Giao Lộ Mờ Sương

Chương 118: Mũi Kim Trong Lồng Ngực

Đăng: 01/09/2026 21:46 3,328 từ 1 lượt đọc

Mùi cồn i-ốt lẫn với mùi máu tanh nồng xộc thẳng vào cuống họng.

Chiếc xe cứu thương quân sự của Bệnh viện 175 lao qua ngã tư Hoàng Văn Thụ, còi hụ rền rĩ từng đợt xé toạc không gian oi nồng của buổi sớm Sài Gòn. Bên ngoài kính cửa sổ mờ hơi nước, dòng người kẹt cứng ở cửa ngõ sân bay đang nhìn vào buồng cấp cứu bằng những ánh mắt tò mò vô hồn. Một người đàn bà chở giỏ rau muống nép sát lề, gã thanh niên giao hàng bấm còi inh ỏi.

Thành phố vẫn sống cuộc đời của nó. Không ai biết ngoài khơi Thổ Chu, một chiếc trực thăng Mi-171 vừa quạt nát mặt biển để lôi cổ một gã tài phiệt ra khỏi mớ chứng chỉ quỹ năm mươi triệu đô. Càng không ai biết dưới nền đất một trại trẻ mồ côi đã cháy rụi hai mươi năm trước, có một kho quặng đất hiếm và những ống tủy sống của lũ trẻ bị đánh cắp.

Tôi nằm ngửa trên băng ca. Mỗi nhịp xóc của bánh xe dội qua ổ gà là một lần mảnh xương sườn số sáu gãy chéo đâm nghiến vào màng phổi tạng. Cảm giác như có ai đó lấy một chiếc lưỡi lê cùn nạy từng thớ thịt trong lồng ngực trái.

Bình áp lực âm ba ngăn đặt dưới sàn xe rung lên bần bật. Dịch màng phổi màu đỏ sẫm dâng qua vạch hai trăm năm mươi mi-li-lít, sủi những bọt khí li ti quanh chân ống silicon hai mươi tám cỡ lớn. Khí quản của tôi bị đẩy lệch sang phải. Mỗi lần hít vào, ngực chỉ phập phồng được một nửa, dưỡng khí không đủ lên não khiến trần xe chao đảo như một bức tranh sơn dầu bị nhòe nước.

Hạ Băng quỳ gối bên cạnh băng ca, hai bàn tay mang găng cao su dính đầy vệt máu loãng. Cô giật phăng nẹp vải thun cố định ngoài ngực tôi, dùng kéo y tế cắt toạc lớp áo sơ mi đã bết chặt vào da thịt.

"Huyết áp bảy mươi trên bốn mươi," giọng cô đanh lại, cộc lốc, không có chút gợn sóng nào của sự hoảng loạn. "Mạch một trăm ba mươi. Rò khí áp lực tái phát. Màng phổi tạng rách thêm một đường do chấn động lúc nhảy khỏi xe bán tải. Nếu không giải áp ngay trên đường, anh sẽ ngưng tim trước khi bánh xe chạm sảnh cấp cứu."

Lê Hoàng ngồi ở ghế phụ phía trước, đầu quấn băng trắng thấm một vệt máu tròn bằng đồng xu. Anh quay ngoắt lại, báng súng K54 trên thắt lưng cọ vào thành ghế kêu lách cách.

"Cần bao lâu?"

"Ba phút," Hạ Băng không nhìn Hoàng. Cô rút từ hộp sơ cứu dã chiến ra một cây kim chọc dò số mười bốn to bằng ruột bút bi, gắn liền với van một chiều tự chế bằng ống cao su. "Giữ chặt hai vai anh ta. Đừng để anh ta giãy."

Tôi cắn chặt môi dưới. Vị mặn chát của máu tươi tứa ra làm đầu lưỡi tê rần.

"Khỏi cần giữ," tôi thều thào, giọng khàn đặc như tiếng kim loại cạo trên mặt kính. "Tôi còn chưa... muốn chết trên cái xe chở cá hồi này đâu."

