ngọc Lan — Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc."
Mai Thị Ngọc Lan.
Mẹ ruột của Hoàng Yến, người vợ đã chết vì tai nạn giao thông bí ẩn mười lăm năm trước của Phạm Kiến Quốc.
Và ngay phía dưới góc phải của tờ ủy nhiệm chi, có một dòng bút phê viết tay bằng mực tím học trò đã phai màu, nét chữ thanh mảnh quen thuộc đến rùng mình:
"Hủy hợp đồng nuôi dạy trẻ. Giải tỏa trắng toàn bộ khu đất trước ngày 15/11/2004 bằng mọi giá. Không để lại nhân chứng sống."
Một tiếng sét đanh tai nổ tung trên bầu trời đêm Sài Gòn, ánh chớp trắng lóa hắt qua cửa kính xe cứu thương soi rõ khuôn mặt của Nguyễn Minh Đăng đang nằm trên cáng.
Cậu ta không hề nhắm mắt. Đôi mắt đen láy của Đăng đang nhìn thẳng vào tờ giấy trên tay tôi, khóe môi tím tái khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh lẽo, vô hồn.
Chiếc điện thoại nokia cũ trong túi áo tôi bỗng rung lên bần bật.
Một tin nhắn nặc danh gửi từ một đầu số vệ tinh không thể truy xuất:
"Anh đã tìm thấy bức ảnh cuối cùng chưa, Đội phó Trần Vũ? Người châm lửa không phải kẻ thù của anh. Người châm lửa... chính là người đầu tiên trả tiền cho anh bước vào vụ án này."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.