Chương 73: Ngăn Kéo Số Mười Hai
Mùi cồn đỏ sát trùng quyện với mùi da bọc ghế ướt sũng trong khoang xe cứu thương tạo thành một thứ không khí lợm giọng.
Còi ưu tiên rú từng hồi ngắn, xé toạc màn mưa rả rích trên đường Lê Lợi. Đèn xoay khẩn cấp quét những vệt sáng xanh đỏ loang loáng lên mặt kính các cửa hàng thời trang triệu đô đóng cửa sớm. Bên ngoài kia, trung tâm Sài Gòn vẫn đang lấp lánh như một bàn cờ dát vàng vừa được lau sạch bụi. Những kẻ mặc vest ngồi trong khách sạn năm sao đã bị còng tay, những con tàu đen ngoài vịnh đã bị khóa xích.
Người ta sẽ gọi đêm nay là một chiến công. Báo chí sáng mai sẽ giật tít về sự nghiêm minh của pháp luật. Nhưng máu chảy trong lồng ngực tôi thì không biết đọc báo.
Tôi ngồi tựa lưng vào thành xe, hai mắt dán chặt vào màn hình chiếc Nokia đen trắng.
Dòng tin nhắn chỉ vỏn vẹn một câu, không dấu, gửi từ địa chỉ IP nội bộ của Trung tâm Giám định Pháp y Thành phố:
"MOT BUC ANH NUA VUA DUOC TIM THAY TRONG NHA XAC."
Hạ Băng ngồi đối diện. Chiếc áo blouse trắng của cô đã lấm lem những vệt bùn non từ bến cảng Cần Giờ và vụn thạch cao ở sảnh khách sạn Rex. Đôi tay mang găng cao su dính đầy dịch vàng và máu khô của cô đang giữ chặt bình áp lực âm ba ngăn đặt dưới sàn xe. Ống silicon cỡ 28F cắm giữa khoang liên sườn số năm của tôi khẽ giật theo từng nhịp thở, sủi lên những bọt khí li ti kèm theo thứ dịch màu hồng nhạt.
"Áp lực nội ngực đang tăng." Giọng Băng lạnh như đá, không ngẩng đầu lên. "Nhịp tim một trăm ba lăm. Mạch cảnh đập yếu. Nếu anh không vào phòng mổ của Bệnh viện Ba mươi tháng Tư trong vòng hai mươi phút nữa, van màng phổi sẽ tràn khí ngược. Khi đó, không ai cứu được cái phổi bên trái của anh đâu."
Lê Hoàng ngồi ở ghế phụ phía trước, xoay người lại qua ô cửa kính ngăn cách. Khẩu súng ngắn quân dụng giắt bên hông anh đã được đóng chốt an toàn, nhưng ngón tay trỏ vẫn đặt hờ trên bao da theo phản xạ. Ánh đèn đường vàng đục hắt qua kính chắn gió làm nổi rõ những sợi gân đỏ ngầu trong mắt anh.
"Chuyên án đã kết thúc rồi, Vũ." Hoàng nói, giọng khàn đặc vì khói thuốc và hơi lạnh. "Hồ sơ gốc của ông già tao đã giao cho Viện Kiểm sát Tối cao. Tướng Cửu, Đỗ Khắc Khiêm, Trịnh Văn Phát, Trương Vĩnh Tuyến... tất cả đã vào tròng. Không còn ai có thể lật ngược bản án được nữa. Mày đã trả xong nợ cho Tuấn."
Tôi không trả lời. Tôi với tay rút bao Thăng Long bẹp dúm trong túi áo khoác.
Gói thuốc ướt nhẹp. Ba điếu bên trong đã gãy nát, thuốc lá rã ra thành những sợi mùn nâu bết chặt vào nhau. Tôi lôi ra một điếu gãy đôi, ngậm phần đầu lọc ngắn cũn vào miệng, thọc tay vào túi quần tìm bật lửa.
