Chương 20: Mê Lộ Bát Quái
Cơn mưa rào trút xuống đường Cách Mạng Tháng Tám như thể trời thủng một lỗ lớn.
Cần gạt nước của chiếc xe cấp cứu pháp y quét qua quét lại trên kính chắn gió, phát ra những tiếng ken két rợn người. Ánh đèn đường vàng vọt hắt qua màn nước đục ngầu, biến những dãy nhà ống hai bên đường thành những khối bê tông đen ngòm, nhớp nháp. Sài Gòn lúc hai giờ ba mươi phút sáng không ngủ, nó chỉ đang thở dốc dưới lớp nước mưa đặc quánh rác rưởi và cặn dầu xe bus.
Ngồi ở ghế phụ, tôi rít một hơi thuốc lá sâu đến mức hai lá phổi thắt lại. Cơn đau từ hai cái xương sườn số sáu và số bảy bên ngực trái dội lên buốt óc. Vết nứt dập từ cú đánh của gã sát thủ ở tầng bốn mươi hôm trước kết hợp với cú va đập trong hẻm Quận 4 vừa rồi khiến mỗi nhịp thở của tôi đều có vị tanh nồng của máu rỉ trong cuống họng.
Tôi vặn nát tàn thuốc vào khe gạt tàn đã đầy ứ đầu lọc. Mùi nicotine rẻ tiền trộn lẫn với mùi cồn sát trùng, mùi máu khô trên áo sơ mi rách và mùi bùn đất sình lầy bốc lên nồng nặc trong khoang xe kín.
Hạ Băng cầm vô-lăng bằng đôi tay vững như thạch cao. Cô mặc chiếc áo blouse trắng khoác ngoài áo thun đen, mái tóc buộc gọn sau gáy để lộ những giọt mồ hôi lấm tấm bên thái dương. Gương mặt cô lạnh tanh, đôi mắt nhìn thẳng vào dải nhựa đường loang loáng phía trước. Người phụ nữ này vừa dùng một chiếc panh y tế đâm lút bắp tay một gã sát thủ chuyên nghiệp cách đây chưa đầy hai mươi phút, nhưng nhịp tim và hơi thở của cô lúc này còn ổn định hơn cả chiếc đồng hồ công-tơ-mét.
Phía sau thùng xe, Lê Hoàng ngồi tựa lưng vào vách kim loại, hai tay ghìm chặt khẩu K59 giảm thanh vừa tước được từ tay bọn cướp tài liệu. Gương mặt Đội trưởng Trọng án nhợt nhạt vì cú thúc báng súng vào ngực, nhưng ánh mắt anh ta đục ngầu một ngọn lửa u uất. Niềm tin vào người thầy Trịnh Văn Phát suốt mười năm qua đã vỡ vụn thành tro, thứ còn lại chỉ là bản năng sinh tồn của một con thú săn mồi bị dồn vào chân tường.
"Tí Bo vừa báo qua tai nghe," Hoàng lên tiếng, giọng khàn đặc vì khói thuốc và bụi gác xép. "Cổng số 2 đường Tô Hiến Thành có hai xe bán tải biển số trắng đậu sát vỉa hè từ mười lăm phút trước. Tụi nó tắt máy, không bật đèn sương mù, nhưng camera giao thông cho thấy bên trong có ít nhất sáu người mặc thường phục. Phát đã giăng lưới kín cổng chính."
Tôi nhìn xuống màn hình chiếc điện thoại nokia cũ trong lòng bàn tay. Tin nhắn nặc danh mã hóa từ mạng nội bộ trại giam vẫn còn sáng:
"Đừng vào cổng số 2. Cửa sổ phòng y tế tầng trệt đã mở chốt, nhưng người nằm trên giường số 4 lúc này không phải là Nguyễn Minh Đăng."
"Tin nhắn này gửi từ một trạm phát sóng nội bộ đặt ngay trong khuôn viên Chí Hòa," tôi nói, ngón tay miết mạnh lên mặt kính xước. "Không qua cổng chuyển tiếp dân sự. Kẻ gửi tin đang ở bên trong bức tường tám cạnh đó, có quyền truy cập vào luồng thông tin cơ mật của ban chỉ huy trại."
