Giao Lộ Mờ Sương

Chương 116: Ngăn Kéo Số Mười Ba

Đăng: 01/09/2026 21:46 3,389 từ 1 lượt đọc

Mùi lưu huỳnh từ lò đốt tài liệu dã chiến ở góc Phòng 101 chưa kịp tan thì màn hình chiếc Nokia trong lòng bàn tay tôi lại rung bần bật.

Sáu giờ mười lăm phút sáng.

Tin nhắn gửi từ đầu số Thụy Sĩ có mã vùng cộng bốn một. Dòng chữ không dấu, ngắn gọn và lạnh tanh như một nhát dao chém ngang gáy:

"Nghiêm chi la phan noi cua tang bang. Nguoi nam trong ngan keo so 13 Nha xac Da Phuoc khong phai la Pham Kien Quoc. Lo thieu so 2 se do lua luc 07:00."

Tôi ngậm chặt môi dưới. Vị tanh nồng của máu tươi tứa ra từ kẽ nứt làm dịu đi cơn choáng váng đang kéo sụp mi mắt.

Lồng ngực trái của tôi rít lên từng hồi khọt khẹt. Ống dẫn lưu silicon cắm ngập giữa khoang liên sườn số sáu bị kéo căng sau cú bẩy then cửa gỗ, kéo theo một vệt rách mới ở màng liên sườn. Trong chiếc bình áp lực âm ba ngăn mà Hạ Băng đang kẹp chặt bên hông, máu sẫm màu lẫn bọt khí đã dâng qua vạch hai trăm ba mươi mi-li-lít, sủi tăm lục bục theo từng nhịp thở ngắt quãng.

Lê Hoàng giật phắt chiếc điện thoại từ tay tôi. Con ngươi mắt cậu ta co rút lại.

"Đa Phước?" Hoàng gằn giọng, quai hàm bạnh ra. "Bốn mươi lăm phút nữa lò thiêu số hai bắt đầu ca đầu tiên. Từ Pasteur chạy qua Quốc lộ 50 mùa này mất ít nhất một tiếng."

"Đi." Tôi chỉ nói đúng một từ.

Tôi nuốt khan một búng máu trào ngược nơi cuống họng. Cảm giác kim châm từ nhánh nông thần kinh quay bị rách ở cẳng tay trái giật ngược lên tận bả vai. Không có thời gian để thở. Càng không có thời gian để nằm xuống một cái cáng cứu thương tử tế.

Hạ Băng không ngăn tôi. Cô ấy hiểu tính tôi từ mười năm trước, cái thời tôi còn đeo quân hàm Đại úy và tin rằng công lý là thứ có thể đổi bằng máu của chính mình. Cô chỉ lẳng lặng rút chốt an toàn của ống tiêm Mor-phin dự phòng cuối cùng găm trên đai túi cứu thương, cắm phập qua lớp vải quần bò vào đùi tôi, ấn pít-tông dứt khoát.

"Thuốc chỉ giữ tim anh đập được bốn mươi phút," Băng nói, giọng lạnh như dao mổ nhưng bàn tay giữ van xả áp lực âm lại siết chặt đến trắng bệch các đầu ngón tay. "Sau bảy giờ, nếu màng phổi tạng bục thêm hai mi-li-mét, tôi sẽ phải rạch ngực anh ngay trên sàn xe."

Tôi gật đầu, bám lấy vai Hoàng gượng đứng dậy.

Phía sau lưng chúng tôi, Thượng tá Đặng Thế Anh đang cùng tổ Kiểm sát viên áp giải Đặng Trần Nghiêm ra cửa sau. Còng số tám khóa chặt hai cổ tay vị Thẩm phán Tối cao. Ánh mắt Nghiêm khi lướt qua tôi không có vẻ gì là sợ hãi của một kẻ bại trận. Nó đục ngầu, mỉa mai và sâu hun hút như cái hố chôn tro cốt dưới nền Mái ấm Hướng Dương hai mươi năm trước.

"Mày tưởng mày thắng à, thằng Vũ?" Nghiêm thì thầm khi đi ngang qua tôi, mùi trầm hương trên áo vest xộc vào mũi tôi gay gắt. "Cái xác trên tầng bốn mươi... chưa bao giờ là của Quốc đâu."

Tôi không trả lời. Tôi không thừa hơi để đôi co với một bóng ma sắp bước vào trại T16.

