Chương 12: Mùi Hạnh Nhân Và Tro Tàn
Mùi hạnh nhân đắng bốc ra từ khoang miệng người chết không giống mùi đồ ngọt trong mấy tiệm bánh sang trọng ở Thảo Điền. Nó xộc thẳng vào mũi, hắc, lạnh và tanh nồng như mùi rỉ sắt bị ngâm lâu ngày dưới đáy cống.
Tôi đứng tựa lưng vào khung cửa gỗ gõ đỏ của căn phòng làm việc, hai ngón tay cái kẹp chặt lấy mạn sườn trái. Hai cái xương sườn số sáu và số bảy rạn nứt đang gầm gào sau mỗi nhịp thở. Liều codein uống vội lúc trưa đã bắt đầu tan hết tác dụng, để lại một cảm giác bỏng rát âm ỉ dọc từ xương ức xuống hông. Cơn đau này nhắc tôi nhớ mình vẫn còn là một bọc thịt biết thở giữa cái thành phố mà người ta sẵn sàng bẻ gãy từng cái xương của nhau chỉ vì một mảnh đất.
Trên chiếc ghế bành bọc da bò nhập khẩu, Huỳnh Trí Cao ngồi bất động. Lưng ông ta tựa thẳng, hai mắt trợn trừng nhìn trân trân lên trần thạch cao dát vàng. Làn da mặt của cựu Phó Chủ tịch tỉnh không tái nhợt như những cái xác chết đuối hay chết treo; nó ánh lên một sắc hồng cánh sen kỳ dị, màu sắc đặc trưng của những kẻ bị kali xyanua khóa chặt chuỗi hô hấp tế bào. Máu vẫn còn oxy nhưng các mô cơ quan đã ngạt thở đến chết.
Dưới chân ông ta, chiếc ly pha lê uống rượu ngoại vỡ vụn trên thảm lông thú. Mảnh đá nhân tạo trong suốt đã tan hết, chỉ còn lại một vũng nước nhỏ trộn lẫn với rượu màu hổ phách và một thứ bột trắng lờ mờ lắng dưới sợi thảm.
Tiếng còi hụ của xe Viện Pháp y vọng vào từ cổng compound, xé toạc không gian yên tĩnh giả tạo của khu biệt thự ven sông.
Cánh cửa phòng bật mở. Hạ Băng bước vào.
Cô mặc bộ đồ bảo hộ y tế màu xanh nhạt, mái tóc buộc gọn sau gáy, đôi mắt sau lớp kính bảo hộ vẫn phẳng lặng như mặt nước giếng sâu. Đi sau cô là hai kỹ thuật viên pháp y xách theo hai va ly nhôm chuyên dụng. Băng lướt mắt qua căn phòng, dừng lại ở tôi đúng một giây. Không có lời chào. Không có câu hỏi thăm sáo rỗng. Ở cái nghề này, người ta nhìn nhau qua cách người kia còn đứng vững hay sắp ngã.
"Mùi xyanua đậm lắm," Băng nói, giọng trầm và khô khốc qua lớp khẩu trang than hoạt tính. "Mở hết cửa sổ thông gió ra bờ sông. Tất cả lùi lại ba mét."
Lê Hoàng đang đứng bên bàn làm việc, tay cầm điện thoại áp chặt vào tai. Gương mặt Đội trưởng Trọng án căng như dây đàn, những đường gân xanh nổi cộm bên thái dương.
"Dạ, báo cáo đồng chí Phó Giám đốc... Hiện trường đã phong tỏa hoàn toàn... Dạ, nạn nhân thứ tư đã tử vong tại chỗ... Đội đang phối hợp với Pháp y và Kỹ thuật hình sự..."
Hoàng ngắt máy, thở hắt ra một hơi dài nồng nặc khói thuốc. Cậu ta quay sang nhìn cái xác của Huỳnh Trí Cao, ánh mắt đầy sự bất lực của một kẻ vừa bị tát một cái trời giáng vào quy trình nghiệp vụ. Trong vòng chưa đầy mười hai tiếng đồng hồ, bốn con người từng thâu tóm quyền lực và tiền bạc của một thời đã lần lượt biến thành những cái xác bất động theo đúng một kịch bản không hề có sai số.