Hạ Băng dùng ngón tay ấn mạnh vào khoang liên sườn số hai trên đường giữa đòn trái của tôi. Cơn đau bùng lên dữ dội làm sống lưng tôi cong quắt lại như một con tôm bị ném vào chảo mỡ.

"Im mồm đi, Trần Vũ," cô nói, mắt nhìn chằm chằm vào điểm mốc giải phẫu. "Để dành hơi mà thở."

Mũi kim thép đâm xuyên qua lớp da thịt ngực trái.

Một tiếng "xì" khô khốc vang lên rợn người, giống như tiếng lốp xe tải bị chém rách giữa trưa nắng. Luồng khí nén ứ đọng trong khoang màng phổi tìm được đường thoát, phun xối xả qua đầu van cao su, bắn tung những tia bọt máu li ti lên tấm kính chắn buồng lái.

Áp lực trong lồng ngực hạ xuống tức thì. Cơn nghẹt thở bóp nghẹt khí quản vừa nới lỏng nửa vòng ren, nhưng đổi lại là cơn buốt buốt lạnh thấu xương của kim loại đang cắm ngập giữa hai dải cơ liên sườn. Tôi ngửa cổ ra sau, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm gáy, chảy ròng ròng xuống tấm nệm simili bọc da giả đã sờn rách.

Hạ Băng nhanh tay dùng băng dính lụa cố định đốc kim vào da ngực tôi, rồi quay sang bóp bóng oxy qua mặt nạ nhựa. Bàn tay cô khẽ run lên một nhịp khi đầu ngón tay chạm vào hõm ức đẫm mồ hôi của tôi, nhưng chỉ nửa giây sau, động tác của cô lại chuẩn xác và lạnh tanh như một cái máy phẫu thuật.

"Xong một nửa," cô nói, mắt liếc nhìn đồng hồ đo áp lực. "Chỉ là giải áp tạm thời. Vào viện phải mở lồng ngực thám sát, nẹp lại xương sườn số sáu và khâu phục hồi nhu mô phổi. Anh mất thêm hai trăm mi-li-lít máu nữa rồi đấy."

Tôi đưa tay phải run rẩy quờ vào túi áo ngực. Bàn tay chạm phải màn hình chiếc điện thoại Nokia màn hình đen trắng vẫn còn đang nhấp nháy sáng.

Dòng tin nhắn văn bản gửi từ đầu số cố định của Viện Giám định Pháp y Trung ương tại Hà Nội hiện rõ từng ký tự:

"KẾT QUẢ GIẢI TRÌNH TỰ GEN MẪU MÔ DỰ PHÒNG THU TỪ VA-LY TITAN POSEIDON-04: MẪU MÃ HIỆU XIV-KTS CÓ ĐỘT BIẾN LẶP ĐOẠN ĐẶC TRƯNG VÙNG ĐỒI THÔNG. XÁC NHẬN ĐỨA TRẺ THỨ MƯỜI BỐN CÒN SỐNG. ĐANG NẮM GIỮ MÃ TRUY XUẤT ĐỊA TẦNG NGUYÊN BẢN."

Lê Hoàng với tay giật lấy chiếc điện thoại, mắt anh nheo lại khi đọc từng chữ trên màn hình nhỏ xíu.

"Mười bốn đứa?" Hoàng nghiến răng, cơ hàm bạnh ra. "Hai mươi năm trước, cuốn sổ hộ tịch ở phường Ba Đà Lạt chỉ ghi nhận mười đứa. Khi bắt đầu chuyên án, ta tìm ra đứa thứ mười một là con của bảo mẫu Mai Lan. Rồi Đặng Thế Anh là đứa thứ mười ba. Giờ lòi đâu ra đứa thứ mười bốn này nữa?"

