Giao Lộ Mờ Sương

Chương 74: Mùi Khét Dưới Chân Đèo

Đăng: 23/08/2026 03:30 3,378 từ 1 lượt đọc

Tiếng còi xe cấp cứu bị nuốt chửng bởi tiếng mưa ràn rạt trên nắp ca-pô chiếc Ford Ranger. Sáu giờ bốn mươi phút sáng. Sài Gòn mở mắt bằng một màu chì đục ngầu và thứ mùi tanh nồng của rác ngập nước dạt vào chân cầu Calmette.

Lê Hoàng đạp lút ga. Kim đồng hồ tốc độ rung bần bật quanh vạch một trăm. Xe chồm qua giao lộ Mai Chí Thọ, lao thẳng vào cao tốc Long Thành - Dầu Giây. Bánh xe cày qua những vũng nước đọng, bắn thành hai bức tường bọt trắng xóa sang hai bên dải phân cách.

Hạ Băng ngồi ở băng sau, hai tay ghì chặt bình áp lực âm ba ngăn đặt kẹp giữa hai đầu gối. Ống silicon cắm vào ngách sườn hoành bên trái của tôi giật nảy theo từng cú xóc của mặt đường. Máu loãng quyện với bọt khí sủi tăm lục bục trong khoang chứa đầu tiên.

Mỗi lần lốp xe dập vào gờ giảm tốc, đầu xương sườn số sáu gãy lìa lại nghiến rào rạo vào lá phổi. Cơn đau không nhói lên từng cơn nữa. Nó trở thành một khối kim loại nung đỏ đóng đinh cứng ngắc vào lồng ngực.

Tôi cắn chặt môi dưới. Vị máu tanh mặn tứa ra nơi đầu lưỡi giúp tôi giữ cho đồng tử khỏi dại đi vì thiếu oxy.

"Huyết áp bảy mươi trên bốn mươi." Hạ Băng vỗ mạnh mu bàn tay tôi, giọng sắc như dao mổ nhưng đuôi mắt giật nhẹ. "Ngậm viên giảm đau sủi bọt này dưới lưỡi. Không được nuốt. Để nó ngấm qua niêm mạc."

Tôi há miệng, đón lấy viên thuốc đắng ngắt. Vị bạc hà cay xè lẫn với bột hóa chất làm cuống họng tôi tê rần.

"Hoàng." Tôi thều thào, giọng khàn đặc như tiếng giấy ráp mài trên tôn rỉ. "Còn bao xa?"

"Hai trăm mười cây số nữa." Hoàng không quay đầu lại. Hai bàn tay gã bóp chặt vô-lăng đến mức các khớp ngón trắng bệch ra, gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên cẳng tay. "Nếu qua được đèo Chuối trước mười giờ, tao sẽ đưa mày tới đỉnh đèo Prenn lúc mười một giờ bốn mươi."

Gã không nhắc một chữ nào về cuộc điện thoại từ bàn trực nhà xác.

Kẻ nặc danh đã ném cái tên Thượng tá Lê Văn Bản vào giữa buồng lạnh số 2 như một quả lựu đạn rút chốt. Cáo buộc ông Bản là người tự tay sập chốt ngoài cánh cửa hầm trú ẩn dưới sàn bếp Mái ấm Hướng Dương trước khi lửa bùng lên hai mươi năm trước đang treo lơ lửng giữa khoang lái như một sợi thừng vô hình.

Tôi với tay kéo tấm che nắng phía trước, lôi bức ảnh tang vật số 01 ra dưới ánh đèn trần lờ mờ.

Bức ảnh đen trắng kích thước mười tám nhân hai mươi tư xăng-ti-mét ép plastic. Mười hai đứa trẻ. Bảo mẫu Mai Lan bế đứa bé ba tháng tuổi quấn tã len. Chị Nhàn đang bẻ miếng cơm cháy đáy nồi chia cho thằng Đen gầy guộc. Và góc phải là một bóng người mặc quân phục công an mang máy ảnh Zenit, khuôn mặt bị gạch xóa bằng mực bút máy xanh lam công vụ.