Bàn tay trái tê dại. Vết chém của con dao gốm phủ titan lúc giao đấu trên đài chỉ huy tàu chở hóa chất đã cắt đứt một nhánh thần kinh quay. Tôi không cảm nhận được ngón cái và ngón trỏ. Mũi khâu chỉ lụa căng cứng, rỉ ra một vệt máu tươi thấm ướt lớp băng gạc trắng toát.
Tôi bật lửa bằng tay phải. Bánh xe đánh lửa kêu rẹt rẹt ba lần. Lửa bùng lên, soi rõ khóe môi nứt nẻ đóng vảy máu của tôi.
Băng vươn tay tới. Cô không giật điếu thuốc, chỉ đưa ngón tay trỏ kẹp chặt lấy đầu điếu thuốc lá vừa bén lửa, bẻ gãy gập nó xuống rồi ném thẳng vào chiếc khay inox đựng gạc bẩn dưới chân.
"Hút đi, để cái ống dẫn lưu này hút luôn tro thuốc lá vào khoang màng phổi của anh." Cô nói, giọng đều đều không chút dao động, nhưng ánh mắt nhìn thẳng vào đồng tử tôi. "Nói cho tôi biết, tin nhắn đó có ý gì?"
"Máy chủ nhà xác không bao giờ tự gửi tin nhắn." Tôi nuốt ngụm máu tanh trào lên cuống họng, giọng khản đặc như tiếng kim loại cọ trên nền đá. "Trừ khi có ai đó dùng máy tính của phòng trực ca đêm."
"Ai?" Hoàng hỏi dồn.
"Kẻ biết rõ tôi sẽ không bao giờ dừng lại chừng nào chưa nhìn thấy bức ảnh cuối cùng."
Tôi nhìn qua cửa sổ xe. Mưa bắt đầu nặng hạt hơn. Nước tràn qua các miệng cống nghẹt rác ở ngã tư Nguyễn Tri Phương, tạo thành những vũng nước đen ngòm phản chiếu ánh đèn neon của các hiệu thuốc tây mở muộn. Cái mùi sình lầy, mùi hôi thối quen thuộc của đất Sài Gòn sau cơn mưa rào tháng Bảy lại bốc lên, đặc quánh.
Đây là thành phố của tôi. Một bãi rác khổng lồ được trát lên một lớp sơn bóng loáng của những dự án bất động sản nghìn tỷ. Hai mươi năm trước, người ta đốt một mái ấm để lấy mười lăm héc-ta đất rừng. Ba năm trước, người ta bắn chết một sĩ quan cảnh sát giữa hẻm cụt ngập nước cống để bảo vệ những con số trong tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ.
Tôi tưởng bắt hết lũ mặc vest là xong. Nhưng cái thành phố này không vận hành đơn giản như vậy. Khi một cái cây mục rỗng bị đốn hạ, rễ của nó vẫn còn bám chặt dưới lòng đất đen.
"Tài xế, rẽ phải vào đường Trang Tử." Tôi đập tay vào vách ngăn buồng lái.
"Trần Vũ!" Tiếng Băng gắt lên. Lần đầu tiên trong suốt hai mươi bốn giờ qua, giọng cô mất đi sự bình thản cơ học của một bác sĩ pháp y. "Huyết áp của anh chỉ còn tám mươi trên năm mươi. Anh đang sốc mất máu kín. Anh muốn chết trước cửa nhà xác à?"
"Nếu tôi chết ở đó, cô đỡ phải tốn tiền thuê xe chở xác." Tôi nhếch mép, buông một câu cợt nhả rồi cắn chặt môi dưới.
Cơn đau từ xương sườn số sáu gãy lìa truyền thẳng lên hộp sọ, buốt nhói như có một mũi khoan cắm vào tủy. Vị máu mặn chát tràn ra đầu lưỡi giúp tôi giữ cho mí mắt không sụp xuống.
Hoàng nhìn tôi năm giây qua gương chiếu hậu. Anh hiểu cái vẻ mặt đó của tôi. Ba năm trước, khi xác Tuấn được kéo ra khỏi hẻm Cầu Muối, tôi cũng nhìn anh bằng ánh mắt này.