Chúng tôi lao xuống cầu thang bộ phía sau Tòa án Cấp cao. Chiếc xe U-oát biển số quân sự tám mươi của Bác Tư đã nổ máy chờ sẵn dưới tầng hầm B1, khói dầu đi-ê-zen xả mù mịt vòm bê tông ẩm mốc. Bác Tư không hỏi một câu. Người thương binh già đạp lút ga, chiếc xe chồm lên dốc cổng phụ đường Nguyễn Du, hất tung rào chắn dã chiến rồi lao vút ra đại lộ Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Bên ngoài, trời Sài Gòn tháng Bảy đổ mưa như trút nước.

Mưa quất rát mặt qua khe kính nứt của chiếc xe cũ. Cần gạt nước kêu ken két, bất lực gạt những vệt bùn non đỏ quạch bắn lên từ các công trình đào đường dang dở. Thành phố sáu giờ hai mươi sáng bắt đầu cựa mình trong cơn ngạt thở của dòng xe máy ken đặc áo mưa nilong. Những gánh hàng rong nép dưới mái hiên tôn rỉ sét, khói bếp than tổ ong khét lẹt quyện vào mùi nước cống dâng cao ngập nửa bánh xe ở ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai.

Hoàng bật còi ưu tiên màu đỏ trên nóc xe, một tay ghì vô-lăng bẻ lái sang trục đường Võ Văn Kiệt, tay kia liên tục bấm còi hơi xé toạc màn mưa.

Tôi tựa lưng vào thành ghế sắt, ngón tay run rẩy sờ vào túi áo ngực. Dưới lớp vải bết dính mồ hôi và máu khô là chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm của Mai Lan và cuốn sổ tay dù nát bấy của Tuấn. Ba năm nay, mỗi lần bước vào một ngã rẽ không có đường lui, tôi đều vô thức kiểm tra hai thứ đó. Nó là cái giá tôi phải trả để được sống sót, và cũng là bản án nhắc nhở tôi rằng tôi chưa từng xứng đáng với sự sống sót ấy.

"Tí Bo," tôi bấm loa ngoài điện thoại. Tiếng rít gió và tiếng động cơ xe lấn át cả đường truyền. "Kiểm tra danh sách hỏa táng ca bảy giờ sáng nay tại Nghĩa trang Đa Phước."

Đầu dây bên kia, tiếng bàn phím cơ gõ dồn dập như súng liên thanh. Tí Bo thở hổn hển:

"Em vào được máy chủ Ban Quản lý Nghĩa trang rồi anh Vũ! Hợp đồng dịch vụ mang mã số ĐP-07-1104. Đứng tên người yêu cầu hỏa táng là Hoàng Yến, ký ủy quyền qua một văn phòng luật sư tại Quận 1 từ ba ngày trước. Lò số hai đã được cấp nhiệt từ năm giờ ba mươi, nhiệt độ buồng đốt hiện tại là sáu trăm độ C. Đúng bảy giờ tròn, băng chuyền tự động sẽ đẩy quan tài vào!"

"Ai là người bàn giao tử thi từ nhà xác Trung tâm Pháp y sang Đa Phước?" Tôi ho khục khặc, một búng đờm lẫn máu đỏ tươi văng lên mặt kính đồng hồ táp-lô.

"Hồ sơ ghi là xe chuyên dụng của Công ty Dịch vụ Mai táng Thành Phố... nhưng mã số tài xế nhận xác lúc bốn giờ sáng nay là mã nội bộ của Cục Cảnh sát Quản lý Trại giam! Anh Vũ, có kẻ đã dùng chữ ký số của Đặng Trần Quang để phê duyệt lệnh di lý thi thể đi thiêu trước khi có kết luận giám định độc chất bổ sung!"

Tôi tắt máy. Mọi thứ khớp vào nhau như một hàm răng thú siết chặt lấy cổ họng.

Vụ án phòng kín ở penthouse tầng bốn mươi The Grand Panorama. Bức ảnh Mái ấm Hướng Dương nhét sâu trong nắp thanh quản. Đăng siết cổ nạn nhân trong bốn mươi giây bằng dây dù mềm. Hoàng Yến cung cấp sơ đồ cảm biến. Mọi người — từ Đội Trọng án, Viện Kiểm sát cho đến chính tôi — đều tin rằng kẻ nằm trên tấm thảm len đắt tiền đêm hôm đó là Phạm Kiến Quốc.

Nhưng nếu kẻ chết trong phòng kín không phải là Quốc?

Nếu gã trùm bất động sản đã chuẩn bị một con cờ thế mạng hoàn hảo từ trước khi Đăng kịp bước chân vào penthouse?

Chiếc U-oát ôm cua bạt mạng qua cầu Bình Điền, bánh sau trượt dài trên lớp sình lầy Quốc lộ 50. Đồng hồ táp-lô điểm sáu giờ bốn mươi tám phút.

