Chương 75: Thước Phim Dưới Lòng Đất
Tiếng bánh răng của chiếc máy chiếu mười sáu ly rít lên từng hồi khô khốc trong lòng hầm đá chẻ.
Ánh sáng vàng đục từ bóng đèn sợi đốt công suất lớn cắt ngang màn sương ẩm mốc, rọi thẳng lên mảng tường đá hoa cương quét vôi trắng đã bong tróc từng mảng lớn. Hạt bụi li ti quay cuồng trong luồng sáng đặc quánh mùi ozon và axít chì từ bình ắc-quy ô tô.
Trên bức tường, hình ảnh giật cục chuyển động. Thước phim đen trắng không có tiếng, chỉ có tiếng rè rè cơ học và tiếng lách cách của cuộn nhựa trượt qua khe thấu kính.
Người đàn ông trên phim trạc ba mươi lăm tuổi. Bộ quân phục cảnh sát nhân dân thời kỳ cũ với ve hàm Thiếu tá còn thẳng nếp. Gương mặt xương xẩu, hốc mắt sâu và cái sống mũi gồ đặc trưng của dân miền Trung di cư lên xứ lạnh. Không thể nhầm lẫn được. Đó là Thượng tá Lê Văn Bản của hai mươi năm trước.
Lê Hoàng đứng sững trước luồng sáng. Cả thân hình gã cứng đờ như một khối đá tạc. Khẩu súng ngắn trên tay gã buông thõng xuống mép đùi, ngón trỏ tuột khỏi vành cò từ lúc nào không hay. Bóng của Hoàng in thẳng lên bức tường đá, đè chồng lên hình bóng người cha trên màn chiếu.
Hạ Băng khẽ siết chặt chiếc bình áp lực âm ba ngăn đang giữ trên tay. Tiếng bong bóng khí ùng ục réo nhẹ theo từng nhịp thở ngắt quãng của tôi.
"Đừng cử động mạnh," cô thì thầm, giọng phẳng lì nhưng ngón tay giữ quai bình truyền dịch đã trắng bệch vì dùng lực. "Ống silicon bị kéo căng rồi."
Tôi không trả lời. Một cơn ho khan dội lên từ đáy phổi trái, kéo theo vị tanh rỉ ra nơi kẽ răng. Tôi cắn chặt môi dưới, nuốt ngược ngụm máu loãng vào cổ họng. Xương sườn số sáu gãy lìa cọ vào màng phổi tạng đau buốt như có ai thọc mũi kéo cùn vào giữa ngực. Nhưng mắt tôi không rời khỏi bức tường đá.
Trên màn hình, Thiếu tá Lê Văn Bản đang đứng trước cửa hầm trú ẩn bằng nắp gang Indochine — chính là cái nắp cống mà chúng tôi vừa cạy mở mười phút trước. Trên tay ông ta là một sợi xích sắt phi mười hai to bản. Ông ta cúi người, luồn sợi xích qua hai quai then chốt bằng đồng.
Nhưng ông ta không khóa.
Khung hình rung lắc mạnh. Ống kính máy quay dường như được đặt trên vai của một người đang thở dốc. Góc quay hơi nghiêng về bên phải, để lộ bóng một người thứ hai đứng ngay cạnh lối vào chái bếp. Kẻ đó mặc áo măng-tô da màu đen, bàn tay đeo chiếc nhẫn mặt đá ruby đỏ sẫm đang chống vào mép cửa gỗ.
Nguyễn Khắc Thắng.
Tôi nhận ra bóng lưng ấy, nhận ra chiếc nhẫn ruby mà Thắng đã đeo suốt từ thời làm Trưởng phòng Cảnh sát Hình sự Lâm Đồng cho đến tận khi ngồi vào chiếc ghế Trưởng ban Nội chính ở tầng ba trụ sở Thành ủy.
Trên phim, Thắng chỉ tay xuống cửa hầm, môi mấp máy ra lệnh điều gì đó. Lê Văn Bản ngẩng đầu lên. Ánh mắt của ông Bản nhìn thẳng vào ống kính máy quay. Đó không phải là ánh mắt của một kẻ thủ ác lạnh lùng. Đôi mắt ấy mở trừng trừng, tròng mắt đờ đẫn, cơ hàm co giật liên tục.