Hoàng rút bao Thăng Long còn nguyên trong túi áo mình, rút một điếu kẹp vào môi, không châm lửa. Anh gật đầu với tài xế: "Chuyển hướng. Về Trung tâm Pháp y."
*
Trung tâm Giám định Pháp y Thành phố nằm lọt thỏm giữa những khối nhà chung cư cũ kỹ ở Quận 5. Bốn bề vắng lặng như tờ, chỉ có tiếng nước mưa chảy xối xả từ máng xối tôn rỉ sét xuống nền sân xi măng nứt nẻ.
Chiếc xe cứu thương tắt còi, trườn êm vào lối đi dành riêng cho xe chở tử thi ở tầng bán hầm.
Không khí ở đây lạnh hơn ngoài phố ít nhất năm độ. Một thứ lạnh nhân tạo, nồng nặc mùi hóa chất khử trùng iodine, mùi dung dịch formol bảo quản mô hạt và cái mùi đặc trưng không thể lẫn vào đâu được của xác thịt người chết đang phân hủy chậm dưới nhiệt độ bốn độ C.
Cánh cửa trượt kim loại dẫn vào phòng lạnh số 2 hé mở khoảng mười phân. Đèn tuýp trên trần nhấp nháy liên hồi, phát ra tiếng vo ve u ám của một tụ điện sắp cháy.
Trên bàn trực của kỹ thuật viên ca đêm, một ly cà phê đá đã tan hết thành thứ nước lờ nhờ màu cánh gián, cặn cà phê đen kịt đọng dưới đáy ly thủy tinh. Chiếc màn hình máy tính để bàn CRT đời cũ vẫn sáng xanh, hiển thị giao diện phần mềm quản lý lưu trữ thi thể nội bộ. Dòng lệnh truy xuất gần nhất được thực hiện lúc 06:12 sáng, cách đây đúng mười lăm phút.
Tên tài khoản đăng nhập là một chuỗi mã định danh đã bị xóa quyền quản trị từ ba năm trước: KT-041882.
Mã số quân tịch cũ của Nguyễn Tuấn.
Lê Hoàng bước vào trước, tay cầm khẩu K59 đã lên đạn, mũi súng chúc xuống đất theo đúng quy tắc tác chiến không gian hẹp. Anh lia mắt quét qua góc phòng, sau các dãy tủ đựng hóa chất và gầm bàn inox mổ tử thi.
"Không có người." Hoàng hạ giọng. "Kỹ thuật viên trực ban bị ai đó gọi điện điều lên phòng hành chính tầng ba nhận văn bản khẩn."
Hạ Băng xách bình dẫn lưu đi sát sau lưng tôi. Mỗi bước chân của tôi nặng như đeo chì. Khớp gối run rẩy, lồng ngực trái co thắt từng cơn theo mỗi nhịp hít vào. Tôi phải bám tay vào mép bàn giải phẫu bằng thép không gỉ để giữ cho cơ thể không đổ sụp xuống nền gạch men lạnh buốt.
"Ngăn kéo nào?" Tôi hỏi, mắt nhìn vào màn hình máy tính.
Băng bước tới bàn phím, ngón tay đeo găng gõ nhanh vài phím điều hướng. Màn hình nhấp nháy, hiện lên sơ đồ ba mươi hai ngăn tủ bảo quản lạnh của phân khu B.
Ngăn số 12 nhấp nháy đèn đỏ báo động.
Ghi chú lưu kho hiển thị trên hệ thống: "Tử thi vô danh số 1104 - Tiếp nhận ngày 12/11/2004 - Chuyển giao từ Công an tỉnh Lâm Đồng."
Tôi khựng lại nửa nhịp thở.
Hai mươi năm trước. Đêm ngọn lửa Mái ấm Hướng Dương bốc cháy.