Hạ Băng giảm ga khi xe rẽ vào một con hẻm phụ chạy dọc bức tường phía tây trại giam. Tiếng còi xe máy của mấy tay chở rau đêm rú lên ngoài ngã ba rồi tắt ngấm.
"Một cái bẫy khác?" Hạ Băng hỏi, giọng không gợn một tia sợ hãi. "Nếu chúng muốn dụ chúng ta vào ngõ cụt để thanh toán một lần cho sạch?"
"Không," tôi lắc đầu, ngực nhói lên một cơn đau buốt khi xe dằn qua một ổ gà ngập nước. "Nếu Trịnh Văn Phát muốn giết chúng ta trong trại giam, hắn chỉ cần để chúng ta đường hoàng đi qua Cổng số 2. Xe pháp y vào cổng, bị bảo vệ chặn lại lập biên bản vi phạm lệnh đình chỉ, tước súng, khóa cửa. Hắn sẽ có ba cái xác chết hợp pháp vì tội chống người thi hành công vụ và đột nhập cơ sở giam giữ đặc biệt. Hắn không cần phải tốn công bày trò nhắn tin hoán đổi giường bệnh."
"Vậy ai gửi tin?" Hoàng hỏi, ngón tay trỏ vẫn đặt hờ bên ngoài vành cò súng.
"Một kẻ đang ở trong lòng cỗ máy đó, nhưng không muốn chết chung với Phát khi cỗ máy sụp đổ," tôi đáp cay đắng. "Hoặc... một món nợ cũ của Tuấn."
Tôi nhớ lại đôi mắt của Tuấn ba năm trước, trước cái đêm định mệnh ở hẻm Cầu Muối. Tuấn đã vào ngành công an bằng tất cả sự ngây thơ và lòng căm thù thầm lặng, chỉ để lần ra kẻ đã ký lệnh thiêu rụi chị gái mình và bảy đứa trẻ ở Đà Lạt. Trong cái mớ bòng bong quyền lực của thành phố này, Tuấn chắc chắn không đơn độc. Anh ta phải có những người cùng chung chiến tuyến, những kẻ đã im lặng chịu đựng như những bóng ma dưới tầng hầm.
Xe trườn tới bức tường rào phía sau, nơi giáp ranh giữa khu dân cư lao động và góc tây nam của Trại tạm giam Chí Hòa.
Chí Hòa sừng sững trong bóng đêm như một pháo đài bát quái bằng bê tông thời thuộc địa. Kiến trúc hình bát giác tám cạnh khép kín, ở giữa là một khoảng sân tròn sâu hoắm như miệng giếng trời khổng lồ, gió mưa hút vào tạo nên những tiếng rít u u ghê rợn. Người ta đồn rằng nơi này được xây theo thuật phong thủy trấn yểm, kẻ nào bước vào thì mọi đường sinh khí đều bị bẻ gãy. Với tôi, nó chỉ là một cái hòm bê tông chứa đầy mùi nước tiểu, mùi mồ hôi của hàng nghìn con người bị tước đoạt tự do, và mùi mục rữa của những thỏa hiệp chính trị bẩn thỉu.
Đồng hồ trên táp-lô nhấp nháy: 02:42.
Còn đúng mười tám phút trước giờ G. Mười tám phút trước khi ống tiêm Phenobarbital hoặc xyanua được cắm vào tĩnh mạch Đăng để hoàn tất bản án diệt khẩu dưới danh nghĩa một cơn sốc thuốc tự sát.
Hạ Băng tắt đèn pha, chỉ để lại đèn demi mờ mờ phản chiếu những vũng nước đục bên vệ đường. Xe dừng lại dưới một tán cây bàng già rủ lá sát chân tường rào khu trạm xá. Nơi này là cổng phụ vận chuyển rác thải y tế và chuyển giao bệnh nhân nặng, cách xa tháp canh số 1.
"Hoàng ở lại xe," tôi nói, đẩy cửa bước xuống nước ngập ngang mắt cá chân. Nước cống lạnh toát thấm qua lớp giày da rách, buốt tận xương tủy. "Cậu mang súng, bị đình chỉ công tác, nếu lính gác thấy mặt cậu, họ có quyền nổ súng không cần cảnh cáo. Băng đi với tôi. Hồ sơ giám định pháp y và lệnh điều xe khẩn cấp của trung tâm là tấm bùa hộ mệnh duy nhất."