Băng quỳ xuống cạnh thi thể, mở hộp dụng cụ. Đôi bàn tay đeo găng cao su màu trắng của cô cử động nhanh, chính xác và lạnh lùng như một cỗ máy. Cô dùng tăm bông chuyên dụng quét lấy mẫu dịch tiết sùi ra ở khóe miệng nạn nhân, sau đó cẩn thận gắp một mảnh vụn của viên đá nhân tạo còn sót lại gần chân bàn cho vào ống nghiệm có dán nhãn niêm phong.
"Đồng tử giãn cực đại. Niêm mạc miệng xung huyết đỏ tươi. Co cứng tử thi bắt đầu xuất hiện ở các nhóm cơ mặt và hàm," Băng đọc thông số cho kỹ thuật viên ghi chép, giọng đều đều không chút cảm xúc. "Liều lượng xyanua đưa vào đường tiêu hóa ước tính tối thiểu phải từ ba trăm đến năm trăm miligram. Nạn nhân ngưng tim và ngừng thở trong vòng chưa đầy ba phút sau khi nuốt phải ngụm rượu đầu tiên."
Tôi bước khẽ tới gần, cố giữ cho bước chân không bị khập khiễng. Mắt tôi không nhìn vào khuôn mặt biến dạng của Huỳnh Trí Cao, mà nhìn vào bàn tay phải của ông ta đang buông thõng xuống mép ghế.
Những ngón tay của người chết co quắp lại thành hình móng vuốt, mu bàn tay nổi rõ những đốm đồi mồi của tuổi già. Nhưng ở ngón tay trỏ, một vệt mực bút dạ đen đậm vẫn còn hằn rõ ở mép móng.
"Xem cái này đi," tôi chỉ tay về phía chiếc két sắt mini đặt chìm trong hốc tường gỗ sau lưng bàn làm việc.
Cánh cửa két sắt bằng thép dày ba phân đã bị cạy bung mép bằng một loại xà beng thủy lực nhỏ gọn. Bên trong rỗng tuếch, chỉ còn trơ trọi một tập tài liệu mỏng bằng giấy can ngả vàng có bìa ghi dòng chữ: Hồ sơ thanh lý tài sản và bàn giao mặt bằng - Mái ấm Hướng Dương năm 2004.
Lê Hoàng bước lại gần, chiếc đèn pin nghiệp vụ trên tay cậu ta rọi thẳng vào trang giấy duy nhất còn sót lại bên trong kẹp hồ sơ. Đó là tờ biên bản kiểm kê nhân sự lập ngày mười tháng mười một năm 2004, tức là hai ngày trước đêm ngọn lửa bùng lên.
Ở mục thứ tám của danh sách, dòng chữ ghi tên bảo mẫu Nguyễn Mai Lan cùng đứa con sơ sinh ba tháng tuổi vừa bị một vệt bút dạ đen gạch xóa nát bấy. Vết mực dày cộm, lem cả sang mép giấy bên cạnh.
Hoàng đưa ngón tay bọc găng miết nhẹ lên vết mực.
"Mực còn ẩm," Hoàng gằn giọng. "Kẻ cạy két sắt không phải làm việc này từ đêm qua. Nó làm việc này ngay trước khi chúng ta phá cổng ập vào."
"Không phải nó," tôi thì thầm, giọng khàn đặc. "Mà là kẻ đang ở ngay trong căn nhà này."
Cả gian phòng rơi vào một khoảng im lặng chết chóc. Chỉ có tiếng gió từ khúc quanh sông Sài Gòn thổi thốc qua khung cửa sổ vừa mở, mang theo hơi nước ẩm ướt và mùi bùn nồng của mùa mưa tháng Bảy.
Trinh sát Nguyễn Minh Đăng bước vào phòng, tay ôm một tập hồ sơ niêm phong và chiếc máy quay kỹ thuật số. Cậu ta mặc chiếc áo gió đồng phục ngành cài kín cổ tay, chiếc mũ lưỡi trai kéo sụp xuống trán.