Con đường dẫn vào Nghĩa trang Đa Phước hiện ra giữa bạt ngàn đồng bưng ngập nước và những rặng dừa nước xám xịt. Không khí ở đây sặc mùi khói đốt vàng mã, mùi bùn thối ngâm lâu ngày và mùi hóa chất ướp xác đặc quánh bốc lên từ dãy nhà lạnh phía sau khuôn viên lò hỏa táng.

Sáu giờ năm mươi mốt phút.

Chiếc xe tải nhỏ rú ga lao thẳng qua cổng kiểm soát, húc văng thanh chắn barie bằng gỗ thông mục nát. Bác Tư giật phanh tay, chiếc xe quay ngang một trăm tám mươi độ, cày nát bãi cỏ dẫn thẳng vào cửa sau Khu nhà lưu trữ tử thi B3.

Tôi đạp tung cửa xe, ngã sụp xuống vũng nước mưa ngập tới mắt cá chân. Cơn đau từ mạn sườn trái xé toạc ý thức như một dòng điện vạn vôn. Bình áp lực âm va mạnh vào bậc thềm xi măng kêu cách một tiếng khô khốc, van xả một chiều bật ra làm luồng khí tanh nồng xộc ngược vào lồng ngực.

Hạ Băng lập tức lao tới, một tay dùng kẹp phẫu thuật khóa cứng đầu ống silicon, tay kia xốc nách tôi kéo đứng dậy.

"Đừng có chết ở đây, Trần Vũ," Băng nghiến răng, hơi thở cô ấy phả vào tai tôi nóng hổi giữa cơn mưa lạnh buốt. "Tôi chưa ký biên bản khám nghiệm cho anh đâu."

"Yên tâm..." Tôi cười gượng, nhổ búng máu trong miệng xuống nền gạch tàu. "Diêm chưa tàn... tôi chưa đi được."

Lê Hoàng dẫn đầu, khẩu súng ngắn K54 trên tay đã lên đạn kêu rắc một tiếng đanh gọn. Chúng tôi đạp tung cánh cửa tôn trượt của Phòng bảo quản lạnh số ba.

Bên trong căn phòng rộng chừng sáu mươi mét vuông, ánh đèn huỳnh quang chập chờn rọi lên dãy tủ đông bằng inox sáng loáng. Nhiệt độ âm sâu tỏa ra từng đợt sương mù trắng xóa là là mặt sàn xi măng phủ đầy dung dịch khử trùng clo.

Một gã nhân viên vận hành lò hỏa táng mặc tạp dề cao su đen đang cầm chiếc kìm cộng lực chuẩn bị cắt niêm phong chì của chiếc cáng sắt số mười ba. Cạnh đó, hai gã đàn ông mặc âu phục đen mang dáng dấp của lính ngoại tuyến đang đứng tựa vào cột bê tông, trên tay cầm cặp tài liệu bọc da.

"Công an đây! Đứng im!" Hoàng quát lớn, mũi súng chĩa thẳng vào ngực tên đứng gần nhất.

Hai gã âu phục không hề bối rối. Một tên bình thản rút từ túi ngực ra một tờ lệnh đóng dấu đỏ tươi của Ban Chỉ đạo Đặc biệt:

"Chúng tôi thực hiện Lệnh hỏa táng tư pháp số 08. Lò số hai đã đủ nhiệt độ. Tử thi trong ngăn mười ba là vật chứng nguy hiểm có nguy cơ ô nhiễm sinh học, phải tiêu hủy ngay lập tức theo quy trình khẩn cấp."

"Quy trình của các người vừa bị hủy bỏ lúc sáu giờ sáng nay tại Tòa án Cấp cao," tôi bước lên một bước, giơ chiếc phù hiệu thám tử và tờ quyết định đình chỉ chuyên án của Viện Kiểm sát Tối cao ra trước mặt hắn. "Tránh ra, hoặc tôi để Đội trưởng Hoàng bắn nát đầu gối các người."

Tên cầm tài liệu nhìn vào mắt tôi. Hắn nhìn thấy ống dẫn lưu máu đang trào bọt khí bên hông tôi, nhìn thấy con ngươi đỏ ngầu của một kẻ không còn gì để mất. Hắn từ từ hạ tay xuống, lùi lại hai bước về phía góc tường.

Tôi quay sang gã nhân viên nhà xác đang run lẩy bẩy:

"Mở ngăn kéo số mười ba. Ngay bây giờ."

Chiếc cáng inox nặng nề trượt ra khỏi hộc đông lạnh phát ra tiếng ken két chói tai. Hơi lạnh âm mười tám độ C ùa ra, cuốn theo mùi tử khí ngưng kết phả thẳng vào mặt chúng tôi.