Lê Hoàng siết chặt quai súng, quai hàm bạnh ra: "Nếu sau mười phút hai người không ra..."
"Thì lái chiếc xe này đâm thẳng vào trạm biến áp đầu hẻm, gây mất điện toàn khu rồi tự tìm đường rút về Quận 4," tôi cắt ngang, giọng lạnh ngắt. "Đừng làm anh hùng. Thành phố này không có chỗ cho anh hùng chết ngu."
Hạ Băng xách chiếc vali nhôm đựng dụng cụ khám nghiệm và tập hồ sơ ADN bản in duy nhất bọc trong túi chống nước. Tôi khoác vội chiếc áo phản quang của nhân viên cứu thương, kéo sụp mũ lưỡi trai che đi vết bầm tím trên trán và quầng mắt thâm quầng sau mấy ngày mất ngủ.
Chúng tôi đi men theo mép tường bê tông bám đầy rêu trơn trượt. Gió rít qua các khe thông gió trên cao mang theo mùi thuốc tẩy clo nồng nặc bốc ra từ khu xử lý rác y tế.
Đúng như tin nhắn nặc danh miêu tả, cánh cửa sổ khung sắt của phòng y tế tầng trệt nhìn ra rãnh thoát nước phía sau đang hé mở một khe rộng chừng mười phân. Chốt gài bằng đồng bên trong đã bị ai đó cố tình gạt sang một bên, kê lại bằng một mẩu đầu lọc thuốc lá 555 bẹp dúm.
Tôi ra hiệu cho Hạ Băng đứng nép vào góc chết của camera giám sát gắn trên cột điện. Rút chiếc đèn pin mini bọc vải đen chỉ chừa một tia sáng hẹp như sợi chỉ, tôi soi qua khe cửa kính mờ đục vì hơi ẩm.
Bên trong là phòng lưu bệnh nhân đặc biệt của trạm xá trại giam. Bốn chiếc giường sắt sơn trắng bong tróc xếp dọc theo bức tường quét vôi xanh xao xác. Ba giường đầu trống trơn, chỉ có dát giường sắt hoen gỉ.
Trên chiếc giường số 4 đặt sát góc phòng, dưới ngọn đèn tuýp neon chập chờn phát ra tiếng vo vo như ruồi nhặng, có một bóng người đang nằm trùm chăn trắng kín mít từ ngực xuống chân.
Một cọc truyền dịch bằng inox cắm cạnh đầu giường. Chai dịch truyền năm trăm mi-li-lít chứa dung dịch trong suốt đang nhỏ giọt đều đặn qua bầu đếm giọt thủy tinh. Dây truyền silicon nối thẳng vào mu bàn tay người nằm trên giường, cố định bằng băng keo y tế màu vàng đục.
Tôi nheo mắt nhìn kỹ mu bàn tay lộ ra ngoài mép chăn.
Đó là bàn tay của một người đàn ông lớn tuổi. Da tay nhăn nheo, nổi đầy những đốm đồi mồi màu nâu sẫm, các khớp ngón tay bè ra vì lao động nặng nhọc hoặc viêm khớp kinh niên. Móng tay cáu bẩn, ngón trỏ vàng khè vì khói thuốc lào.
Đây tuyệt đối không phải là tay của Nguyễn Minh Đăng.
Đăng hai mươi sáu tuổi. Tay của một trinh sát trẻ dù có vết sẹo bỏng lớn ở cổ tay nhưng các ngón tay thon dài, linh hoạt và sạch sẽ.
Kẻ nằm trên giường số 4 là một phạm nhân già khác — một con tốt thí thế mạng được đưa vào để chịu mũi tiêm độc dược lúc ba giờ sáng, nhằm tạo hiện trường giả hoàn hảo trong khi Đăng thật sự đã bị chuyển đi nơi khác.
"Chúng muốn làm gì?" Hạ Băng ghé sát tai tôi thì thầm, hơi thở ấm áp phả vào cổ tôi giữa màn mưa lạnh buốt.