Mép dưới bức ảnh có dấu dập nổi giáp lai của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng năm 2004. Nhưng góc bấm kim đã bị xé toạc, để lại một vết rách hình bán nguyệt còn vệt ố axeton. Có kẻ đã dùng dung môi tẩy sơn móng tay để bóc bức ảnh này ra khỏi tập hồ sơ gốc trước khi toàn bộ chuyên án 1104 bị Thượng tá Đỗ Khắc Khiêm ra lệnh tiêu hủy.

Tôi lật mặt sau. Tọa độ GPS bằng mực bi đỏ đập vào mắt: 11°56'14.2"N 108°26'03.8"E. Mép vực ta-luy âm, ngay sau lưng chái bếp cũ. Hẹn đúng mười hai giờ trưa.

"Mày có biết vì sao ảnh chụp ngày mười một tháng mười một không?" Tôi hỏi, mắt nhìn thẳng vào gáy Hoàng.

Hoàng nhả chân ga một phần mười giây rồi đạp mạnh hơn. "Một ngày trước vụ cháy."

"Không chỉ có thế." Tôi gõ đầu ngón tay tê dại lên mặt kính plastic. "Góc chụp từ dưới sân hắt lên, ngược sáng hoàn toàn. Người cầm máy ảnh không phải thợ chụp dạo. Hắn dùng ống kính tiêu cự năm mươi mi-li-mét của lính kỹ thuật hình sự. Hắn đứng đúng ở vị trí van cấp nước sinh hoạt chính của mái ấm. Để chụp được góc này, hắn phải đứng chắn ngay trước lối thoát duy nhất thông ra đường Hùng Vương."

Hạ Băng cúi xuống, ngón tay đeo găng y tế chỉ vào vệt mực xanh xóa mặt viên sĩ quan. "Mực này có gốc kiềm sắt, loại chuyên dùng cho bút máy Kim Tinh phân phối cho cán bộ cấp phòng trở lên vào đầu thập niên hai nghìn. Nét gạch rất mạnh, rách cả lớp tráng bạc của giấy ảnh. Người gạch mặt không muốn ai nhận ra người trong ảnh, hoặc chính người trong ảnh đã tự gạch mặt mình."

"Ba tao không dùng bút Kim Tinh." Giọng Hoàng khô khốc, cắt ngang tiếng gió rít qua khe cửa kính. "Ông già tao bị viêm khớp ngón tay từ hồi ở chiến trường Tây Nam. Tay ông ấy run. Chữ ký luôn có nét móc ngược ở đuôi. Nét gạch này thẳng băng, dứt khoát như một nhát chém."

Tôi nhìn kính chiếu hậu. Gương mặt Hoàng đanh lại, cứng đờ như một tảng đá hoa cương. Một giọt mồ hôi chảy từ thái dương gã xuống cằm, đọng lại nơi khóe môi rồi rơi xuống ngực áo.

"Tao không nói đó là ông Bản," tôi bảo. "Tao chỉ muốn biết vì sao bức ảnh này lại nằm trong ngăn kéo số mười hai của nhà xác thành phố suốt hai mươi năm mà không ai biết."

"Vì ngăn số mười hai là ngăn lưu tiêu bản pháp y của các vụ án treo thuộc diện đặc biệt bảo mật," Hạ Băng đáp, giọng bình thản một cách lạnh lùng. "Hồ sơ giấy có thể bị đốt, máy tính có thể bị xóa dữ liệu, nhưng những gì đã tống vào ngăn kéo lạnh bằng thép không gỉ của trạm giám định trung ương thì chỉ có ba người có chìa khóa cơ học: Giám đốc Phân viện, Trưởng ban Pháp y Quân khu, và sĩ quan phụ trách tàng thư vật chứng của Bộ. Kẻ giấu bức ảnh vào đó biết chắc Khiêm và Phát không bao giờ dám lục tung nhà xác để tìm một bức ảnh cũ."

