Chương 76: Mùi Dung Môi Dưới Chân Tháp
Mùi hắc ín quyện với dung môi công nghiệp nặng bắt đầu luồn qua khe nắp cống gang, rớt từng giọt buốt lạnh xuống nền đá chẻ.
Thứ mùi đó không lẫn vào đâu được. Mùi của những thùng hóa chất tẩy xy-lanh máy nổ công suất lớn, nồng nặc hydrocacbon bốc khói cay xè, sặc sụa mùi lưu huỳnh và xăng máy bay. Hai mươi năm trước, nó đã biến chái bếp Mái ấm Hướng Dương thành một lò nung kín nghẹt. Ba năm trước, nó lại bốc lên từ đống đổ nát ở hẻm Cầu Muối, nhuốm đen lá phổi của Nguyễn Tuấn trước khi phát đạn bọc đồng xé toạc ngực cậu ấy.
Bây giờ, nó đang chảy xuống đầu chúng tôi.
Cộc. Cộc. Cộc.
Ba nhịp gõ khô khốc từ mũi gậy kim loại hoặc báng súng dộng thẳng lên mặt nắp cống gang dày ba phân dập nổi chữ Indochine 1938. Âm thanh truyền qua khối kim loại mục rỉ, dội vào bốn vách đá chẻ của căn hầm mười lăm mét vuông như tiếng đập búa vào nắp quan tài.
Lê Hoàng đứng bật dậy dưới chân cầu thang sắt. Bàn tay phải của cậu siết chặt báng khẩu K59, ngón trỏ đặt hờ trên vành bao cò, nòng súng chĩa thẳng lên khe hở hai mi-li-mét giữa nắp cống và vành miệng hầm. Ngón tay cậu khẽ giật một nhịp. Cơ hàm bạnh ra, những đường gân xanh nơi thái dương giật phập phồng theo từng nhịp thở dồn.
"Đừng." Tôi đưa bàn tay trái quấn băng trắng dính đầy bụi đá giơ ngang ngực Hoàng, giọng khàn đặc như có sạn cọ trong phế quản. "Một tia lửa từ đầu nòng lúc này là cả căn hầm biến thành buồng đốt động cơ phản lực. Mày, tao và Băng sẽ thành than trước khi kịp nhìn thấy mặt hắn."
Hoàng không hạ súng, nhưng mũi súng hơi lệch đi một phân. Ánh mắt cậu dán chặt vào khe sáng lờ mờ trên đầu.
Hạ Băng ngồi thụp bên cạnh chân máy chiếu phim 16mm, một tay giữ chặt bình áp lực âm ba ngăn đang sủi bọt khí lọc xọc, tay kia cầm sẵn chiếc kẹp phẫu thuật bằng thép không gỉ. Cô không nhìn lên nắp cống. Ánh mắt cô ghim thẳng vào ống dẫn lưu silicon cắm nơi mạn sườn trái của tôi. Chỗ mép băng thun quấn quanh xương sườn số sáu đã thấm đẫm một mảng dịch hồng sẫm.
"Màng phổi của anh đang rò khí ngược," Băng nói, giọng phẳng lặng một cách tàn nhẫn, không gợn một chút hoảng loạn. "Nếu áp lực trong khoang lồng ngực tăng thêm mười mi-li-mét thủy ngân nữa, phế nang bên trái sẽ xẹp hoàn toàn. Anh có đúng mười phút để giải quyết chuyện trên đầu trước khi tôi phải rạch thêm một đường dẫn lưu nữa."
Tôi nhếch mép cười, nhưng nụ cười chết ngắt ngay nơi khóe môi khô khốc rỉ máu. Cơn đau từ hai đầu xương sườn gãy lìa cọ vào màng phổi tạng giáng xuống như một nhát búa tạ giập thẳng vào cuống họng. Tôi nuốt khan ngụm máu tươi trào lên chân răng, rút máy bộ đàm dã chiến dính cặn dầu hỏa trên thắt lưng ra, bấm phím phát.
Tiếng rè rẹt của sóng ngắn vang lên, cắt ngang tiếng rè rè của cuộn băng cassette phát bài đồng dao thiếu nhi chạy bằng ắc-quy trên miệng nắp cống.