"Hồ sơ dân sự ở cái đất này là một trò hề," tôi nhổ một búng bọt máu dính trên kẽ răng xuống sàn xe. "Khi người ta muốn xóa sổ một cái trại trẻ để cướp đất, người ta chỉ việc bôi đen tên trong sổ cái. Nhàn... chị Nhàn lúc còn sống từng chia cơm cháy cho lũ trẻ... Chị ấy không bao giờ đếm sai miệng ăn."

Xe phanh gấp trước cổng Bệnh viện Quân y 175 trên đường Nguyễn Kiệm.

Cánh cửa sau bật mở. Tiếng bánh xe cáng cứu thương kim loại va đập lách cách trên nền bê tông sảnh cấp cứu. Bốn bác sĩ quân y mặc trang phục phòng mổ màu xanh lục ùa ra, cùng Lê Hoàng nhấc bổng tôi chuyển sang chiếc cáng đẩy chuyên dụng. Ánh đèn neon hành lang vụt qua đầu tôi như những vệt sáng đứt đoạn trong một cuốn phim quay chậm.

Hạ Băng vừa chạy bộ bám theo cáng, vừa giữ bình dẫn lưu màng phổi ngang hông, miệng liên tục bàn giao chỉ số sinh tồn cho kíp trực ngoại lồng ngực:

"Bệnh nhân nam, ba mươi lăm tuổi. Chấn thương ngực kín giờ thứ mười hai. Gãy di lệch xương sườn sáu bên trái, rách màng phổi tạng, tràn khí áp lực đã chọc kim giải áp liên sườn hai. Huyết áp tám mươi trên năm mươi, SpO2 tám mươi chín phần trăm. Chuẩn bị phòng mổ số ba, dẫn lưu ngực kín liên tục và nẹp chỉ thép cố định xương."

Một bác sĩ trung tá trung niên giữ cửa phòng mổ, giơ tay chặn Lê Hoàng và Hạ Băng lại trước vạch sơn đỏ:

"Thân nhân và cán bộ điều tra ở ngoài. Bác sĩ Băng, cô cũng phải khử khuẩn nếu muốn vào phụ mổ."

"Tôi vào," Hạ Băng không lùi lại nửa bước. Ánh mắt cô đâm thẳng vào vị bác sĩ trưởng kíp. "Tôi là người duy nhất nắm rõ đường đi của ống dẫn lưu cũ và cơ địa dị ứng thuốc tê của bệnh nhân này suốt bảy mươi hai giờ qua."

Cánh cửa kim loại phòng mổ đóng sầm lại. Mùi cồn sát trùng dâng lên nồng nặc lấn át mọi tạp âm của phố xá bên ngoài.

Họ chuyển tôi lên bàn mổ bằng inox lạnh ngắt. Tấm đèn mổ tròn vo trên trần bật sáng trắng lóa, rọi thẳng vào đồng tử làm tôi chói buốt. Một y tá cắm đường truyền tĩnh mạch cỡ lớn vào mu bàn tay phải của tôi, cảm giác dung dịch điện giải buốt giá tràn vào mạch máu làm cánh tay cứng đờ.

Hạ Băng đã thay bộ đồ mổ vô trùng, mang khẩu trang che kín nửa khuôn mặt, chỉ để lộ đôi mắt màu nâu sẫm sâu hoắm vì ba đêm trắng không ngủ. Cô cúi xuống, áp sát mặt vào tai tôi.

"Trần Vũ," giọng cô phẳng lặng dưới lớp vải y tế. "Tôi sẽ tiêm thuốc gây mê toàn thân. Ba tiếng nữa anh mới tỉnh lại."

Tôi dùng mấy đầu ngón tay còn cử động được bấu chặt vào mép ga trải bàn mổ.

"Đừng mê sâu..." tôi cắn răng. "Chỉ tê cục bộ và an thần nhẹ. Tôi phải tỉnh."