"Dàn cảnh ngộ độc chéo," tôi thì thào đáp, não bộ hoạt động với tốc độ tối đa để bóc tách từng lớp bẫy. "Nếu Đăng chết trên giường này với danh tính Đăng, việc khám nghiệm tử thi sau đó của cấp trên có thể làm lộ ra các dấu vết cơ học hoặc lời khai bị ép buộc. Nhưng nếu một phạm nhân già chết vì sốc thuốc tại đây, còn Đăng bị đưa xuống khu biệt giam dưới hầm để xử lý bằng một kịch bản 'treo cổ tự sát trong phòng kín' hoặc 'tẩu thoát bị bắn hạ', Phát sẽ hoàn toàn phủi sạch trách nhiệm. Hắn chia tách hiện trường để vô hiệu hóa mọi nỗ lực can thiệp pháp lý."
Cạch.
Một tiếng động cơ khí cực nhỏ vang lên từ hành lang phía trong phòng y tế.
Tôi lập tức kéo Hạ Băng thụp xuống dưới gờ tường rãnh nước. Cả hai nín thở, lưng ép chặt vào lớp bê tông lạnh ngắt ướt sũng.
Cánh cửa gỗ sơn trắng dẫn vào hành lang mở hé. Một bóng người bước vào.
Không phải sát thủ mặc áo đen. Đó là một người đàn ông trạc năm mươi lăm tuổi, mặc quân phục cảnh sát quản giáo với quân hàm Trung tá nhưng không cài cúc cổ áo. Ông ta mang một đôi ủng cao su màu đen đã sờn mép, tay cầm một cặp hồ sơ bệnh án bằng bìa các-tông kẹp chặt dưới nách.
Gương mặt người đàn ông hốc hác, hai gò má nhô cao khắc khổ, khóe miệng trĩu xuống với một vết sẹo mờ hình lưỡi liềm bên thái dương trái. Đôi mắt ông ta đùng đục, mệt mỏi nhưng sắc lẹm như mắt chim ưng già.
Ông ta bước thẳng đến cạnh giường số 4, không thèm nhìn mặt người đang nằm mê mệt dưới lớp chăn, mà đưa tay khóa van dây truyền dịch lại.
Giọt nước trong bầu thủy tinh ngừng rơi.
Sau đó, người Trung tá già quay ngoắt mặt về phía cửa sổ nơi tôi và Hạ Băng đang ẩn nấp. Ông ta không hề bất ngờ, dường như đã biết rõ chúng tôi đang đứng ngoài màn mưa.
"Vào đi, Trần Vũ," giọng ông ta trầm đục, lọt qua khe kính vỡ, nghe khô khốc như tiếng củi gãy. "Trời mưa lớn lắm, đứng ngoài đó viêm phổi đấy."
Tôi khựng lại nửa giây, tay phải luồn vào túi áo khoác nắm chặt chiếc xà beng mini bằng thép tôi. Tôi liếc nhìn Hạ Băng, cô gật đầu dứt khoát, tay nắm chặt chốt mở của vali giám định.
Tôi dùng đầu ngón tay đẩy nhẹ khung cửa sổ, luồn người qua khe hẹp nhảy phắt vào trong phòng, đáp xuống nền gạch tàu lạnh toát không gây ra một tiếng động. Hạ Băng theo sát phía sau, động tác gọn gàng, dứt khoát.
Người Trung tá già vẫn đứng yên cạnh cọc truyền dịch, hai tay buông thõng, không có dấu hiệu rút súng hay bấm chuông báo động gắn trên tường.
"Ông là ai?" Tôi hỏi, giọng khàn đặc, mắt quét nhanh một vòng quanh phòng để xác định các lối thoát hiểm và góc chết.
Người đàn ông nhìn tôi, ánh mắt dừng lại ở vết rách đẫm máu trên ngực áo sơ mi của tôi, rồi chuyển sang gương mặt điềm tĩnh của Hạ Băng. Một nụ cười mỉa mai, cay đắng thoáng hiện trên khóe môi nhăn nheo của ông ta.