"Số hiệu sĩ quan 041-882-KT," tôi nói vào micrô bộ đàm, từng từ một rơi xuống sàn đá lạnh ngắt. "Anh giữ máy ảnh Zenit tiêu cự 50mm, đứng ngược sáng chắn trước van cấp nước sinh hoạt chính lúc ba giờ chiều ngày 11 tháng 11 năm 2004. Anh bấm máy chụp bức ảnh mười hai đứa trẻ chia cơm cháy dưới bếp, rồi quay cuộn phim 16mm ghi lại cảnh Thiếu tá Lê Văn Bản cầm xích sắt đứng trước cửa hầm. Anh không phải tay sai của Thắng. Nếu là người của Thắng, cuộn phim âm bản ba mươi lăm mi-li-mét trong khe đá số bốn đã bị thiêu rụi cùng với bảo mẫu Mai Lan từ hai mươi năm trước rồi."
Khoảng lặng kéo dài năm giây.
Tiếng nhạc hộp đồng dao trên đầu bỗng nhiên ngưng bặt. Chỉ còn lại tiếng gió đèo rít qua những tán thông già trên đồi Robin, luồn qua mép vực ta-luy âm và tiếng dung môi nhỏ tong tòng xuống nắp cống gang.
"Trần Vũ." Giọng nói truyền qua loa bộ đàm khàn đặc, nặng trịch thổ âm vùng rừng núi Tây Nguyên pha lẫn tiếng rít khè khè của một người có phế quản bị tổn thương do hít phải khói độc lâu năm. "Anh nhìn ra cuộn phim âm bản nhanh hơn tôi tưởng. Nhưng anh đã thấy những gì trong đó?"
"Tôi thấy một bản danh sách tổ công tác bốn người bị xóa tên người thứ tư," tôi đáp, lưng tựa chặt vào vách đá chẻ để giữ cơ thể không quỵ xuống. "Tôi thấy chữ ký nháy của Đỗ Khắc Khiêm phê duyệt hủy hồ sơ hiện trạng. Tôi thấy con số ba mươi phần trăm cổ phần mỏ đất hiếm chảy vào tài khoản 904-882-1104-CH tại Thụy Sĩ của Phan Hải Nam. Và tôi thấy Thiếu tá Lê Văn Bản giấu chiếc chìa khóa đồng ba cạnh vào khe đá số bốn để mở đường sống cho lũ trẻ."
Tôi dừng lại nửa nhịp, cắn chặt môi dưới lấy vị tanh của máu để chống lại cơn choáng váng đang kéo sụp mi mắt.
"Anh đứng trên đó với hai mươi lít dung môi, không phải để giết chúng tôi," tôi tiếp tục, mắt nhìn thẳng vào khe nắp cống. "Nếu muốn thiêu sống người dưới hầm, anh đã ném đuốc phốt-pho xuống ngay khoảnh khắc chiếc xe bán tải của anh dừng bánh. Anh chờ chúng tôi tìm ra cuộn phim. Anh muốn biết sau hai mươi năm, cái chết của những đứa trẻ có bị đám mặc quân phục các anh chôn vùi thêm một lần nữa hay không."
Phía trên nắp cống vang lên một tiếng cười gằn. Khô khốc. Cay đắng.
Tiếng kim loại lách cách vang lên. Khóa vặn của nắp can nhựa hai mươi lít bị mở bung. Mùi hydrocacbon xộc thẳng xuống hầm nồng nặc đến nghẹt thở.
"Ông Bản là một chỉ huy tốt, nhưng là một người cha thất bại," giọng nói qua bộ đàm chầm chậm vang lên, từng tiếng kéo lê theo bước chân khập khiễng trên mặt đất mùn. "Hai mươi năm trước, khi Thắng vứt tập bệnh án ung thư tủy của vợ ông ấy lên nắp ca-pô xe U-oát cùng chiếc cặp đựng hai trăm triệu viện phí Singapore, ông ấy đã run tay. Ông ấy cầm sợi xích sắt bước xuống hầm này, nhưng mắt không dám nhìn vào mặt cô Nhàn và con bé Lan. Ông ấy giấu chìa khóa vào khe đá, dặn chúng nó nếu đêm có tiếng động lạ thì chui hết xuống hầm rồi khóa trái bên trong. Ông ấy tưởng làm thế là giữ được mạng cho lũ nhỏ, vừa bảo toàn được tiền thuốc cho vợ."
Tiếng bước chân khập khiễng dừng lại ngay trên tâm nắp cống.
"Nhưng ông ấy không ngờ được sự tàn độc của Nguyễn Khắc Thắng và Trịnh Văn Phát," bóng đen trên đầu gằn từng chữ. "Chúng nó không định đốt dọa để lấy mặt bằng. Năm ngàn lít dầu diezen công nghiệp pha dung môi tăng nhiệt từ xe bồn xả thẳng vào chái bếp. Khi nhiệt độ lên tới cả ngàn độ C, toàn bộ ô-xy trong căn hầm này bị hút sạch trong vòng chưa đầy năm phút. Chìa khóa phụ nằm trong khe đá số bốn trở thành một trò hề. Lũ trẻ không chết vì lửa bén vào da thịt. Chúng nó chết vì ngạt khí CO và phù phổi cấp trước khi kịp tra chìa vào ổ khóa."