"Anh điên rồi à?" Bác sĩ trưởng kíp mổ quát lên từ phía đầu bàn. "Xương sườn của anh đang chọc vào phổi! Chúng tôi phải rạch khoang liên sườn, dùng móc kéo xương ra để buộc chỉ thép. Không gây mê nội khí quản thì anh sẽ sốc đau mà ngừng tim ngay trên bàn mổ!"

"Kệ mẹ tôi," tôi nhìn thẳng vào Hạ Băng. "Bàn cờ... chưa xong. Phạm Kiến Quốc bị bắt ở Thổ Chu, nhưng chiếc cặp năm mươi triệu đô đó chỉ là cái vỏ. Thằng bé số mười bốn... nó đang cầm chìa khóa địa tầng. Nếu Quỹ Viễn Đông tìm ra nó trước chúng ta, toàn bộ những đứa trẻ chết cháy năm xưa... chỉ là đồ bỏ đi."

Hạ Băng đứng sững lại trong hai giây.

Đôi mắt cô cụp xuống, nhìn vào ống dẫn lưu đang tiếp tục rỉ máu dưới mạn sườn tôi. Có một khoảnh khắc rất ngắn, lớp màng phòng thủ sắt đá trong ánh mắt người phụ nữ ấy nứt ra một kẽ hở vô hình. Đôi lông mày cô khẽ chau lại, một cử động cơ mặt nhỏ đến mức chỉ người đã quen nhìn xác chết và vết thương mới nhận ra.

Nhưng rồi cô ngẩng lên, lớp vỏ bọc lạnh lùng của một giám định viên pháp y lại lập tức phủ kín.

"Tê ngoài màng cứng liều cao kết hợp Fentanyl truyền tĩnh mạch ngắt quãng," cô quay sang nói với bác sĩ gây mê bằng giọng dứt khoát của một người ra lệnh chứ không phải đề xuất. "Tôi chịu trách nhiệm trước Viện Kiểm sát Tối cao về tình trạng của bệnh nhân này."

Bác sĩ gây mê lưỡng lự một giây rồi gật đầu.

Mũi kim gây tê đâm vào tủy sống lưng làm nửa thân dưới và lồng ngực tôi tê dại đi như một khúc gỗ ngâm nước. Cảm giác đau đớn biến thành một khối nặng nề vô cảm, nhưng đầu óc tôi vẫn tỉnh táo đến mức nghe rõ mồn một từng tiếng lách cách của kẹp phẫu thuật, dao mổ số mười một rạch qua lớp biểu bì, và tiếng máy hút dịch rè rè bên góc phòng.

Hạ Băng cầm kẹp gắp, dùng gạc vô trùng thấm từng mảng máu đông trong khoang sườn. Động tác của cô dứt khoát, không thừa một mi-li-mét nào.

"Đứa trẻ số mười bốn không nằm trong danh sách Mái ấm Hướng Dương," cô nói, mắt không rời vết mổ, giọng nói chỉ đủ cho hai người nghe giữa tiếng bíp đều đặn của máy đo điện tim. "Sáng nay, khi anh đang ở Tòa án Cấp cao, tôi đã đối chiếu lại mẫu sinh phẩm tủy sống thu từ hầm B4 của Đặng Trần Quang với tàng thư gen quốc gia."

"Có gì?" tôi hỏi, cổ họng khô khốc.

"Năm 1985, Đặng Trần Quang rút tủy mười ba đứa trẻ tại Đơn Dương," Hạ Băng dùng kẹp giữ mép cơ liên sườn để bác sĩ chính luồn sợi chỉ thép bọc silicon qua thân xương sườn gãy. "Nhưng trong báo cáo tài chính ngầm chuyển sang Thụy Sĩ năm đó, Quỹ Viễn Đông đã chi trả cho mười bốn bộ mẫu đối chứng. Mẫu số mười bốn là một mẫu đối chứng sống dự phòng, được nuôi cấy độc lập ngoài hệ thống của Bộ Tư lệnh."

"Ai giữ nó?"