Trên khay kim loại là một chiếc túi đựng xác bằng nhựa vinyl màu xám tro, khóa kéo được niêm phong bằng kẹp chì mang số hiệu ĐTX-2004-VK.

Hạ Băng đeo găng tay y tế, rút dao mổ số mười một rạch một đường dứt khoát làm đứt phựt sợi dây chì. Cô kéo phéc-mơ-tuyên từ đầu xuống đến thắt lưng.

Tử thi lộ ra dưới ánh đèn neon nhấp nháy.

Khuôn mặt người đàn ông trạc sáu mươi tuổi phù nề nhẹ do đọng máu sau khi chết, rãnh hằn nằm ngang quanh sụn nhẫn và vết hằn chữ V sâu hoắm trên cổ vẫn còn nguyên vẹn màu tím sẫm. Mái tóc hoa râm chải ngược, vầng trán rộng, sống mũi gồ đặc trưng của Phạm Kiến Quốc — người mà ba ngày trước tôi đã tận mắt thấy treo lơ lửng trên xà nhà căn penthouse The Grand Panorama.

"Đúng là Quốc rồi mà anh Vũ?" Lê Hoàng nhíu mày, soi đèn pin vào khuôn mặt tử thi. "Từ vết sẹo mổ ruột thừa bên hông phải cho đến nốt ruồi dưới cằm... hồ sơ nhận dạng của Đội Trọng án không thể sai được."

Tôi không nhìn vào mặt hắn.

Tôi cúi người xuống, bất chấp lồng ngực quặn thắt như bị kẹp sắt nghiền nát, dùng bàn tay phải còn lành lặn nắm lấy bàn chân trái của tử thi, kéo thẳng ra ngoài mép cáng.

"Hạ Băng," tôi thở dốc. "Soi đèn vào mu bàn chân trái."

Ánh sáng trắng từ đèn pin pháp y quét qua lớp da tái xám đóng băng tuyết.

Trên mu bàn chân trái của tử thi, lớp da hoàn toàn nhẵn nhụi, chỉ có những đường gân xanh xao chìm dưới lớp mỡ dày của một kẻ quen sống trong nhung lụa.

"Năm 2008, Phạm Kiến Quốc bị tai nạn lật ca-nô ở hồ Tuyền Lâm," tôi nói từng chữ, giọng khàn đặc như đá mài trên kim loại. "Mạn thuyền composite chém đứt gân duỗi ngón cái bàn chân trái của ông ta. Bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng phải dùng chỉ thép không gỉ khâu nối xương bàn ngón một và để lại một vết sẹo co rút dài tám phân hình chữ Y. Trong hồ sơ bồi thường bảo hiểm nhân thọ năm ấy của Công ty Quốc Cường có lưu toàn bộ phim chụp X-quang."

Hạ Băng lập tức dùng đầu dao mổ cạo nhẹ lớp biểu bì trên mu bàn chân tử thi. Lớp mô mềm đông cứng tróc ra từng mảng trắng đục.

Không có sẹo. Càng không có dấu vết của chỉ thép phẫu thuật.

"Xương bàn chân hoàn toàn nguyên vẹn," Hạ Băng ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc lạnh như băng tuyết dưới đáy tủ đông. "Người này chưa từng bị gãy xương hay can thiệp ngoại khoa ở chi dưới."

"Chưa hết," tôi chỉ tay lên hàm răng của cái xác. "Cạy miệng hắn ra."

Hạ Băng dùng kẹp nạy mở hai hàm răng đông cứng của tử thi. Dưới ánh đèn rọi cực mạnh, hàm răng trên của người đàn ông lộ ra ba chiếc răng cửa bọc sứ titan sáng loáng.

"Phạm Kiến Quốc nghiện hút xì gà hạng nặng suốt ba mươi năm," tôi tiếp tục lật từng mảnh ghép trong trí nhớ. "Tại buổi tiệc khai trương dự án Đồi Thông Xanh năm 2005, răng cửa của ông ta đã ố vàng và mất hoàn toàn răng cối số bốn mươi sáu ở hàm dưới bên phải. Nhưng cái xác này... toàn bộ răng hàm dưới là răng thật, men răng mòn vẹt theo kiểu của người lao động chân tay hay nghiến chặt răng khi khuân vác nặng."

Lê Hoàng chết lặng. Báng súng K54 trong tay cậu ta run lên bần bật:

"Vậy kẻ bị siết cổ trên tầng bốn mươi... kẻ mà Đăng đã ra tay hành quyết... là ai?"