Lê Hoàng đứng sững lại. Đốt ngón tay cậu bóp chặt thân súng K59 trắng bệch ra. Đôi mắt mở trừng trừng nhìn vào cuộn phim 16mm đang nằm im lìm trên bệ máy chiếu.
Tôi thấy lớp vỏ sắt đá của người Đội trưởng Đội Trọng án nứt toác ra trong một tích tắc. Cậu không nói được lời nào. Nỗi đau của một người con nhận ra sự thật về món tiền viện phí cứu mẹ mình hai mươi năm trước - một món tiền nhuốm đầy tro than của tám sinh linh vô tội - đè nặng lên lồng ngực cậu còn khủng khiếp hơn cả ngàn cân đất đá của đồi Robin.
Một khoảng im lặng chết chóc bao trùm căn hầm.
Tôi đưa tay vào túi áo ngực. Ngón tay chạm vào góc nhọn của chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm bị cháy xém một bên cánh của bảo mẫu Mai Lan.
Một tích tắc. Đúng một tích tắc, hình ảnh Nguyễn Tuấn nằm bất động trên vũng máu đen ngòm ở ngã ba hẻm Cầu Muối hiện lên trước mắt tôi. Chiếc áo giáp chống đạn rách toạc, đôi mắt mở trừng trừng nhìn lên khoảng trời đêm sặc mùi thuốc súng và dung môi. Tuấn đã chết với số hiệu sĩ quan 041-882-KT trên ngực áo. Cậu ấy chết mà không hề biết số hiệu đó từng thuộc về người đàn ông đang đứng trên nắp cống này.
Lớp vỏ bất cần trong tôi nứt ra một đường sâu hoắm.
Tôi hít một hơi thật sâu, nén cơn nhói buốt nơi màng phổi, rồi kéo chiếc kẹp tóc ra khỏi túi áo, buông một câu cợt nhả qua micrô bộ đàm:
"Người quay phim ạ, nếu anh định giảng bài học đạo đức bằng hai mươi lít dung môi, thì anh đến muộn ba năm rồi. Thằng Tuấn - đứa mang số hiệu cũ của anh - đã nằm dưới ba tấc đất ở Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố sau khi ăn trọn một băng đạn AK vì cố tìm cho ra nguồn gốc thứ hóa chất anh đang cầm trên tay. Cả đời nó chưa từng tiêu một đồng tiền bẩn nào từ cái mỏ đất hiếm của các anh."
Bên ngoài nắp cống, tiếng gió thông bỗng rít lên một hồi dữ dội.
"Tôi biết," giọng người đàn ông trên đầu chùng xuống, khàn đục như tiếng kim loại rỉ sét cọ vào nhau. "Ba năm trước, chính Tuấn đã tìm đến căn lều gỗ của tôi ở bìa rừng Đơn Dương. Nó đưa cho tôi xem mẫu tro cốt của chị gái nó. Nó hỏi tôi tại sao số hiệu sĩ quan của nó trong hệ thống máy chủ lại bị khóa cứng ở hồ sơ Chuyên án 1104. Tôi đã bảo nó dừng lại. Tôi bảo nó cái giá của việc đào bới quá khứ là mạng sống của cả gia đình nó. Nhưng nó không nghe. Nó bảo nó là cảnh sát hình sự, nó không thể sống tiếp nếu không biết ai đã châm que diêm đầu tiên vào chái bếp nơi chị nó chết cháy."
Tiếng xích sắt va chạm loảng xoảng trên mặt đất.
"Đêm Tuấn bị bắn ở hẻm Cầu Muối, tôi đã đứng ở đầu cầu Calmette. Tôi nhìn thấy chiếc xe cứu thương của Bác sĩ Thiện hú còi lao qua. Tôi biết bàn cờ đã đi đến nước cuối cùng. K.09 đã ký lệnh rút hỏa lực, Thắng đã phê duyệt phương án tác chiến bẫy trinh sát. Và anh... Đội phó Trần Vũ, anh đã bị biến thành một con tốt thí hoàn hảo để gánh toàn bộ trách nhiệm cho sự hy sinh của nó."
Tiếng nắp cống gang rít lên chói tai khi bị một đòn bẩy bằng thép cạy nhích sang một bên.