Bản quỳ một chân xuống sàn đất nện. Tay ông ta run lẩy bẩy khi lồng chiếc khóa gang vào mắt xích. Rồi bất thình lình, trong một giây Thắng quay lưng bước ra ngoài sân, bàn tay trái của Bản nhanh như cắt nhét một vật gì đó vào khe hở giữa hai phiến đá chẻ ngay chân khung cửa hầm, trước khi bấm then khóa lại.
Cảnh phim đổi góc. Ống kính lia nhanh qua khoảng sân đất phía trước Mái ấm Hướng Dương. Đồng hồ cơ ở góc dưới khung hình hiển thị: 23:45 - 11/11/2004. Đúng hai mươi tư giờ trước khi ngọn lửa xăng bùng lên.
Dưới ánh đèn đường vàng vọt của đường Hùng Vương, một chiếc xe con hiệu Toyota Crown biển số xanh 49A-0088 đỗ xịch mép rào dâm bụt. Cửa xe mở, Đinh Trọng Phúc bước xuống, tay xách theo hai can nhựa loại hai mươi lít nồng nặc chất lỏng sẫm màu. Phía sau Phúc, Trần Khắc Luân đứng tựa lưng vào cột đèn, thanh mã tấu dài bọc báo cũ kẹp dưới nách.
Và ở góc tối của chái bếp, bên cạnh lu nước sinh hoạt, bóng một cô gái trẻ mặc áo len mỏng màu hạt dẻ hiện ra.
Bảo mẫu Nguyễn Mai Lan.
Cô đang ôm một bọc vải nhỏ trong lòng, đứa trẻ sơ sinh ba tháng tuổi quấn trong khăn len đỏ. Bên cạnh cô là một cô gái trẻ khác trạc mười chín tuổi — bảo mẫu Nhàn — đang dùng thân mình che chắn cho một đứa bé năm tuổi mặc chiếc áo khoác xanh rách gấu. Đứa bé đó đang ôm khư khư một mẩu cơm cháy vàng ruộm dưới đáy nồi, mắt mở to tròn ngơ ngác nhìn vào máy quay.
Đó là khung hình cuối cùng.
Một tiếng *tách* khô khốc vang lên. Cuộn phim nhựa chạy hết, đuôi phim trắng bóc đập liên hồi vào khung kim loại của máy chiếu. *Bạch... bạch... bạch...*
Căn hầm chìm vào thứ ánh sáng trắng lóa vô hồn của bóng đèn rọi thẳng lên tường đá.
Không ai nói một lời nào. Tiếng nước nhỏ giọt từ vòm đá ẩm ướt rơi xuống nền đất nghe rõ mồn một. *Tõm. Tõm.*
Lê Hoàng vẫn đứng đó. Lưng gã hơi còng xuống. Bả vai gã khẽ rung lên theo từng nhịp thở nặng nhọc.
Tôi bước tới mép bàn gỗ kê máy chiếu. Đôi bốt dã chiến giẫm lên lớp vôi bột và vỏ bao thuốc lá mục nát dưới sàn. Căn hầm này không quá mười lăm mét vuông, xây chìm dưới lòng đất theo lối công sự thời chiến. Bốn bức tường bằng đá chẻ dày hơn nửa mét, lạnh ngắt và sặc mùi vôi sống lẫn hóa chất bảo quản phim.
Trên mặt bàn gỗ thông mục, bên cạnh chiếc máy chiếu đang quay trơn tru, cuốn "Sổ nhật ký tuần tra đặc biệt - Đội CSHS Công an tỉnh Lâm Đồng - Năm 2004" nằm mở toang.
Chiếc kẹp tóc bằng nhôm uốn hình con bướm cháy xém một bên cánh cắm phập vào giữa cuốn sổ, xuyên thẳng qua tấm thẻ ngành Công an nhân dân mang tên Thiếu tá Lê Văn Bản. Mũi kim nhôm ghim chặt góc ảnh chân dung của ông Bản vào thớ giấy ố vàng.