Xe lao ra khỏi cao tốc, rẽ vào Quốc lộ 20. Đoạn đường qua Tân Phú bắt đầu xấu đi. Ổ gà, ổ voi nối tiếp nhau dưới làn mưa như trút nước.

Tôi cắn chặt răng. Mỗi cú nảy của xe là một lần bình áp lực âm réo lên tiếng rít xé tai. Ống dẫn lưu bị kéo căng, kéo giật màng phổi trái của tôi ra khỏi thành ngực. Cảm giác ruột gan bị đảo lộn trong một cái thùng phuy rỉ sét. Tôi đưa tay sờ vào túi áo ngực.

Chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm của bảo mẫu Mai Lan cấn vào xương quai xanh. Kim loại lạnh ngắt.

Tôi rút bao thuốc lá Thăng Long trong túi quần ra. Vỏ bao bẹp dúm, ướt sũng nước mưa và dịch cồn y tế. Còn đúng một điếu gãy gập làm đôi. Tôi ngậm nửa điếu thuốc vào môi, móc chiếc bật lửa nhựa mòn đá.

Quẹt lần thứ nhất. Chỉ có tia lửa xòe ra rồi tắt ngấm.
Quẹt lần thứ hai. Bấc ướt, khét lẹt mùi ga.
Quẹt lần thứ ba.

Hạ Băng vươn tay ra, giật phắt điếu thuốc trên môi tôi ném xuống sàn xe, giẫm mũi giày bốt lên.

"Màng phổi đang rò khí âm hai mươi phân khối," cô nói, mắt nhìn thẳng vào mắt tôi, không chớp. "Mày muốn chết ngạt trước khi lên tới đèo à?"

Tôi nhìn điếu thuốc bẹp gí dưới đế giày của cô. Tôi nhếch mép, buông thõng hai tay xuống đùi.

"Tao chỉ muốn thử xem bật lửa còn dùng được không thôi."

Hạ Băng không đáp. Cô rút một miếng gạc vô trùng mới, tẩm cồn đỏ rồi ấn mạnh vào mép chân ống silicon đang rỉ máu trên sườn tôi. Tay cô hơi run. Chỉ nửa giây thôi. Rồi các ngón tay lại siết chặt lại, lạnh băng và chuẩn xác như một cái kìm phẫu thuật.

Chín giờ ba mươi phút sáng. Xe bắt đầu bò lên đèo Bảo Lộc.

Mưa ở cao nguyên không rơi thành hạt. Nó là một tấm màn sương mù xám xịt, nhớp nháp, đặc quánh mùi lá mục và hơi đất đỏ bazan nồng nặc. Tầm nhìn phía trước tụt xuống chưa đầy mười mét. Đèn pha xe Ranger chỉ rọi ra hai luồng sáng vàng vọt bị sương nuốt chửng ngay trước mũi ca-pô.

Khúc cua km 104 hiện ra.

Chính là nơi ba ngày trước tôi và Hạ Băng tìm thấy chiếc áo khoác bệnh nhân dính máu của Đăng và cọc tiêu gãy viết phấn vàng. Đất đá sạt lở từ vách núi hôm trước đã bị máy xúc gạt tạm sang một bên, tạo thành một gờ bùn nhão nhoét cao tới nửa mét.

Hoàng giật mạnh cần số phụ, gài cầu hai bánh trước. Chiếc bán tải gầm lên, bốn bánh gai cày tung lớp bùn đỏ, trượt ngang đuôi xe chừng nửa mét rồi bám chặt vào mặt đường nhựa sần sùi.

"Tí Bo vừa nhắn tin qua sóng vệ tinh," Hoàng nói, mắt dán chặt vào gương cầu lồi ở khúc cua tay áo. "Hệ thống định vị của xe công vụ thuộc Phân khu 7 đang tập trung toàn bộ ở trụ sở Tỉnh ủy Lâm Đồng. Bọn chúng chưa biết hướng di chuyển của mình. Nhưng có một xe bán tải biển số trắng đăng ký tại Gia Lai đã vượt trạm thu phí Liên Đầm lúc chín giờ mười lăm."