"Tôi là Thượng tá Bùi Văn Thiện, Trưởng trạm Y tế Chí Hòa," ông ta nói, giọng đều đều như đang đọc một biên bản tử thi quen thuộc. "Mười lăm năm trước, tôi là người khám nghiệm ban đầu cho những cái xác cháy đen được chở từ Đà Lạt về đây trước khi hồ sơ bị niêm phong chuyển về Bộ. Và ba năm trước, chính tay tôi đã khâu ba mươi hai mũi trên thi thể Đại úy Nguyễn Tuấn sau vụ hẻm Cầu Muối."
Cái tên "Nguyễn Tuấn" thốt ra như một nhát búa nện thẳng vào lồng ngực tôi. Cơn đau từ hai cái xương sườn nứt dập dường như co rút lại, nhường chỗ cho một cảm giác lạnh toát chạy dọc sống lưng.
"Tin nhắn là của ông," tôi nói, từng từ nặng trịch.
"Phải," Thiện rút từ trong túi áo ra một bao thuốc lá Cotab đã nát bấy, rút một điếu đưa lên miệng nhưng không châm lửa. "Nếu tôi không gửi tin đó, xe các người vừa qua cổng số 2 là bị đội cơ động của thằng Phát tóm gọn. Hắn đã ký lệnh bắt khẩn cấp Lê Hoàng và Trần Vũ từ mười hai giờ đêm với tội danh 'Xâm phạm an ninh quốc gia và cướp tài liệu mật'."
"Đăng đang ở đâu?" Hạ Băng bước lên một bước, giọng lạnh lùng cắt ngang màn hồi tưởng. "Chúng tôi chỉ còn mười lăm phút."
Bác sĩ Thiện nhìn đồng hồ đeo tay hiệu Poljot cũ rích mạ vàng đã tróc lở.
"Nó không còn ở khu y tế nữa," Thiện nói, giọng chùng xuống. "Cách đây nửa tiếng, một tổ trinh sát đặc biệt mang lệnh điều chuyển do đích thân Phó Giám đốc Trịnh Văn Phát ký tươi đã đưa Đăng xuống Hầm biệt giam số 7 dưới khu Bát Quái."
"Hầm số 7?" Tôi nhíu mày. Ký ức về những năm tháng làm Đội phó Trọng án ùa về. "Đó là khu giam giữ tử tù thời Pháp thuộc, nằm dưới mực nước ngầm, không có hệ thống camera nội bộ."
"Chính vì không có camera nên mới là nơi tốt nhất để một con người biến mất," Thiện gằn giọng. "Thằng Phát không đợi đến ba giờ sáng đâu. Kịch bản sốc thuốc ở trạm y tế này chỉ là bình phong để đánh lạc hướng nếu thanh tra Viện Kiểm sát đột xuất ập vào. Dưới hầm số 7, người của nó đã chuẩn bị sẵn một sợi dây thừng và một lá thư tuyệt mệnh viết tay giả chữ Đăng, nhận toàn bộ tội lỗi giết chết Phạm Kiến Quốc, Ngô Bách Hưng và Huỳnh Trí Cao vì thù hận cá nhân."
"Tại sao ông lại giúp chúng tôi?" Tôi nhìn thẳng vào mắt Thiện, tìm kiếm một sự dao động nhỏ nhất. "Ông là người của hệ thống này. Chống lại Phát, ông sẽ mất sạch lương hưu, danh dự, và có thể là cả mạng sống."
Bác sĩ Thiện thở dài một hơi dài, mùi thuốc lá khô bốc ra từ đầu lọc chưa châm. Ông ta bước lại gần chiếc bàn làm việc cũ kỹ, lật một cuốn sổ đăng ký bệnh nhân dày cộp bìa da đen.
"Ba năm trước, khi thằng Tuấn chết ở hẻm Cầu Muối, nó đã giấu một phong bì tài liệu trong hộp sơ cứu của tôi," Thiện nói chậm rãi, từng chữ như cứa vào không gian đặc quánh mùi cồn. "Tuấn bảo nếu nó chết, nghĩa là con dấu vàng của Đoàn Thanh tra năm 2004 đã bắt đầu giết người để xóa dấu vết. Nó dặn tôi phải đợi. Đợi một ngày Trần Vũ quay lại, hoặc Lê Hoàng nhận ra bộ mặt thật của kẻ mà nó luôn gọi là thầy."