Tôi đưa bàn tay phải còn lành lặn ra, dùng đầu ngón tay kẹp nhẹ thân nhôm rút chiếc kẹp tóc lên. Mũi kim rỉ sét rít nhẹ trên mặt giấy pơ-luya.
Trang sổ tuần tra đề ngày 11 tháng 11 năm 2004. Nét chữ viết tay bằng bút máy Hồng Hà mực xanh Cửu Long. Mực sắt kiềm đã ngả sang màu tím xám theo năm tháng, nhưng từng nét gạch dưới chân trang vẫn sắc và sâu như khắc vào thớ gỗ.
Tôi đọc từng dòng chữ viết vội:
"21:00 - Nhận lệnh điều động khẩn cấp từ Trưởng phòng Nguyễn Khắc Thắng. Nhiệm vụ: Kiểm tra hiện trạng an ninh trật tự tại Mái ấm Hướng Dương, phường 3.
22:30 - Phát hiện 03 giếng khoan thăm dò địa chất trái phép sau vườn rau của cơ sở. Mũi khoan lấy mẫu quặng quấn cờ định vị quân sự. Đã lập biên bản niêm phong bước đầu. Bảo mẫu Nguyễn Mai Lan cung cấp tài liệu: Đơn khiếu nại gửi Thường trực Tỉnh ủy về việc đất Mái ấm bị ép giải tỏa trắng.
23:15 - Đồng chí Thắng có mặt tại hiện trường cùng đồng chí Trịnh Văn Phát. Ra lệnh thu hồi toàn bộ biên bản kiểm tra và đơn khiếu nại. Thắng thông báo: Toàn bộ khu đất 15 ha đã được Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Chỉ đạo Tây Nguyên phê duyệt làm vùng công trình an ninh quốc phòng dự phòng theo mật lệnh C.04. Yêu cầu khóa niêm phong căn hầm trú ẩn dưới chái bếp để làm kho chứa thiết bị đo đạc tác chiến.
23:40 - Tôi từ chối bàn giao chìa khóa hầm. Thắng đưa ra hồ sơ bệnh án chuyển viện của vợ tôi (Bệnh viện Ung bướu Changi - Singapore) kèm biên lai bảo lãnh viện phí 200.000.000 VNĐ do Công ty Tây Nguyên chi trả. Thắng tuyên bố: 'Nếu đêm nay chìa khóa không tra vào ổ, chuyến bay sáng mai của vợ anh sẽ bị hủy vì lý do an ninh xuất nhập cảnh.'
23:50 - Tôi đã khóa xích cửa hầm theo lệnh. Nhưng đã bí mật thả chìa khóa phụ vào khe đá số 4 góc chân tường phía Tây. Mai Lan và Nhàn đã biết vị trí chìa khóa. Tôi dặn họ đưa lũ trẻ xuống hầm nếu có biến động trong đêm.
Tôi đã bán danh dự của một sĩ quan cảnh sát để đổi lấy mạng sống của vợ mình. Bản án này, tôi sẽ mang theo xuống mồ."
Phía dưới dòng chữ cuối cùng là chữ ký tươi của Lê Văn Bản, nét gạch nối giữa chữ V và B hơi run rẩy, ngập ngừng đứt quãng.
Tôi lật sang trang kế tiếp. Trang giấy ngày 12 tháng 11 năm 2004 bị xé toạc chỉ còn lại mép giấy nham nhở dính một vệt máu khô màu nâu sẫm.
Tôi nhìn sang Lê Hoàng. Gã vẫn đứng bất động. Đôi mắt gã nhìn chằm chằm vào tấm thẻ ngành bị đâm thủng trên bàn. Gương mặt người cha thời trẻ trong tấm ảnh đen trắng đang nhìn lại gã, nghiêm cẩn và cô độc dưới lớp nhựa ép đã ố vàng.
"Ông ấy..." Giọng Hoàng khàn đặc như có sạn cào trong cổ họng. "Ông ấy đã không bỏ mặc họ."