Một luồng gió lạnh buốt của sương mù Đà Lạt ùa xuống đáy hầm, cuốn bớt mùi dung môi ngột ngạt. Qua khe hở rộng mười lăm phân, ánh sáng mờ đục của buổi trưa cao nguyên rọi xuống những bậc thang sắt hoen rỉ.
Một bóng người cao gầy, khoác chiếc áo gió bộ đội cũ mòn vẹt vai, đứng sừng sững trên miệng hầm. Khuôn mặt ông ta chìm trong bóng tối của chiếc mũ tai bèo, nhưng nửa dưới cằm lộ ra một vết sẹo bỏng co rút kéo dài từ khóe môi xuống tận xương quai xanh - dấu tích không thể xóa nhòa của ngọn lửa hai mươi năm trước.
Tay trái ông ta xách một can nhựa màu xanh đã vặn chặt nắp trở lại. Tay phải cầm một khẩu súng ngắn K54 đã mở chốt an toàn, mũi súng chúc thẳng xuống đất.
"Trần Khắc Luân chết đuối ở Trị An. Đinh Trọng Phúc cháy thành than ở Rạch Lăng. Huỳnh Trí Cao uống xyanua ở Thảo Điền. Đỗ Khắc Khiêm, Trịnh Văn Phát, Nguyễn Khắc Thắng, Trương Vĩnh Tuyến đã bị còng tay trên xe bọc thép của Cảnh sát Quân sự," người đàn ông mang số hiệu 041-882-KT nhìn xuống đáy hầm, giọng lạnh tanh như thép nguội. "Bản án của pháp luật đã bắt đầu chạy. Nhưng còn một thứ chưa bao giờ được đưa vào bất kỳ bản cáo trạng nào."
"Thứ gì?" Lê Hoàng gặng hỏi, từng bước tiến lên nấc thang sắt đầu tiên.
Người đàn ông không nhìn Hoàng. Ông ta ném một bọc vải dù màu cỏ úa xuống sàn đá chẻ dưới chân tôi.
Bọc vải rơi xuống phát ra tiếng kim loại va chạm khô đục.
"Cuốn sổ bàn giao tang vật gốc ngày 12 tháng 11 năm 2004 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng," ông ta nói. "Và mười hai chiếc thẻ tên bằng nhôm dập số thứ tự mà cô Nhàn đã tự tay đeo vào cổ tay từng đứa trẻ trước khi ngọn lửa bùng lên. Chúng nó không chết vô danh. Tên của từng đứa, ngày sinh của từng đứa, và mẫu tóc của từng đứa đều nằm trong đó."
Tôi quỳ một chân xuống sàn đá, dùng bàn tay phải còn nguyên vẹn gỡ lớp dây dù buộc quanh bọc vải.
Bên trong là một cuốn sổ bìa cứng màu xanh công vụ đã ố vàng, mép giấy quăn queo vì ẩm mốc. Kẹp giữa các trang sổ là mười hai chiếc thẻ nhôm nhỏ bằng đầu ngón tay cái, xâu qua một sợi dây thép mảnh. Trên mặt từng chiếc thẻ, những dòng chữ khắc bằng đầu đinh nhọn hiện lên rõ mòn một:
Bé Đen - 5 tuổi.
Bé Phương - 5 tuổi.
Bé Cúc - 6 tuổi.
Bé Tùng - 4 tuổi...
Và chiếc thẻ cuối cùng, nhỏ nhất, chỉ khắc đúng hai chữ: Bé Út - 3 tháng.
Ngực tôi thắt nghẹn lại. Một cảm giác buốt lạnh chạy dọc sống lưng, xộc thẳng lên hốc mắt. Tôi không nhìn những chiếc thẻ nữa. Tôi lật nhanh sang trang cuối cùng của cuốn sổ bàn giao tang vật.
Ở dòng ghi chú số mười ba, dưới mục "Vật chứng thu giữ tại hiện trường sau khi dập lửa", một dòng chữ viết tay bằng mực tím của chính người kỹ thuật viên hình sự hiện ra:
"Thu giữ tại đáy giếng nước sinh hoạt phía sau chái bếp: 01 van khóa tự động bằng đồng áp suất cao, nhãn hiệu Danfoss sản xuất tại Đan Mạch, số seri DF-9904. Van bị khóa chết ở vị trí đóng bằng chốt ngạnh cơ học lắp ngược có chủ ý từ trước thời điểm phát hỏa sáu tiếng. Dấu vân tay thu hồi trên thân van trùng khớp với mẫu vân tay ngón trỏ bàn tay phải lưu trữ tại Tàng thư Căn cước can phạm mang mã số: B.09."
Tôi sững người.
Bàn tay cầm trang giấy khẽ run lên.