"Báo cáo anh Hoàng, anh Vũ," Đăng lên tiếng, giọng lễ phép và rành rọt như mọi khi. "Tổ kỹ thuật đã kiểm tra xong toàn bộ hệ thống camera an ninh của compound Thảo Điền Riverside. Đúng mười hai giờ mười lăm phút trưa nay, cảm biến hồng ngoại ở đoạn bờ kè phía sau biệt thự số mười bốn bị sụt áp nguồn ba phút hai mươi giây do chạm chập đường dây ngầm. Đoạn bờ kè đó nằm đúng góc chết của camera số sáu."
Tôi đứng im, mắt nhìn xoáy vào Đăng.
Dưới ánh đèn huỳnh quang trắng lạnh của phòng làm việc, cậu trinh sát hai mươi sáu tuổi trông gầy gò, đôi mắt một mí luôn hơi cụp xuống khi nói chuyện với cấp trên. Trên tay áo bên phải của cậu ta, một vệt nước mưa còn đọng lại thành vệt sẫm màu. Khi Đăng đưa tay lên chỉnh lại quai đeo máy quay, ống tay áo sơ mi bên trong hơi xếch lên một chút.
Một góc của vết sẹo bỏng lồi lõm màu nâu sẫm, co rúm như da cóc, lộ ra nơi cổ tay.
Đó là vết thương do lửa trực tiếp thiêu đốt, để lại di chứng từ thời thơ ấu. Một đứa trẻ ba tháng tuổi nếu bị kẹt trong đám cháy năm 2004 và được cứu thoát, tuổi đời tính đến hôm nay vừa tròn hai mươi tuổi. Nhưng Đăng trong hồ sơ tuyển dụng của Công an Thành phố ghi rõ sinh năm một chín chín tám, tức là hai mươi sáu tuổi.
Một sự chênh lệch sáu năm. Một bộ hồ sơ nhận nuôi được làm lại. Hoặc một danh tính đã bị tráo đổi hoàn hảo từ những trại trẻ mồ côi vùng cao sau vụ hỏa hoạn.
Nhưng trong đầu tôi, một chuỗi logic khác lập tức tự đập vỡ giả thuyết đó.
Tôi tự hỏi mình bằng sự lạnh lùng của một kẻ từng ngồi phòng thẩm vấn mười năm: Liệu một trinh sát trẻ như Đăng có thể một mình thực hiện toàn bộ chuỗi hành quyết này?
Hãy nhìn vào sự thật: Cú đánh ở buồng thang bộ tầng bốn mươi The Grand Panorama là đòn cận chiến điểm huyệt của lực lượng đặc nhiệm lão luyện, lực ra đòn chuẩn xác đến mức bẻ gãy hai xương sườn của một gã ba mươi lăm tuổi như tôi mà không để lại bất kỳ dấu vết trượt nào. Chiếc kìm thủy lực dùng để cắt chéo sáu mươi độ ống dẫn dầu phanh xe bồn ba mươi tấn ở ngã tư Hàng Xanh đòi hỏi một sức mạnh cơ bắp và sự am hiểu cơ khí công trình vượt trội. Việc điều khiển chiếc ca-nô composite gài lái tự động vượt qua dòng nước xoáy chân cầu Bình Lợi và bơi lặn ngược dòng Rạch Lăng để thiêu sống Đinh Trọng Phúc đòi hỏi một thể lực của lính người nhái chuyên nghiệp.
Đăng quá trẻ. Khung xương của cậu ta quá mảnh. Cậu ta không có đủ thời gian và thể lực thực chiến để một mình làm tất cả những việc đó trong vòng chưa đầy mười hai tiếng đồng hồ.
Trừ khi... Đăng chỉ là một nửa của bức tranh.