Tất cả tám nạn nhân tử vong trong vụ cháy năm đó đều đã được đưa vào một ngôi mộ tập thể không bia đá tại nghĩa trang Đồi Thông ở Đà Lạt. Hồ sơ lưu trữ của Sở Lao động Thương binh và Xã hội đã bị thiêu hủy. Vậy cái gì đang nằm trong ngăn kéo số 12 này suốt hai mươi năm qua?
Hoàng bước tới trước dãy tủ kim loại sáng loáng. Mặt tủ đọng những giọt nước ngưng tụ li ti như mồ hôi hột. Anh đặt tay lên tay nắm bằng thép của ngăn số 12, nhìn tôi một cái.
"Mở đi." Tôi nói.
Cánh cửa ngăn kéo bật mở với một tiếng rít khô khốc của gioăng cao su bị đông cứng. Một luồng hơi lạnh buốt mang theo mùi băng phiến và cồn công nghiệp bốc ra nghi ngút.
Băng ca kim loại từ từ trượt ra ngoài ray dẫn hướng.
Không có tử thi nào nằm trên đó.
Thay vào đó, trên mặt khay thép sáng loáng chỉ đặt trơ trọi một chiếc khay mổ hình hạt đậu bằng inox. Bên trong chiếc khay là một túi ni-lông quân y màu vàng đục được dán kín miệng bằng ba lớp băng keo vải chống ẩm.
Và đặt ngay bên cạnh chiếc túi ni-lông là một chiếc kẹp tóc bằng nhôm uốn hình con bướm bị cháy xém một bên cánh.
Một chiếc giống hệt chiếc tôi đang cất trong túi áo ngực. Kỷ vật của bảo mẫu Nguyễn Mai Lan.
Ngón tay tôi vô thức chạm vào ngực áo trái. Lớp vải dù cọ vào đầu ống dẫn lưu đau nhói, nhưng đầu óc tôi bỗng chốc trống rỗng.
Tôi đứng chết trân trước ngăn kéo số 12. Trong ba giây, lớp vỏ bọc chai sạn, lạnh lùng mà tôi dựng lên suốt ba năm qua dường như nứt toác ra một khe hở sâu hoắm. Hình ảnh Tuấn nằm trên cáng cứu thương đêm đó, bàn tay đẫm máu nắm chặt chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm đưa cho tôi trước khi trút hơi thở cuối cùng, hiện về rõ mồn một như vừa mới xảy ra vài phút trước.
"Vũ." Tiếng Hoàng gọi khẽ, kéo tôi giật mình quay lại thực tại.
Tôi chớp mắt hai lần, nuốt khan thứ dịch đắng ngắt trong cổ họng xuống. Tôi thọc tay vào túi quần, lấy ra chiếc khăn tay sờn góc, quấn quanh các ngón tay phải rồi cầm chiếc túi ni-lông lên.
"Cái này không phải đồ lưu trữ từ hai mươi năm trước." Tôi nói, giọng cộc lốc, cố tình xua đi khoảng lặng chết chóc trong căn phòng. "Băng keo vải này là loại mới sản xuất, mép dán chưa hề bám bụi đông lạnh. Có kẻ vừa đặt nó vào đây chưa đầy ba mươi phút trước."
Hạ Băng bước tới, rút chiếc kéo phẫu thuật trên khay dụng cụ, cẩn thận cắt dọc theo đường dán băng keo.
Bên trong túi ni-lông lộ ra một bức ảnh đen trắng khổ 18x24cm, được ép plastic cẩn thận. Bề mặt tấm ảnh đã ố vàng theo thời gian, các góc mép bị sờn rách, nhưng những chi tiết bên trong vẫn còn sắc nét đến rợn người.
Đó là bức ảnh chụp trước cổng Mái ấm Hướng Dương vào một buổi sáng ngập nắng của mùa hoa dã quỳ năm 2004.
Trong ảnh có mười hai đứa trẻ mặc áo len màu đỏ và xanh, ngồi thành hai hàng trên bậc thềm đá. Đứng phía sau chúng là ba người lớn.