"Mã số B.09..." Tôi ngước mắt nhìn lên người đàn ông đứng trên miệng hầm. "Không phải là người của Công an tỉnh Lâm Đồng."
"B.09 là mã quản lý hồ sơ nghiệp vụ của Cục Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Ma túy phía Nam từ những năm 2000," người đàn ông nói, giọng trầm xuống như tiếng đất lở. "Người trực tiếp leo xuống đáy giếng khóa van nước sinh hoạt để cô Nhàn không có một giọt nước nào dập lửa đêm đó... không phải là Đinh Trọng Phúc hay Luân 'Mã Tấu'. Phúc và Luân chỉ là đám côn đồ được thuê tưới xăng vòng ngoài. Kẻ khóa van nước là một sĩ quan trinh sát được phái từ Sài Gòn lên dưới vỏ bọc thanh tra an toàn phòng cháy."
Lê Hoàng bước hẳn lên bậc thang sắt thứ ba, giọng cậu lạc đi: "Kẻ đó là ai?"
Người đàn ông trên miệng hầm nhìn xoáy vào mắt Lê Hoàng, rồi đưa tay kéo chiếc mũ tai bèo lên cao, để lộ toàn bộ khuôn mặt chằng chịt những vết sẹo do mảnh kính nổ găm vào da thịt.
"Hắn chưa từng bị khởi tố trong Chuyên án Mái ấm Hướng Dương. Ba năm trước, hắn chính là kẻ đã cung cấp nguồn tin giả về kho hàng ma túy ở hẻm Cầu Muối cho Trần Vũ. Hắn biết Trần Vũ sẽ dẫn tổ trinh sát của Tuấn vào hẻm cụt. Và sáng nay, khi đoàn xe của Viện Kiểm sát Tối cao ập vào bắt giữ Thượng tá Bùi Khắc Viễn và Trương Vĩnh Tuyến... hắn đã kịp ký lệnh điều động một chiếc trực thăng cứu hộ của Tổng công ty Bay Dịch vụ Miền Nam cất cánh từ sân bay Vũng Tàu."
Người đàn ông khựng lại nửa giây, ngón tay trỏ của ông ta gõ nhẹ ba nhịp lên thân súng K54:
"Chiếc trực thăng đó không bay ra giàn khoan. Nó vừa hạ cánh xuống một bãi đáp tư nhân tại xã Phước Thiềng, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai lúc mười một giờ bốn mươi phút trưa nay. Hắn đang đợi một chuyến ca-nô cao tốc chở hồ sơ tài sản ngầm vượt luồng sông Lòng Tàu ra phao số không."
Điện thoại vệ tinh trong túi áo Hạ Băng bỗng rúc lên một hồi chuông dồn dập.
Băng bấm nút nghe, bật loa ngoài. Giọng Tí Bo truyền qua sóng ngắn ngắt quãng, xen lẫn tiếng gõ bàn phím điên cuồng và tiếng còi hú báo động từ máy chủ:
"Anh Vũ! Anh Hoàng! Hệ thống kiểm soát không lưu vừa phát hiện một chuyến bay đột xuất không có lịch trình thương mại mang số hiệu VN-8622! Người ký lệnh bay khẩn cấp với danh nghĩa 'Kiểm tra an ninh luồng hàng hải đặc biệt' chính là Trung tướng Phạm Quang Đạt - Phó Giám đốc Học viện Cảnh sát, cựu Trưởng ban Chuyên án Ma túy B.09 năm 2004! Ông ta đang mang theo bản gốc sơ đồ mạng lưới rửa tiền xuyên quốc gia của Quỹ Viễn Đông chuẩn bị lên tàu hàng viễn dương tại vịnh Gành Rái!"
Tôi nắm chặt bọc vải dù chứa mười hai chiếc thẻ tên bằng nhôm vào lòng bàn tay, đứng thẳng người dậy dù xương sườn số sáu gãy lìa đang rách toạc từng thớ thịt.
Phía trên miệng hầm, người cựu cán bộ kỹ thuật mang số hiệu 041-882-KT chầm chậm giơ cánh tay trái chào theo điều lệnh CAND về phía chúng tôi, rồi buông một câu lạnh ngắt:
"Hai mươi năm trước, tôi không cứu được lũ trẻ vì hèn nhát. Ba năm trước, tôi không cứu được thằng Tuấn vì sợ chết. Xe bán tải của tôi còn đầy bình dầu ngoài bìa rừng. Các anh có bốn mươi lăm phút trước khi chiếc ca-nô cao tốc của Phạm Quang Đạt rẽ sóng vượt qua phao số mười hai."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.