Một kẻ ở bên trong cung cấp lộ trình, mở các cánh cửa an ninh, tẩy xóa hồ sơ lưu trữ và báo tin. Còn kẻ trực tiếp cầm dao, cầm kìm, kéo dây thừng và châm diêm là một bóng ma khác—một kẻ thuộc về thế hệ của những năm hai nghìn lẻ bốn, một kẻ mang vết thù hằn rỉ máu suốt hai mươi năm ròng.
"Anh Vũ," Đăng ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt tôi. Cậu ta không hề né tránh, gương mặt phẳng lặng như tờ giấy trắng. "Anh có cần thêm thuốc giảm đau không? Lúc nãy ở dưới xe chỉ huy, em thấy anh ôm sườn suốt."
"Không cần," tôi đáp, giọng cộc lốc. "Tôi quen sống với cái đau rồi."
Đăng khẽ gật đầu, rút trong túi áo ra một chiếc bút bi xanh, bắt đầu ghi chép các thông số vật chứng vào cuốn sổ tay bìa da nhỏ. Cậu ta luôn dùng bút mực viết tay, tuyệt đối không dùng máy tính bảng hay điện thoại để ghi biên bản tại hiện trường. Một thói quen của người cẩn trọng, hoặc một phản xạ sinh tồn của kẻ biết rằng mọi tín hiệu số đều có thể bị truy vết.
Hạ Băng đứng dậy, tháo đôi găng tay dính đầy hóa chất cho vào túi rác y tế. Cô bước lại gần tôi, đưa cho tôi một tờ giấy in nhiệt gấp đôi rút ra từ túi áo blouse.
"Đây là bảng phân tích quang phổ khối của mẫu độc chất lấy từ ly rượu của Hoàng Yến ở Bệnh viện Gia Định lúc nãy," Băng nói nhỏ, giọng chỉ đủ hai người nghe. "Chất độc ức chế thần kinh làm Yến hôn mê sâu không phải xyanua. Nó là một loại độc tố chiết xuất từ cây lá ngón mọc tự nhiên ở vùng cao nguyên Lâm Đồng. Tinh khiết và cực độc."
Tôi mở tờ giấy, nhìn những biểu đồ hình răng cưa ngoằng ngo ngoèo. "Còn mẫu ADN móng tay của Phạm Kiến Quốc?"
"Tôi đã chạy lại đối chiếu trên hệ thống tàng thư gen quốc gia," Băng nhìn thẳng vào mắt tôi, đôi mắt cô sâu thẳm và phảng phất một nỗi mệt mỏi cùng cực. "Mảnh da dưới móng tay Quốc mang nhiễm sắc thể Y có đột biến gen đặc trưng của dòng họ Nguyễn ở vùng Đơn Dương, Lâm Đồng. Người để lại mẫu biểu bì đó là nam giới, quan hệ huyết thống trực hệ đời thứ nhất với bảo mẫu Nguyễn Mai Lan. Nhưng có một điều bất thường..."
Băng ngập ngừng. Đây là lần đầu tiên sau năm năm tôi thấy một bác sĩ pháp y sắt đá như cô ngập ngừng trước một kết luận.
"Bất thường chỗ nào?" tôi hỏi.
"Tuổi sinh học của mẫu biểu bì đó," Băng hạ giọng thấp hơn nữa, gần như chỉ là hơi thở phả qua tai tôi. "Độ thoái hóa telomere và mức độ tích tụ sắc tố lão hóa trong nhân tế bào cho thấy... người cào rách da Phạm Kiến Quốc không phải một thanh niên hai mươi tuổi. Hắn ta ít nhất phải ngoài bốn mươi lăm tuổi."
Cái lạnh chạy dọc sống lưng tôi, buốt hơn cả cơn đau xương sườn.
Một người đàn ông ngoài bốn mươi lăm tuổi mang quan hệ huyết thống trực hệ bậc một với bảo mẫu Nguyễn Mai Lan.
Mai Lan chết năm hai mươi tư tuổi vào năm 2004. Đinh Trọng Phúc trước khi trút hơi thở cuối cùng trên ghế sắt ở hẻm Rạch Lăng đã dùng chút sức tàn để khẳng định: "Con bé Lan không có em trai nào cả..."