Người phụ nữ ở giữa là bảo mẫu Nguyễn Mai Lan, khi đó mới hai mươi tư tuổi, nụ cười hiền hậu và đôi mắt sáng ngời, trên mái tóc cài chiếc kẹp nhôm hình con bướm. Đứng bên tay trái cô là một cô gái trẻ trạc mười chín tuổi mặc chiếc áo len cổ lọ sờn vai, tay đang ôm chặt một đứa bé sơ sinh ba tháng tuổi bọc trong khăn len màu xám.
Và người đàn ông đứng bên tay phải, mặc chiếc áo khoác gió bộ đội cũ, chân đi ủng da, trên tay cầm chiếc máy ảnh cơ hiệu Zenit...
Mặt của người đàn ông đó đã bị một vệt mực bút dạ màu xanh lam gạch chéo một đường dứt khoát từ trán xuống cằm.
Nhưng điều khiến tim tôi đập dồn dập không phải là người đàn ông bị gạch mặt.
Mà là góc dưới bên phải của bức ảnh.
Ở đó, một cậu bé khoảng năm tuổi, mặc chiếc áo len đen thủng cùi chỏ, đang ngồi co ro một góc bậc thềm. Cậu bé không nhìn vào ống kính máy ảnh. Cậu đang ngửa mặt nhìn người bảo mẫu trẻ tuổi mười chín tuổi đứng cạnh Mai Lan. Trên tay cậu bé là một bát cơm kim loại nhỏ, dưới đáy bát có một miếng cháy cơm vàng rộm được cạo ra từ đáy nồi gang.
Dưới chân bức ảnh, một dòng chữ viết tay bằng mực tím Cửu Long đã phai màu, nét chữ run rẩy nhưng ngay ngắn:
"Chị Nhàn chia cơm cháy cho thằng Đen - Ngày 11 tháng 11 năm 2004."
Chị Nhàn.
Người bảo mẫu mười chín tuổi của Mái ấm Hướng Dương. Người đã quay lại biển lửa đêm hôm sau để tìm hai đứa trẻ bị kẹt lại dưới gầm giường bếp, và không bao giờ bước ra nữa.
Tôi lật mặt sau của bức ảnh.
Dưới ánh đèn tuýp nhấp nháy của nhà xác, mặt sau bức ảnh hiện lên hai dòng chữ viết tay bằng bút bi đỏ tươi. Nét mực còn mới tinh, chưa kịp khô hoàn toàn, bóng loáng trên nền giấy ảnh nhám:
"BẢN ÁN CỦA PHÁP LUẬT ĐÃ XONG.
BẢN ÁN CỦA NGỌN LỬA... CÒN MỘT NGƯỜI NỮA, ĐỘI PHÓ TRẦN VŨ."
Phía dưới dòng chữ là một tọa độ GPS được ghi vội bằng những con số sắc nhọn:
"11°56'14.2"N 108°26'03.8"E // 12:00 TRƯA NAY."
Hoàng nhìn chằm chằm vào tọa độ trên bức ảnh, mắt nheo lại: "Đây là tọa độ ở đâu?"
"Đà Lạt." Hạ Băng trả lời ngay tắp lự. Cô là người gốc Lâm Đồng, cô thuộc những dãy số này hơn bất kỳ ai. "Khu vực sườn đồi phía sau Mái ấm Hướng Dương cũ. Ngay sát mép vực ta-luy âm dẫn xuống thung lũng dã quỳ."
"Kẻ nào viết dòng chữ này?" Hoàng siết chặt khẩu súng ngắn trong tay, khớp ngón tay trắng bệch. "Đăng đã chết lúc nửa đêm ở Phân viện Quân y. Bác sĩ Thiện và VKS Quân sự đã niêm phong thi thể nó dưới hầm B2. Ai là kẻ đang tiếp tục thi hành bản án?"
Tôi không nhìn Hoàng. Tôi cúi đầu nhìn bức ảnh trên tay.
Ngón tay tôi lướt nhẹ qua hình ảnh người đàn ông mặc áo khoác bộ đội cầm máy ảnh đứng bên cạnh bảo mẫu Mai Lan.