"Không," tôi nói, giọng trầm xuống. "Ông Bản không bỏ mặc. Ông ấy để lại chìa khóa phụ cho Mai Lan. Ông ấy tính đường cho họ thoát."
"Nhưng bọn chúng không dùng cửa trước để xua người," Hạ Băng bước tới cạnh tôi, ánh mắt cô dừng lại trên mép trang giấy rách. "Chúng đổ xăng qua khe cửa sổ và khóa xích đè thêm một lớp khóa phụ ở cửa sau. Đinh Trọng Phúc đã dùng xích phi mười sáu quấn chặt lối thoát duy nhất ra đường hẻm."
"Và ngọn lửa bùng lên quá nhanh vì có dung môi hydrocacbon nặng," tôi tiếp lời, ngón tay miết nhẹ lên mặt kính đồng hồ máy chiếu. "Khói độc khiến họ ngạt khí trước khi kịp chạm tới khe đá lấy chìa khóa."
Một khoảng im lặng chết chóc bao trùm căn hầm.
Tôi mở bao thuốc lá Thăng Long trong túi áo khoác. Vỏ bao bẹp dúm, chỉ còn trơ lại đúng một điếu gãy đôi đầu lọc, thân thuốc dính một vệt cồn y tế ngả màu vàng nhạt. Tôi kẹp nửa điếu thuốc vào môi, rút chiếc bật lửa ga cũ ra quẹt.
Tách. Tách. Bật ba lần lửa mới bén.
Một luồng khói khét lẹt xộc thẳng vào cuống họng, đắng ngắt. Khói thuốc quyện với mùi đá ẩm và mùi tro tàn hai mươi năm trước như một thứ thuốc độc ngấm dần vào từng tế bào thần kinh.
Tôi nhìn xuống đôi bàn tay mình. Những khớp xương thô ráp, chai sạn vì bao năm cầm súng, cầm xà beng, bới móc những góc tối tăm nhất của cái đất Sài Gòn này. Ba năm trước, tôi đã để mất Tuấn trong một con hẻm cụt ngập bùn ở Cầu Muối. Tôi tưởng mình đã gánh hết tội lỗi của sự ngạo mạn. Nhưng không. Bàn cờ này được sắp đặt từ khi tôi còn là một thằng lính trinh sát mới ra trường, chạy việc vặt cho Nguyễn Khắc Thắng.
Chúng tôi đều là những quân cờ bị đẩy lên mép vực, chỉ để những kẻ mặc vest sang trọng ngồi trên cao ung dung ký vào những bản quy hoạch nghìn tỷ.
Tôi thở ra một ngụm khói mỏng. Lớp vỏ bọc chai lì trong ngực khẽ nứt toác ra một khe hẹp. Cơn đau không nằm ở xương sườn gãy, nó nằm ở chỗ tôi nhận ra rằng công lý mà chúng tôi tôn thờ bấy lâu nay thực chất chỉ là những mảnh giấy pơ-luya rách nát được lưu trữ dưới một căn hầm tối tăm không có ánh mặt trời.
Tôi nhếch mép, buông một tiếng cười khẽ, khô khốc như tiếng củi nổ:
"Hóa ra... cái thành phố này dạy chúng ta nghiệp vụ điều tra chỉ để học cách im lặng cho đúng quy trình."
Tôi kẹp điếu thuốc ném xuống sàn đá, dùng mũi giày giẫm nát tàn lửa đỏ. Lớp vỏ bọc đóng sầm lại. Mọi thứ trở về trạng thái sắc lạnh thường nhật.
"Hoàng," tôi gọi cộc lốc. "Kiểm tra khe đá số bốn góc tường phía Tây."
Lê Hoàng giật mình như vừa bừng tỉnh sau một cơn ác mộng dài. Gã nuốt khan một ngụm nước bọt, bước nhanh về phía góc hầm chìm trong bóng tối.
Gã rút đèn pin chiến thuật, rọi thẳng vào chân móng bằng đá chẻ. Lớp vữa tam hợp thời Pháp đã mục nát, để lộ những kẽ nứt sâu hoắm chạy dọc chân tường. Gã luồn ngón tay vào khe đá thứ tư từ dưới đếm lên.