Không có em trai. Vậy người đàn ông hơn bốn mươi lăm tuổi có cùng huyết thống trực hệ, cùng chia sẻ nhiễm sắc thể Y đó chỉ có thể là ai?
Là cha của đứa trẻ? Hay là một người anh trai ruột chưa từng được ghi danh trong bất kỳ sổ bộ hành chính nào của trại mồ côi?
Hoặc chính là kẻ đã từng đứng nhìn Mái ấm Hướng Dương chìm trong biển lửa hai mươi năm trước, kẻ đã mang đứa con đỏ hỏn thoát khỏi tro tàn, nuôi nấng nó lớn lên với một mục đích duy nhất: biến nó thành một lưỡi dao sắc lẹm găm thẳng vào tim những kẻ đã gây ra tội ác.
Một tiếng "ting" khô khốc vang lên từ túi quần tôi.
Chiếc điện thoại cũ rung bần bật. Màn hình sáng lên một tin nhắn mới từ dãy số nặc danh quen thuộc.
Tôi lùi lại một bước, nép vào góc tủ tài liệu, ngón tay cái bấm mở khóa màn hình.
Dòng tin nhắn ngắn gọn, từng chữ như những nhát búa nện thẳng vào lồng ngực:
"Huỳnh Trí Cao đã ký xong bản án của mình bằng ngụm rượu cuối cùng. Bốn góc của bức tranh Đồi Thông Xanh đã cháy thành tro. Nhưng món nợ lớn nhất không nằm ở mảnh đất Đà Lạt. Món nợ lớn nhất nằm ở hẻm Cầu Muối ba năm trước. Đã đến lúc anh phải trả lời cho cái chết của người đồng đội cũ, Đội phó Trần Vũ. Mười chín giờ tối nay. Nhà kho số 4, Cảng cá Cầu Tân Thuận. Mang theo khẩu súng mà anh đã giấu ba năm qua. Nếu anh báo cho Lê Hoàng, đứa con gái của Phạm Kiến Quốc sẽ không bao giờ tỉnh lại."
Tôi siết chặt chiếc điện thoại trong lòng bàn tay đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.
Hẻm Cầu Muối. Ba năm trước.
Một ký ức đẫm máu mà tôi đã cố chôn vùi dưới đáy những chai rượu đế rẻ tiền và những bao thuốc lá cháy dở ở căn gác xép Quận 4. Chuyên án vây bắt tay trùm buôn người ba năm trước, cái đêm định mệnh mà tôi đã ra lệnh cho đồng đội chốt chặn sai vị trí, biến anh ấy thành một tấm bia đỡ đạn.
Tôi ngẩng đầu lên.
Ở phía bên kia căn phòng, Lê Hoàng đang lớn tiếng chỉ đạo tổ khám nghiệm thu thập từng sợi tóc trên thảm. Bên cạnh cậu ta, trinh sát Nguyễn Minh Đăng đang cẩn thận lồng tờ biên bản kiểm kê nhân sự bị gạch xóa vào một chiếc túi ni-lông vô trùng.
Đăng bất chợt quay đầu lại.
Ánh mắt của cậu trinh sát trẻ chạm thẳng vào mắt tôi qua khoảng không gian sực mùi xyanua và khói súng. Cậu ta không cười, không biểu lộ bất kỳ một cơ mặt nào, nhưng ngón tay trỏ của bàn tay mang vết sẹo bỏng khẽ gõ nhẹ ba nhịp lên mép bàn gỗ.
Ba nhịp gõ đều đặn, cộc cằn, giống hệt nhịp gõ của chiếc đồng hồ cát ba mươi phút tại phòng ngủ biệt thự Thảo Điền.
Tôi đút điện thoại vào túi, quay người bước thẳng ra phía hành lang hướng ra bờ sông mưa gió.
Màn kịch này không còn là một cuộc điều tra phá án nữa. Nó là một cái bẫy được giăng ra bằng xương máu của năm cái xác, và tôi chính là con mồi cuối cùng được chọn để bước lên đoạn đầu đài.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.