Người đàn ông bị gạch mặt bằng mực xanh lam.
Vết gạch bằng mực xanh. Không phải mực đỏ như những bức ảnh ở penthouse của Phạm Kiến Quốc, ở ngã tư Hàng Xanh của Ngô Bách Hưng, hay ở gốc cây dã quỳ của Trịnh Văn Phát.
Tại sao lại là mực xanh?
Trong khoa học hình sự, việc thay đổi chất liệu hoặc màu sắc đánh dấu luôn phản ánh sự thay đổi về mặt động cơ hoặc chủ thể thực hiện hành vi. Màu đỏ là hành quyết, là thù hận, là bản án tử hình bằng máu. Còn màu xanh...
Màu xanh là mực bút máy công vụ. Loại mực Cửu Long truyền thống mà các cán bộ điều tra hình sự thế hệ cũ thường dùng để ghi sổ nhật ký chuyên án.
"Không phải người ngoài." Tôi thì thầm, tiếng nói lọt qua kẽ răng rỉ máu. "Bức ảnh này được lấy ra từ hồ sơ lưu trữ nghiệp vụ cá nhân của một sĩ quan điều tra."
"Ý mày là sao?" Hoàng bước tới một bước, trán nhíu chặt.
"Nhìn kỹ góc trên bên trái bức ảnh đi." Tôi giơ bức ảnh ra dưới ánh đèn rọi.
Ở góc trên bên trái, lớp giấy ảnh ép plastic có một lỗ bấm hình tròn đường kính 5mm bị rách mép — dấu vết cơ học đặc trưng của việc bức ảnh từng bị kẹp bằng kim bấm hai chạc vào một bìa hồ sơ chuyên án bằng bìa các-tông của ngành công an thập niên 90.
Và trên mép viền trắng của tấm ảnh, có một vết ố hình bầu dục mờ nhạt do dung dịch axeton tẩy mực để lại. Dưới lớp ố đó, nếu nhìn nghiêng dưới góc ánh sáng ba mươi độ, vẫn còn hằn lên những nét chữ dập chìm của máy đánh chữ cơ:
"TANG VẬT SỐ 01 - CHUYÊN ÁN 1104/LĐ - NGƯỜI THU GIỮ: ĐẠI ÚY..."
Phần tên người thu giữ đã bị dùng dao cạo rách nát lớp mặt giấy.
Nhưng có một chi tiết không thể cạo hết.
Dưới đáy chữ bị cạo, vẫn còn sót lại một dấu chấm tròn bằng mực đỏ chống giả — con dấu mật mã cá nhân của điều tra viên thụ lý chính vụ án cháy Mái ấm Hướng Dương năm 2004 trước khi hồ sơ bị Thượng tá Đỗ Khắc Khiêm và Trịnh Văn Phát phong tỏa để kết luận là chập điện.
"Người đầu tiên tiếp cận hiện trường vụ cháy năm hai nghìn lẻ bốn..." Tôi nói chậm rãi, từng chữ một rơi xuống sàn đá lạnh ngắt của nhà xác. "...không phải là Trịnh Văn Phát. Phát chỉ là kẻ đến sau để chỉ đạo dập lửa giả và thu dọn hiện trường."
"Vậy ai là người đến trước?" Băng hỏi, ánh mắt cô xoáy thẳng vào mặt tôi.
"Người chụp bức ảnh này." Tôi chỉ vào người đàn ông mặc áo khoác bộ đội cũ cầm chiếc Zenit. "Người đã đứng ở bậc thềm Mái ấm Hướng Dương vào ngày mười một tháng Mười một năm hai nghìn lẻ bốn, đúng hai mươi tư tiếng trước khi can xăng đầu tiên bị đổ qua khe cửa sổ chái bếp."
Căn phòng rơi vào một sự im lặng nghẹt thở.
Chỉ còn tiếng bình dẫn lưu màng phổi sủi bọt ục ục dưới chân Băng và tiếng mưa quất rát mặt kính thông gió tầng bán hầm.