"Xe của ai?" Tôi hỏi.

"Không có trong hệ thống đăng kiểm dân sự," Hoàng đáp. "Mã khung xe thuộc lô thanh lý của Cục Hậu cần sáu năm trước. Đó là xe của dân trinh sát ngoại tuyến cũ."

Tôi nhìn đồng hồ trên bảng điều khiển: mười giờ bốn mươi phút. Còn đúng một tiếng hai mươi phút nữa.

"Tăng tốc đi," tôi bảo. "Kẻ mang bức ảnh số một lên Đà Lạt không phải đi để trốn. Hắn đi để mở khóa."

"Mở khóa cái gì?"

"Căn hầm." Tôi dựa đầu vào kính xe rung bần bật. "Năm hai nghìn lẻ bốn, Mái ấm Hướng Dương được xây trên nền một biệt thự Pháp cổ thời kỳ ba mươi. Người Pháp không bao giờ xây nhà gỗ trên nền đất dốc mà không làm hầm chứa củi và hầm trú ẩn bằng đá chẻ. Chái bếp nơi lửa bùng lên đầu tiên thực chất là nóc của cửa hầm thoát hiểm."

Tôi nhắm mắt lại, ghép từng mảnh vỡ trong đầu.

"Hai can xăng mười lít của Đinh Trọng Phúc không đủ để thiêu rụi toàn bộ kết cấu gỗ thông ba gian trong vòng mười lăm phút. Dung môi hydrocacbon nặng có phụ gia tăng nhiệt được bơm từ xe bồn ngầm đã biến toàn bộ khu nhà thành một cái lò luyện kim. Bảo mẫu Mai Lan và chị Nhàn không thể chạy ra cửa trước vì đã bị Luân 'Mã Tấu' chặn đường. Bản năng của họ là gì? Là lùa mười hai đứa trẻ xuống căn hầm trú ẩn bằng đá chẻ dưới chân bếp."

Hoàng nín thở. Tiếng gạt nước kêu ken két trên kính chắn gió.

"Và cửa hầm đã bị sập chốt từ bên ngoài," tôi nói tiếp, từng chữ rơi ra nặng trĩu. "Không phải sập bằng then cài gỗ. Cửa hầm thời Pháp dùng khóa chốt xoay cơ học bằng đồng thau, chỉ có thể khóa từ bên ngoài nếu có chìa ba cạnh hoặc bị chèn nêm sắt. Kẻ đứng ở góc chụp bức ảnh số một... chính là kẻ cầm chiếc nêm sắt đó."

Chiếc Ford Ranger vượt qua đỉnh đèo Prenn lúc mười một giờ ba mươi lăm phút.

Đà Lạt đón chúng tôi bằng một cơn mưa rỉ rả buốt lạnh thấu xương. Không khí loãng ở độ cao một ngàn năm trăm mét lập tức tấn công vào phổi tôi. Áp suất khí quyển tụt làm khoang màng phổi trái căng phồng lên. Tôi ho sặc sụa, bọt máu tươi trào qua khóe miệng, nhỏ tong tòng xuống vạt áo sơ mi rách bươm.

Hạ Băng lập tức rút xi-lanh năm mươi mi-li-lít gắn vào van phụ của ống dẫn lưu, kéo pít-tông hút ngược ra một lượng khí lẫn máu bầm đen. Lồng ngực tôi xẹp xuống một chút, nhưng cơn choáng váng làm đầu tôi quay cuồng như rơi vào hố sâu.

"Mười một giờ năm mươi," Hoàng phanh gấp.

Chiếc xe đỗ xịch dưới rặng thông già sau lưng khu đất đổ nát của khách sạn Grand Palace.