"Trần Khắc Luân," Hạ Băng đáp, giọng chùng xuống nửa tông. "Trước khi bị dìm chết ở hồ Trị An năm ngoái, Luân 'Mã Tấu' từng mua lại một trang trại trồng trà rộng mười héc-ta ở Bảo Lộc. Toàn bộ tiền bẩn Luân nhận từ Huỳnh Trí Cao và Trịnh Văn Phát năm 2004 không chuyển ra nước ngoài mà đổ vào một trại trẻ mồ côi tư nhân núp bóng cơ sở nuôi dưỡng trẻ khuyết tật."

Chiếc máy đo điện tim kêu "tít" một tiếng dài khi bác sĩ chính siết sợi chỉ thép cố định hai đầu xương sườn số sáu. Lồng ngực tôi giật nảy lên, nhưng cảm giác tê dại giữ cho tôi không ngất đi.

"Luân giữ đứa bé đó làm lệnh bài hộ mệnh," tôi thở dốc, mắt nhìn lên trần nhà mổ lem nhem ánh sáng. "Hắn biết Khiêm và Thắng sẽ có ngày diệt khẩu mình, nên giữ lại mẫu ADN sống để khống chế quyền giải ngân mỏ đất hiếm."

"Đúng," Hạ Băng đặt chiếc kẹp phẫu thuật xuống khay inox vang lên một tiếng cạch khô khốc. "Và người điều hành trại trẻ tư nhân đó ở Bảo Lộc suốt mười lăm năm qua... là một cựu nữ trinh sát dưới quyền ông Lê Văn Bản."

Cánh cửa phòng mổ bật mở.

Lê Hoàng bước vào, trên tay cầm chiếc máy tính bảng quân dụng bọc cao su chống va đập. Anh đứng cách bàn mổ hai mét, không bước qua vạch vô trùng, gương mặt đen sạm đanh lại như đá núi đèo Khánh Lê.

"Có biến ở Bảo Lộc," Hoàng nói, giọng rít qua kẽ răng. "Tí Bo vừa quét được một luồng dữ liệu bất thường từ trạm phát sóng đồi Con Voi. Ba mươi phút trước, có hai chiếc xe bán tải biển số Sài Gòn mang theo thiết bị gây nhiễu vô tuyến đã phong tỏa con đường đất dẫn vào Cơ sở Nuôi dưỡng Hoa Rừng ở xã Lộc Châu."

"Người của ai?" tôi cố gượng dậy nhưng bị Hạ Băng ấn mạnh vai giữ chặt xuống mặt bàn.

"Người của Quỹ Viễn Đông," Hoàng siết chặt chiếc máy tính bảng. "Chúng không cần bắt sống đứa bé. Lệnh chuyển từ máy chủ Hồng Kông là hỏa thiêu toàn bộ cơ sở trong vòng một giờ tới. Nếu chúng thiêu hủy mẫu ADN đối ứng cuối cùng, mỏ đất hiếm sẽ tự động rơi vào tình trạng tranh chấp vô chủ theo luật quốc tế, và ngân hàng Geneva sẽ kích hoạt quyền tiếp quản toàn phần."

Bác sĩ trưởng kíp mổ vừa hoàn tất mũi khâu chữ U cuối cùng trên da ngực tôi, dùng gạc tẩm cồn ép chặt vết thương.

"Hút áp lực âm liên tục hai mươi xăng-ti-mét nước," vị bác sĩ gỡ găng tay, nhìn tôi bằng ánh mắt lắc đầu ngao ngán. "Anh phải nằm bất động ít nhất bốn mươi tám tiếng. Nếu vận động mạnh làm đứt chỉ thép, đầu xương sườn sẽ xé toạc động mạch liên sườn. Lúc đó thì có mười chiếc xe cấp cứu cũng không kéo anh về được đâu."

Tôi không trả lời. Tôi chống tay phải xuống nệm bàn mổ, gồng cơ bụng đẩy cả thân người ngồi dậy.