Tiếng chuông điện thoại bàn của phòng trực nhà xác bỗng nhiên vang lên chói tai.
Reng. Reng. Reng.
Ba hồi chuông dài, sắc lạnh, xé toạc không gian ẩm mốc.
Lê Hoàng lập tức giơ súng, tiến lại gần bàn trực. Anh bấm nút bật loa ngoài của chiếc điện thoại bàn màu xám phủ bụi.
Tách.
Không có tiếng người nói.
Từ đầu dây bên kia, chỉ có tiếng gió rít qua những tán thông già trên cao nguyên, tiếng cành cây khô gãy răng rắc dưới bước chân người, và một giai điệu quen thuộc phát ra từ chiếc hộp nhạc thiếu nhi cơ học.
Một bài hát đồng dao trẻ con thập niên 2000, rè rè qua màng loa điện thoại cũ kỹ.
Sau ba mươi giây phát nhạc, bài hát dừng lại bằng một tiếng "Tách" cơ học của lò xo hộp nhạc.
Rồi một giọng nói đàn ông trung niên, khàn đặc, trầm đục và mang âm sắc đặc trưng của vùng đất lạnh Lâm Đồng cất lên, chậm rãi từng từ:
"Mười hai đứa trẻ của Mái ấm Hướng Dương không chết vì lòng tham của một dự án bất động sản, Trần Vũ. Bọn chúng chết... vì người ta cần một ngôi mộ tập thể để chôn giấu một bí mật khác."
"Mày là ai?" Hoàng gầm lên vào ống nghe.
"Hỏi cha của cậu đi, Đội trưởng Lê Hoàng." Giọng nói bên kia đầu dây không hề biến đổi âm sắc, lạnh lẽo như băng tuyết trên đỉnh Langbiang mùa đông. "Hỏi ông Lê Văn Bản xem... đêm mười hai tháng Mười một năm hai nghìn lẻ bốn, ai là người đã khóa chốt ngoài của cánh cửa hầm trú ẩn dưới sàn bếp trước khi Đinh Trọng Phúc châm que diêm đầu tiên."
Cụp.
Cuộc gọi bị ngắt hoàn toàn. Tín hiệu tút dài đơn điệu vang lên trong căn phòng lạnh.
Lê Hoàng đứng chôn chân tại chỗ, bàn tay cầm khẩu súng ngắn run lên bần bật. Gương mặt anh xám ngoét như màu da của những xác chết nằm trong ngăn kéo sau lưng.
Tôi không nhìn Hoàng.
Tôi cắn chặt môi dưới, vị máu tanh nồng tràn ngập khoang miệng. Cơn đau từ mạn sườn trái lại giáng xuống một đòn nặng nề, làm tầm nhìn của tôi nhòe đi trong giây lát.
Hai mươi năm.
Chúng tôi tưởng mình đã đi đến tận cùng của bàn cờ. Tưởng rằng những bản hợp đồng ủy thác, những tài khoản triệu đô ở Thụy Sĩ, những chuyến tàu chở hóa chất và những kẻ quyền lực nhất đã là điểm kết thúc của tội ác.
Nhưng không phải.
Tấm màn nhung vừa hạ xuống, chỉ để lộ ra một cánh cửa sắt hoen rỉ khác nằm sâu hơn dưới đáy vực.
Tôi thọc tay vào túi áo ngực, chạm vào chiếc kẹp tóc hình con bướm bằng nhôm của bảo mẫu Mai Lan.
Đồng hồ trên tường nhà xác chỉ 06:30 sáng.
Từ Sài Gòn lên đến sườn đồi Mái ấm Hướng Dương ở Đà Lạt mất đúng năm tiếng rưỡi chạy xe vượt đèo Bảo Lộc.
Vừa đúng mười hai giờ trưa.
Tôi quay người bước ra phía cửa hầm xe cứu thương, bàn chân kéo lê trên nền gạch men ướt sũng.
"Lên xe." Tôi nói, không ngoái đầu lại. "Chúng ta còn một bản án nữa phải thi hành."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.