Thiện rút từ trong ngăn kéo bàn ra một chiếc chìa khóa cơ bằng đồng cỡ lớn, dài bằng bàn tay, cùng một tấm thẻ từ an ninh màu xanh lá cây đậm.
"Đây là chìa khóa mở cửa thông gió dẫn từ đường cống thoát nước kỹ thuật tầng trệt thẳng xuống hành lang ngầm hầm số 7," Thiện đặt chiếc chìa khóa lên mặt bàn gỗ cọt kẹt. "Tấm thẻ từ này là của tôi, dùng để ngắt cảm biến báo động cửa hầm trong đúng chín mươi giây. Sau chín mươi giây, còi báo động toàn trại sẽ hú. Các người chỉ có một cơ hội duy nhất."
Tôi bước tới, cầm lấy chiếc chìa khóa lạnh ngắt. Kim loại đè nặng lên lòng bàn tay thô ráp của tôi.
"Đăng có biết chuyện này không?" Tôi hỏi.
"Thằng nhỏ đó thông minh đến mức tàn nhẫn," ánh mắt Thiện lóe lên một tia phức tạp, vừa xót xa vừa sợ hãi. "Nó vào ngành tám năm, cắn răng làm một thằng trinh sát quèn chỉ để gom từng mẩu giấy vụn. Nó biết thừa đêm nay nó sẽ bị đưa xuống hầm số 7. Khi tổ trinh sát còng tay dẫn nó đi ngang qua bàn tôi, nó đã cố tình để rơi cái này."
Bác sĩ Thiện mở lòng bàn tay trái ra.
Trên lớp da nhăn nheo của ông ta là một mẩu giấy pơ-luya nhỏ bằng hai ngón tay, mép giấy bị xé nham nhở, dính một vệt máu đã khô đen.
Trên mẩu giấy là dòng chữ viết tay bằng mực bút bi sắc sảo, nét chữ nghiêng và cứng cỏi quen thuộc của Đăng:
"Bản hợp đồng chỉ có giá trị khi có chữ ký thứ ba. Kẻ giữ con dấu không chỉ nhận hai mươi phần trăm. Hắn là kẻ cầm bật lửa."
Tôi và Hạ Băng nhìn nhau.
Chữ ký thứ ba.
Nửa bản hợp đồng chúng tôi thu được ở kho Bến Vân Đồn ghi rõ Bên C hưởng 20% cổ phần ưu đãi vô danh, ký tên bởi "Đ/c T.V.P - Thanh tra trưởng". Nhưng nếu bản hợp đồng đó là một thỏa thuận ba bên, thì ngoài Phạm Kiến Quốc (Bên A - đại diện chủ đầu tư) và Trịnh Văn Phát (Bên C - bảo kê pháp lý), kẻ đứng tên Bên B — kẻ trực tiếp thi công và hợp thức hóa dòng tiền đẫm máu đó — là ai?
Trần Khắc Luân đã chết đuối ở Trị An. Huỳnh Trí Cao đã chết vì xyanua ở Thảo Điền. Ngô Bách Hưng đã nát thân dưới ngã tư Hàng Xanh. Đinh Trọng Phúc đã cháy thành than ở Rạch Lăng.
Những kẻ chết đều là những kẻ thừa hành hoặc những con tốt trung gian.
"Đăng đang giữ phần còn lại của bản hợp đồng?" Tôi siết chặt mẩu giấy trong tay.
"Nó nuốt vào bụng hay giấu trong tủy xương thì chỉ có nó mới biết," Thiện lạnh lùng nói, đoạn cầm chiếc kẹp y tế gắp một cục bông tẩm cồn đốt cháy trên chiếc đĩa hạt đậu, ném tàn thuốc vào ngọn lửa xanh lét. "Nhưng các người phải nhanh lên. Gã sát thủ kho Bến Vân Đồn bị anh chém rách tay lúc nãy... hắn không bơi qua sông để trốn đâu. Hắn đã được đưa vào đây từ cửa sau hai mươi phút trước bằng xe cứu thương của Bệnh viện 30/4. Hắn đang ở dưới hầm số 7, mang theo lệnh trực tiếp của Trịnh Văn Phát để kết liễu thằng Đăng và moi bằng được thứ Đăng đang giấu."