Vết mổ dưới mạn sườn trái căng cứng như bị dán một miếng sắt nung đỏ, nhưng lồng ngực đã nhẹ hơn, không còn tiếng rít của van một chiều. Tôi giật chiếc mặt nạ oxy vứt sang một bên, thò chân xuống sàn nhà mổ lạnh ngắt.

Hạ Băng đứng chắn ngay trước mặt tôi, hai tay khoanh trước ngực, mắt nhìn xoáy vào mắt tôi.

"Anh điên thật rồi," cô nói, không to tiếng, nhưng từng chữ rơi xuống nặng như chì.

"Hoàng," tôi vịn vào vai Lê Hoàng để giữ thăng bằng, cảm nhận từng đợt đau nhói chạy dọc sống lưng. "Xe còn dầu không?"

"Đầy bình," Hoàng đáp cộc lốc, đưa cho tôi chiếc áo khoác gió sẫm màu giấu vết máu. "Xe đặc chủng của Cục Điều tra Viện Kiểm sát, gắn còi ưu tiên. Đèo Bảo Lộc đang mưa dầm, nhưng nếu đạp hết ga thì mất hai tiếng rưỡi."

Hạ Băng nhìn tôi, rồi nhìn sang Lê Hoàng. Cô không cản nữa. Người phụ nữ này hiểu tôi quá rõ, rõ đến mức cô biết mọi lời can ngăn y khoa lúc này chỉ là thứ rác rưởi tốn thời gian.

Cô quay người bước lại tủ thuốc dã chiến, rút ra ba ống tiêm Morphine loại một mi-li-gam và một cuộn băng thun đàn hồi bản lớn. Cô bước tới, quấn thêm ba vòng băng thun siết chặt quanh lồng ngực tôi bên ngoài lớp gạc mổ, lực siết mạnh đến mức làm tôi nghẹt thở trong nửa giây để khóa cứng khung xương sườn.

"Tôi đi cùng," cô nhét ba ống thuốc giảm đau vào túi áo khoác của tôi, giọng lạnh băng. "Tôi không muốn mất công mổ lại một cái xác chết dọc đường."

Năm phút sau, chiếc SUV bọc thép biển số xanh tám mươi lao vút ra khỏi cổng Bệnh viện Quân y 175, xé màn sương mù ẩm ướt của Sài Gòn, trực chỉ hướng Quốc lộ 20 lên cao nguyên.

Tôi ngồi ở băng ghế sau, lưng tựa vào cửa kính, tay phải nắm chặt chiếc điện thoại Nokia cũ kỹ.

Trời bắt đầu đổ mưa rào. Nước mưa quất ràn rạt vào kính xe, làm nhòe đi những khối nhà bê tông xám xịt của thành phố đang lùi dần lại phía sau. Tôi mở nắp lưng điện thoại, kiểm tra lại mẩu giấy pơ-luya nhỏ xíu mà Đăng đã nhét vào kẽ bao da trước khi trút hơi thở cuối cùng.

Trên mẩu giấy ố vàng dính máu khô, Đăng chỉ ghi vỏn vẹn một dòng chữ viết bằng than củi:

"Đứa thứ mười bốn... nó không biết nói, nhưng nó vẽ được bản đồ."

Chiếc xe tải nặng vượt lên phía trước tạt một luồng nước đục ngầu lên kính chắn gió. Tiếng còi xe ưu tiên rúc lên từng hồi dài gấp gáp giữa tiếng sấm rền từ phía chân đèo Bảo Lộc.

Và đúng lúc chiếc xe vừa qua khỏi trạm thu phí Dầu Giây, màn hình điện thoại của tôi lại bừng sáng. Một tin nhắn SMS mới gửi từ đầu số nội bộ của Bưu điện tỉnh Lâm Đồng hiện lên:

"CƠ SỞ HOA RỪNG ĐÃ MẤT LIÊN LẠC LÚC TÁM GIỜ MƯỜI LĂM. CÓ KHÓI BỐC LÊN TỪ PHÍA RỪNG TRÀ."

0