Tôi không trả lời ngay. Tôi luồn ngón tay vào túi áo khoác của tử thi đang treo trên móc sắt góc phòng — bộ đồ lụa tơ tằm đắt tiền mà nạn nhân mặc vào đêm bị sát hại.

Dưới lớp lót túi áo ngực bên trong, đầu ngón tay tôi chạm phải một vật cộm cứng.

Đó không phải là ví tiền, cũng không phải điện thoại.

Tôi dùng mũi dao mổ của Băng rạch đường chỉ may thủ công tinh xảo của chiếc áo lụa. Một tấm thẻ bài bằng đồng thau mỏng dính, kích thước ba nhân năm xăng-ti-mét rơi ra, rơi leng keng xuống mặt sàn inox lạnh ngắt.

Mặt trước tấm thẻ dập chìm dòng chữ số hành chính cũ của Ty Công an Lâm Đồng năm 1985:

"ĐỐI TƯỢNG PHỤC HỒI NHÂN THÂN // MÃ SỐ: KTS-00-B // HỌ VÀ TÊN: TRẦN ĐÌNH QUỐC // NĂM SINH: 1965 // QUÊ QUÁN: ĐƠN DƯƠNG, LÂM ĐỒNG."

Mặt sau tấm thẻ là một dòng chữ viết tay bằng mực tím học trò đã ngả màu nâu đất:

"Em trai sinh đôi của Phạm Kiến Quốc. Đã chết não ngày 10/11/2004 tại Trạm y tế Đơn Dương."

Tôi đứng chôn chân giữa căn phòng lạnh.

Mọi âm thanh xung quanh dường như bị hút cạn vào khoảng không vô tận.

Phạm Kiến Quốc không chỉ có một người em trai sinh đôi mang tên Trần Đình Quốc — đứa trẻ từng bị đưa vào danh sách thử nghiệm gen năm 1985 — mà hắn đã nuôi sống người em chết não này bằng hệ thống y tế tư nhân suốt hai mươi năm qua trong một căn phòng ngầm bí mật.

Đêm 18 tháng 7, khi biết bản án báo thù của ngọn lửa năm 2004 đang quay trở lại đòi mạng từng kẻ thủ ác, Phạm Kiến Quốc đã mang người em sinh đôi sống đời thực vật của mình lên căn penthouse tầng bốn mươi. Hắn mặc cho người em bộ quần áo lụa của chính mình, đeo chiếc đồng hồ Patek Philippe vào cổ tay bất động, rồi mở sẵn chốt cửa thoát hiểm, ngồi trong bóng tối nhìn Nguyễn Minh Đăng bước vào siết sợi dây dù oan nghiệt.

Đăng đã giết một người đã chết não từ hai mươi năm trước.

Đăng đã để lại lớp biểu bì da dưới móng tay của một cái xác vô tội để buộc Nguyễn Khắc Thắng phải quỳ xuống, mà không hề biết rằng kẻ chủ mưu thực sự — Phạm Kiến Quốc bằng xương bằng thịt — đã ung dung cầm năm mươi triệu đô la bước lên một chuyến tàu đào tẩu khỏi Sài Gòn từ đêm hôm đó.

Đúng lúc ấy, chiếc đồng hồ điện tử trên vách tường nhà xác nhảy sang con số 07:00.

Tiếng còi báo động của lò thiêu số hai rúc lên từng hồi chói tai. Băng chuyền tự động ngoài hành lang bắt đầu chuyển động cơ học rầm rập, kéo theo luồng nhiệt nóng rẫy xộc thẳng qua khe cửa kính.

Chiếc điện thoại Nokia trong túi áo tôi lại rung lên một nhịp ngắn.

Lần này, tin nhắn không phải từ Thụy Sĩ.

Đó là một bức ảnh gửi qua giao thức MMS từ một số thuê bao vệ tinh hàng hải đang hoạt động tại tọa độ ngoài khơi vịnh Thái Lan:

Bức ảnh chụp một người đàn ông mặc áo sơ mi trắng, tay cầm ly rượu vang đứng trên boong một chiếc du thuyền triệu đô sang trọng. Khuôn mặt người đàn ông có vết sẹo chữ Y dài tám phân co rút trên mu bàn chân trái đang giẫm lên tấm hải đồ quốc tế.

Phía dưới bức ảnh là một dòng tin nhắn ngắn ngủn:

"Cảm ơn anh đã giúp tôi thanh lý toàn bộ những kẻ đồng mưu phiền phức ở Sài Gòn, Đội phó Trần Vũ. Món nợ Mái ấm Hướng Dương... coi như đã trừ xong vào tiền viện phí hai mươi năm của em trai tôi."

0