Gã khổng lồ cầm máy cắt sắt ở Bến Vân Đồn.
Cánh tay hắn bị tôi chém bằng đĩa cắt kim loại rách toạc cơ bắp, nhưng thể lực và kỹ năng giết người của hắn vẫn là một cỗ máy hủy diệt. Hắn là con bài tẩy bẩn thỉu nhất mà Trịnh Văn Phát nuôi dưỡng suốt hai mươi năm qua để dọn dẹp những cái xác không thể đưa ra tòa.
Đồng hồ điểm: 02:49.
Mười một phút.
Tôi quay sang Hạ Băng: "Băng, cô ở lại đây với bác sĩ Thiện. Giữ chặt tập hồ sơ ADN này. Nếu dưới hầm có biến cố, cô là nhân chứng sống duy nhất có tư cách pháp y để công bố dữ liệu trước Viện Kiểm sát Tối cao."
Hạ Băng nhìn thẳng vào mắt tôi, đôi đồng tử đen láy không hề chớp. Cô không tranh cãi, không nói những lời sáo rỗng. Cô chỉ thò tay vào túi áo blouse, rút ra một chiếc ống tiêm chứa sẵn dung dịch trong suốt đưa cho tôi.
"Adrenaline liều cao," cô nói cộc lốc. "Nếu xương sườn ép vào màng phổi gây ngất do đau, đâm thẳng qua lớp áo vào đùi. Anh sẽ có thêm mười phút vận động trước khi cơ thể sụp đổ hoàn toàn."
Tôi nhận lấy ống tiêm, nhét vào túi ngực áo khoác, ngay cạnh chiếc xà beng và khẩu súng K54 cũ kỹ.
"Cảm ơn."
"Sống mà quay lên," cô nói, giọng trầm xuống nửa tông. "Tôi không muốn phải tự tay giải phẫu tử thi của anh ở Trung tâm đâu. Mùi thuốc lá trên phổi anh sẽ làm hỏng dao mổ của tôi."
Tôi nhếch mép cười, một nụ cười khô khốc không có chút niềm vui, rồi quay lưng bước về phía cánh cửa sắt thông gió ở góc tối của trạm xá.
Bác sĩ Thiện tra chiếc chìa khóa đồng vào ổ khóa rỉ sét, vặn mạnh. Một tiếng "tách" khô khốc vang lên giữa tiếng mưa gầm rú bên ngoài. Cánh cửa sắt nặng nề hé mở, để lộ một đường hầm dốc đứng dẫn xuống lòng đất đen ngòm, phả lên mùi xú uế, mùi ẩm mốc hàng thế kỷ và mùi sắt rỉ tanh tưởi.
Tôi trượt người xuống bóng tối đặc quánh của đường cống ngầm.
Nước thải ngập tới đầu gối, đen ngòm và lạnh buốt như nước đá. Mỗi bước di chuyển trong lòng cống hẹp khiến lồng ngực tôi đau nhói như có hàng chục mũi kim cắm sâu vào màng phổi. Tôi phải cắn chặt môi dưới đến bật máu để không phát ra tiếng rên. Vị mặn chát của máu và mùi thối của bùn cống hòa quyện làm một.
Mười lăm mét bò dọc theo đường ống ngầm dẫn tôi đến một cánh cửa lưới thép dày cộp ngăn cách với hành lang Hầm số 7.
Tôi rút tấm thẻ từ màu xanh của Thiện, quẹt nhanh qua khe cảm biến điện tử gắn chìm trong hốc tường đá. Đèn tín hiệu màu đỏ chuyển sang màu xanh lục trong tích tắc kèm theo tiếng rơ-le ngắt điện êm ru.
Tôi đẩy cánh cửa lưới bước ra ngoài.
Không khí dưới hầm số 7 lạnh hơn trên mặt đất ít nhất năm độ. Dãy hành lang lát đá tảng từ thế kỷ trước dài hun hút, trần vòm cuốn thấp lè tè chỉ vừa đầu người. Dưới ánh sáng vàng vọt, tù mù của những bóng đèn tròn bảo vệ bằng lồng sắt bám đầy mạng nhện, sàn đá nhầy nhụa nước rỉ từ các mạch ngầm.