Tiếng kim loại cọ vào đá nghe *ken két*.
Hoàng rút tay ra. Trong lòng bàn tay gã là một chiếc chìa khóa bằng đồng thau ba cạnh, đuôi chìa buộc một sợi dây cước câu cá đã giòn vụn. Và dính liền với chiếc chìa khóa là một ống kim loại nhỏ bằng ngón tay út, bịt kín hai đầu bằng sáp nến đỏ.
"Vật chứng của ông Bản," Hạ Băng thì thầm, bước tới soi đèn soi huỳnh quang vào lớp sáp. "Sáp niêm phong tài liệu mật của Phòng Kỹ thuật hình sự năm 2004."
Hoàng dùng móng tay cạo lớp sáp nến. Gã rút ra từ bên trong ống kim loại một cuộn phim âm bản ba mươi lăm ly cắt ngắn, chỉ dài khoảng sáu khung hình.
Tôi cầm cuộn phim đưa lên trước bóng đèn sợi đốt của máy chiếu.
Dưới ánh sáng vàng rực, từng khung hình âm bản hiện lên rõ nét:
Khung hình thứ nhất: Bản đồ đo đạc địa chất tỷ lệ 1/2000, có chữ ký phê duyệt của Thường trực Hội đồng Quy hoạch Quốc gia, khoanh vùng mỏ đất hiếm nằm trọn dưới móng Mái ấm Hướng Dương.
Khung hình thứ hai: Tờ biên bản thanh lý tài sản và danh sách mười hai đứa trẻ mồ côi, có bút phê của Đỗ Khắc Khiêm: "Giải tỏa dứt điểm trước kỳ họp HĐND. Không lưu hồ sơ phụ."
Khung hình thứ ba: Một văn bản thỏa thuận viết tay giữa Võ Khang và đại diện Quỹ Đầu tư Viễn Đông tại Hồng Kông, cam kết trích ba mươi phần trăm lợi nhuận khai thác mỏ để chuyển vào tài khoản số 904-882-1104-CH tại Zurich mang tên Phan Hải Nam (C.04).
Và khung hình thứ tư...
Tôi nheo mắt lại. Đồng tử co thắt dữ dội.
Đó là một bức ảnh chụp bên trong căn phòng làm việc của Trưởng phòng CSHS Lâm Đồng đêm 11/11/2004. Trên bàn làm việc, bên cạnh khẩu súng ngắn K54 và con dấu đồng của cơ quan điều tra, là một danh sách nhân sự tham gia "Tổ công tác xử lý điểm nóng Hướng Dương".
Danh sách gồm bốn cái tên:
1. Thiếu tá Lê Văn Bản - Tổ trưởng (Ký nhận nhiệm vụ).
2. Đại úy Đinh Trọng Phúc - Thành viên (Thực hiện thu hồi mặt bằng).
3. Thiếu úy Trần Khắc Luân - Hỗ trợ vòng ngoài.
Và người thứ tư, cán bộ kỹ thuật phụ trách ghi hình và lưu trữ tang vật độc lập:
4. Trung úy...
Tên của người thứ tư bị một vệt mực bút dạ đen xóa đè lên. Nhưng số hiệu sĩ quan an ninh ghi bên cạnh vẫn còn nguyên vẹn từng con số dập nổi:
"041-882-KT".
Căn hầm bỗng chốc trở nên ngột ngạt đến nghẹt thở. Không khí như bị rút cạn sạch.
Số hiệu 041-882-KT.
Đó là số hiệu sĩ quan của Đại úy Nguyễn Tuấn — người đồng đội đã chết ba năm trước ở Cầu Muối. Nhưng hai mươi năm trước, số hiệu này thuộc về ai?
Tuấn vào ngành năm 2012. Số hiệu của anh ta được cấp lại từ kho số hiệu sĩ quan dự bị của Công an tỉnh Lâm Đồng sau khi chuyển vùng về Sài Gòn. Người đầu tiên mang số hiệu 041-882-KT chính là người đã cầm chiếc máy ảnh Zenit chụp lại bức ảnh tang vật số 01 vào trưa ngày 11/11/2004.