Hiện trường vụ cháy hôm trước vẫn còn sặc mùi tro than và hóa chất dập lửa. Toàn bộ sảnh chính khách sạn đã sập hoàn toàn thành một đống xà bần đen ngòm, trơ ra những thanh dầm thép xoắn quẩy dưới mưa.

Nhưng chúng tôi không đi về phía sảnh.

Hoàng đạp tung cửa xe, vòng qua bên phụ đỡ tôi xuống. Đôi chân tôi mềm nhũn như bún. Hai gót giày lún sâu vào lớp mùn thông ướt sũng. Hạ Băng xách bình áp lực âm đi sát bên sườn trái tôi, giữ cho đoạn ống silicon không bị căng giật.

Chúng tôi đi xuyên qua rặng dã quỳ gãy nát, tiến về phía triền dốc thoải nhìn xuống thung lũng ta-luy âm.

Đúng tọa độ 11°56'14.2"N 108°26'03.8"E.

Nền gạch tàu cũ của chái bếp năm 2004 nằm lộ thiên dưới gốc cây dã quỳ cổ thụ cháy xém một nửa. Lớp tro tàn hai mươi năm qua đã bị nước mưa xói mòn, để lộ ra một tấm nắp cống bằng gang đúc hình chữ nhật, kích thước một mét nhân một mét hai.

Trên mặt nắp gang, dòng chữ tiếng Pháp "FONDERIE DE L'INDOCHINE - 1938" đã rỉ sét vàng khè.

Và ngay trên quai sắt của nắp gang, một sợi xích thép phi mười sáu mới tinh quấn chặt ba vòng, khóa lại bằng một ổ khóa đồng công nghiệp Việt-Tiệp số hiệu cũ.

Bên cạnh ổ khóa, đặt một chiếc hộp sắt đựng bánh quy Danisa đã hoen rỉ. Trên nắp hộp dằn một hòn đá cuội xám, bên dưới kẹp một mẩu giấy pơ-luya gấp tư.

Đúng mười hai giờ trưa.

Tiếng chuông nhà thờ Con Gà từ xa vọng lại qua màn sương mù, từng tiếng chuông ngân trầm đục gõ vào không gian vắng lặng. Boong. Boong. Boong. Đúng mười hai nhịp.

Hoàng buông tôi ra, rút khẩu K59 lùi lại nửa bước, mắt quét nhanh qua các gốc thông xung quanh. Không có bóng người. Không có tiếng động cơ. Chỉ có tiếng mưa rơi lộp độp trên tán lá mục.

Tôi quỳ một chân xuống nền gạch tàu lạnh buốt. Bùn đất ngấm qua gối quần rách, buốt nhói vào xương. Tôi nhấc hòn đá cuội, mở tờ giấy pơ-luya ra.

Chữ viết bằng bút bi đỏ, nét chữ run rẩy, xiêu vẹo nhưng đè rất sâu vào thớ giấy:

"BẢN ÁN CUỐI CÙNG KHÔNG DÀNH CHO KẺ CẦM LỬA. NÓ DÀNH CHO KẺ ĐÃ BỎ MẶC ĐỒNG ĐỘI ĐỂ ĐỔI LẤY SỰ IM LẶNG. MỞ CỬA HẦM ĐI, TRẦN VŨ. MÀY SẼ THẤY THỨ MÀ HAI MƯƠI NĂM TRƯỚC BA THẰNG HOÀNG ĐÃ NHÌN THẤY."

Phía dưới dòng chữ kẹp một chiếc chìa khóa bằng đồng thau ba cạnh cũ kỹ, loại chìa chuyên dụng để mở ổ khóa gang thời Pháp.

"Chờ đã," Hạ Băng giữ chặt tay tôi khi tôi vừa cầm chiếc chìa khóa lên. Cô chỉ vào khe nắp gang. "Có dây cước."

Tôi cúi sát mặt xuống khe nắp cống. Mùi ẩm mốc hai mươi năm quyện với mùi dầu hỏa bốc lên nồng nặc.