Không có tiếng lính gác. Không có tiếng phạm nhân rên xiết.
Chỉ có một âm thanh duy nhất vang lên từ căn phòng giam cuối dãy hành lang — buồng số 7:
Tiếng kim loại ma sát ken két trên nền đá tảng, kèm theo tiếng thở dốc nặng nhọc, đứt quãng của một con người đang bị bóp nghẹt đường thở.
Tôi rút khẩu K54 trong túi áo, lên đạn dứt khoát không gây tiếng động, rồi nép mình vào bóng tối của vòm đá, lướt nhanh về phía buồng giam cuối cùng.
Qua song sắt rỉ sét của buồng số 7, cảnh tượng bên trong hiện ra dưới ánh đèn trần lay lắt.
Nguyễn Minh Đăng bị trói chặt hai tay ra sau lưng bằng xích sắt gắn chặt vào khoen sắt chôn sâu trong tường đá. Chiếc áo sơ mi trinh sát của cậu ta rách nát, để lộ những vết bầm tím tụ máu lớn trên ngực và vết sẹo bỏng loang lổ dài từ cổ tay lên cẳng tay đang rỉ máu. Gương mặt Đăng biến dạng vì những cú đòn tra tấn tàn bạo, một bên mắt sưng húp nhắm nghiền, khóe miệng chảy dài một dòng máu đen sẫm.
Đứng trước mặt Đăng là gã hộ pháp của kho Bến Vân Đồn.
Cánh tay phải của gã quấn một dải băng y tế đẫm máu đỏ lòm, nhưng bàn tay trái hộ pháp của gã đang bóp chặt lấy yết hầu của Đăng, nhấc bổng nửa thân người của viên trinh sát trẻ lên khỏi mặt đất, ép chặt đầu cậu ta vào vách đá ướt sũng.
Bàn tay còn lại của gã sát thủ cầm một chiếc kìm bấm chuyên dụng, mũi kìm đang kẹp chặt vào một góc mép của lớp vải lót bên trong cổ áo rách của Đăng.
"Mày giấu nửa còn lại ở đâu?" Gã sát thủ gầm lên, giọng ồm ồm như lệnh vỡ dưới đáy giếng. "Nói, hoặc tao bẻ gãy từng đốt ngón tay mày trước khi treo cổ mày lên cái xà sắt này!"
Đăng mở he hé con mắt còn lại, nhìn gã khổng lồ bằng một ánh nhìn lạnh lẽo đến rợn người. Dù đang nghẹt thở, dù khóe môi đang trào bọt máu, đôi môi tái nhợt của cậu ta vẫn nhếch lên thành một nụ cười giễu cợt.
"Bảo... bảo thằng Phát..." Đăng thều thào qua kẽ răng dính đầy máu, "bản hợp đồng đó... không cứu được mạng nó đâu... Người giữ con dấu thứ ba... đã ở ngay trên đầu nó rồi..."
Gã sát thủ gầm lên một tiếng man dại, siết chặt năm ngón tay bóp nát thanh quản của Đăng.
Tôi không thể đợi thêm một giây nào nữa.
Tôi bước ra khỏi góc chết của vòm đá, khẩu K54 giơ thẳng, thước ngắm khóa chặt vào gáy gã khổng lồ qua khe song sắt.
"Buông nó ra," tôi nói, giọng lạnh như băng tuyết trôi trên sông mùa đông. "Hoặc tao sẽ để viên đạn này xé toạc cái hộp sọ đặc sệt bùn đất của mày."
Gã sát thủ khựng lại. Gã từ từ quay đầu lại, đôi mắt đỏ ngầu vằn tia máu nhìn xuyên qua song sắt về phía tôi. Nhưng thay vì sợ hãi hay bất ngờ, trên khuôn mặt đầy sẹo thịt của gã lại nở ra một nụ cười quái đản, ghê tởm.
"Mày đến muộn rồi, Trần Vũ," gã thì thào.
Ngay khoảnh khắc đó, từ phía sau lưng tôi, ở đầu bên kia của dãy hành lang ngầm tăm tối, một tiếng giày da gõ cồm cộp trên nền đá tảng vang lên một cách khoan thai, nhịp nhàng.
Cùng với tiếng giày
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.