Người đứng sau ống kính máy quay mười sáu ly đêm hôm đó. Người đã chứng kiến Lê Văn Bản giấu chìa khóa vào khe đá. Người đã ghi lại toàn bộ sự thật mà không một ai hay biết suốt hai thập kỷ qua.
"Vũ..." Hạ Băng đột ngột ngẩng đầu lên, tai cô khẽ giật. "Anh có nghe thấy gì không?"
Tôi lập tức tắt công tắc máy chiếu. Tiếng bánh răng cơ học tắt lịm. Căn hầm đá chẻ chìm vào bóng tối đen đặc, chỉ còn lại ánh sáng leo lét từ hai chiếc đèn pin chiến thuật.
Từ phía trên nắp cống gang, xuyên qua lớp đất đá của nền chái bếp cũ, truyền xuống một âm thanh cơ học rất khẽ.
*Rè... rè... rè...*
Đó là tiếng động cơ xe bán tải đang gầm gừ ở chế độ không tải, dừng lại ngay mép ta-luy âm phía sau rặng thông.
Tiếp theo đó là tiếng bước chân giẫm lên lớp lá thông khô mục. Bước chân khập khiễng, nặng nề, một bên chân kéo lê trên nền đất sỏi. *Xoẹt... cộp. Xoẹt... cộp.*
Kẻ lái chiếc xe bán tải biển số Gia Lai đã đến.
Tiếng bước chân dừng lại ngay trên miệng nắp cống gang Indochine.
Một giây. Hai giây.
Bỗng nhiên, từ chiếc máy bộ đàm dã chiến đặt trong túi áo khoác của tôi, tiếng rè rè của sóng ngắn bị chèn ngang bởi một đoạn âm thanh quen thuộc.
Tiếng hộp nhạc thiếu nhi thập niên 2000 phát ra giai điệu bài hát của Mái ấm Hướng Dương, lanh lảnh và lạnh buốt như sương mù cao nguyên lúc nửa đêm.
Sau khúc nhạc dạo, một giọng nói biến âm qua thiết bị lọc kỹ thuật số vang lên từ loa ngoài bộ đàm, trầm đục và khô khốc:
"Đội phó Trần Vũ... Anh đã xem hết cuốn phim của Thiếu tá Bản chưa?"
Lê Hoàng giương súng lên, nòng súng K59 chĩa thẳng lên nắp cống gang phía trên đỉnh đầu. Ngón tay gã siết nhẹ vào vành cò, gân xanh nổi cuồn cuộn trên mu bàn tay.
Tôi giơ tay phải ra hiệu cho Hoàng giữ nguyên vị trí. Bàn tay trái tê dại vì đứt dây thần kinh cố bám chặt vào mép bàn gỗ để giữ thăng bằng. Lồng ngực tôi phập phồng đau nhức, máu tươi thấm đỏ lớp băng thun ngoài áo sơ mi.
Tôi bấm nút đàm thoại trên máy bộ đàm, giọng lạnh tanh:
"Mày là ai?"
Bên kia đầu sóng không trả lời ngay.
Chỉ có ba tiếng gõ cơ học vang lên đều đặn qua micro:
*Cộc. Cộc. Cộc.*
Đúng ba nhịp. Trùng khớp tuyệt đối với nhịp đồng hồ cát ba mươi phút ở Thảo Điền, nhịp gõ trên báng súng ở đèo Khánh Lê, và nhịp ngón tay vô thức của Nguyễn Minh Đăng trong cơn mê sảng.
Rồi giọng nói kia cất lên, lần này không còn biến âm nữa. Đó là một giọng nói khàn đặc của một người đàn ông trung niên, mang âm sắc nặng nề của vùng đất đỏ Tây Nguyên:
"Tôi là người đã bấm máy quay cuộn phim mười sáu ly đó, Trần Vũ. Và tôi đang đứng ngay trên đầu các anh cùng hai mươi lít dung môi công nghiệp cuối cùng."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.