Một sợi dây cước kim loại mảnh như sợi tóc được luồn khéo léo từ quai xích sắt xuống bên dưới bản lề gang. Nếu giật mạnh nắp cống lên mà không cắt dây, chốt cơ khí bên dưới sẽ giật nổ một khối bẫy nhiệt đặt ngầm trong lòng hầm.

"Kìm cắt phẫu thuật," tôi đưa tay ra sau.

Hạ Băng rút chiếc kìm kẹp mạch máu đầu cong trong túi y tế đưa cho tôi. Tay tôi tê dại vì đứt nhánh nông thần kinh quay, các ngón tay co quắp lại không theo ý muốn. Tôi phải dùng cả bàn tay phải giữ chặt cẳng tay trái, ép chặt hai gọng kìm vào sợi dây cước.

Tách.

Sợi dây đứt ngọt. Đầu dây thụt lùi vào bóng tối bên dưới.

Hoàng bước tới, dùng nòng súng K59 luồn vào quai xích sắt, bẩy mạnh. Ổ khóa đồng bật tung chốt. Gã và tôi cùng dùng sức kéo cánh nắp gang nặng trịch sang một bên.

Một luồng khí lạnh ngắt, đặc quánh mùi vôi sống, mùi gỗ mục và tro tàn bốc thốc lên mặt chúng tôi.

Ánh sáng ban ngày rọi xuống lòng hầm sâu chừng hai mét rưỡi.

Những bậc thang bằng đá chẻ phủ đầy rêu đen dẫn xuống một khoảng không gian rộng chừng mười lăm mét vuông. Dưới đáy hầm, không có vàng bạc, không có quặng đất hiếm, cũng không có xương cốt của mười hai đứa trẻ.

Chỉ có một chiếc bàn gỗ thông mục nát kê ở góc tường.

Trên mặt bàn, một chiếc máy chiếu phim nhựa 16mm đời cũ của Liên Xô đang được cắm sẵn vào một bình ắc-quy ô tô còn chớp đèn báo nguồn màu xanh lá cây.

Ống kính máy chiếu hướng thẳng vào bức tường đá chẻ đối diện. Trên bức tường đá, có ai đó đã dùng sơn trắng quét phẳng một khung hình chữ nhật một mét nhân một mét năm.

Cạnh máy chiếu là một cuốn sổ bìa cứng màu xanh công an đã ố vàng, bìa ghi rõ: "SỔ NHẬT KÝ TUẦN TRA ĐẶC BIỆT - ĐỘI CẢNH SÁT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG - NĂM 2004".

Và đặt ngay ngắn trên cuốn sổ là một chiếc thẻ ngành CAND bằng nhựa ép plastic mang tên:

"THƯỢNG TÁ LÊ VĂN BẢN - PHÓ GIÁM ĐỐC CÔNG AN TỈNH LÂM ĐỒNG."

Bức ảnh trên thẻ ngành bị đâm xuyên qua chính giữa ngực bởi một chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm thứ hai—hoàn toàn giống hệt chiếc kẹp tóc tôi đang giữ trong túi áo ngực.

Hoàng đứng chết trân ở bậc thang thứ hai. Khẩu súng trên tay gã buông thõng xuống bên hông.

Cùng lúc đó, rơ-le nhiệt trong máy chiếu 16mm phát ra một tiếng "tạch" khô khốc.

Cuộn băng phim nhựa bắt đầu quay đều đều. Ống kính phóng ra một luồng sáng vàng đục rọi thẳng lên bức tường đá trắng xóa.

Hình ảnh đầu tiên hiện lên trên màn đá chẻ rung rinh trong tiếng máy chạy lạch cạch: Đêm mười một tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn. Một người đàn ông mang quân hàm Thiếu tá Công an đứng trước cửa hầm trú ẩn này, tay cầm xích sắt, quay mặt lại nhìn thẳng vào ống kính máy quay.

Đó chính là gương mặt của Thượng tá Lê Văn Bản hai mươi năm trước.

0