Chương 129: Rãnh Sáp Đáy Hộp
Mùi lưu huỳnh bốc lên từ lòng đất quyện với hơi nước mưa lạnh ngắt trên sườn đồi Robin tạo thành một thứ khói đục, chua lòm như giấm thối.
Cây kim luồn số mười bốn cắm ngập vào khoang liên sườn số hai bên ngực trái tôi. Mỗi nhịp tôi rướn người thở, tiếng xì xì sắc lẹm của áp lực khí thoát ra qua đoạn găng tay cao su Hạ Băng cắt làm van một chiều lại rít lên ken két.
Máu sủi bọt đỏ tươi trào ra quanh chân kim, chảy ngoằn ngoèo xuống vạt áo sơ mi rách bươm dính bết vào bụng.
"Nằm im."
Giọng Hạ Băng khàn đặc. Hai bàn tay mang găng y tế của cô ướt sũng bùn đất và cồn đỏ, ngón tay đè chặt miếng băng dính lụa cố định đốc kim vào da thịt tôi. Đầu gối cô quỳ lún sâu xuống lớp đất mùn bazan sũng nước ngay dưới cản sau chiếc xe bán tải của Ba Cháy.
Đèn pha xe rọi một vệt sáng vàng vọt, cắt ngang màn mưa dầm đang quất rát mặt.
Tôi nhổ ra một búng nước bọt lẫn máu đen, chống cùi chỏ phải xuống gầm xe định gượng dậy. Cơn đau từ đốt xương sườn số sáu gãy lìa chọc ngược vào màng phổi tạng giật nảy lên như một luồng điện cao thế, bóp nghẹt thanh quản.
Tôi cắn chặt môi dưới. Vị tanh nồng của máu tươi tràn ngập chân răng.
"Chưa chết được." Tôi thở hắt ra, từng từ cộc lốc bật qua kẽ răng. "Đưa cái hộp đây."
Lê Hoàng đứng chắn gió phía đầu xe, khẩu K54 trong tay hạ nòng chúc xuống đất nhưng ngón trỏ vẫn tì vào vành bao cò. Áo khoác dã chiến của anh ta ướt sũng, bùn đỏ bám từ ống quần lên tận mang tai. Trên tay trái Hoàng là chiếc hộp kim loại bằng hợp kim nhôm máy bay màu xám tro, thứ vừa được chúng tôi giật ra khỏi bệ giá sắt của căn hầm Cao điểm 1500 trước khi khối nhiệt nhôm thiêu rụi tất cả thành quặng lỏng.
Hoàng bước hai bước lại gần, ngồi thụp xuống bên cạnh tôi, đặt chiếc hộp lên nắp thùng đồ nghề bằng sắt của Ba Cháy.
Ánh đèn pha quét ngang bề mặt hộp. Lớp vỏ nhôm hàng không dày ba ly phủ sơn tĩnh điện màu rêu quân sự xước xát chằng chịt. Mười bốn ống trụ titan chứa dịch tủy đông khô nằm gọn trong các khay kẹp xốp chịu nhiệt ở ngăn trên, nắp khóa cơ học vẫn đóng chặt.
Nhưng thứ chiếc Nokia trong túi áo ngực tôi vừa cảnh báo không nằm ở ngăn trên.
Tôi đưa bàn tay trái còn tê dại vì đứt nhánh thần kinh quay đỡ lấy đáy hộp, tay phải luồn ngón trỏ vuốt dọc theo mép gờ kim loại phía dưới.
Đáy hộp không phẳng.
Nó có một đường rãnh cắt cơ học hình chữ nhật, rộng chừng bốn phân, dài mười lăm phân, được phay chìm sâu vào thân nhôm dày bằng máy tiện kỹ thuật số.
Và phủ kín dọc theo đường rãnh đó là một lớp sáp niêm phong màu đỏ tươi.
Con dấu dập trên sáp còn sắc từng góc cạnh: hình bông hoa dã quỳ tám cánh vắt ngang một thanh kiếm gãy.
Tôi miết ngón tay lên mép sáp. Lớp sáp dẻo quánh, dính một vệt đỏ sẫm vào đầu ngón tay tôi.
Sáp chưa khô hoàn toàn.
Nó chỉ mới được nhỏ xuống và đóng dấu bằng một mộc đồng nung nhiệt chưa đầy bốn mươi phút trước.
"Lúc chúng ta vào hầm, thằng cha KTS-00 nguyên bản đã cầm sẵn cái hộp này trên tay." Hoàng nheo mắt, ánh nhìn sắc như dao rọi thẳng vào vệt sáp đỏ. "Hắn không châm diêm chỉ để tự sát. Hắn đã cài thêm thứ gì đó vào đáy hộp trước khi ném nó cho chúng ta."
"Không phải hắn cài." Tôi thì thào, lồng ngực giật thắt theo từng nhịp van xả khí. "Hắn ngồi dưới căn hầm đó suốt bốn mươi năm, tay run rẩy vì co giật do nhiễm xạ, không thể cắt một đường rãnh phay tinh xảo với độ hở dưới một phần mười mi-li-mét thế này được."
Hạ Băng dùng kéo ngoại khoa cắt phăng một đoạn băng thun, quấn chặt quanh lồng ngực tôi để ép cố định các mảnh xương sườn gãy. Cô kéo mạnh một vòng làm tôi nghẹn thở, mắt tối sầm lại trong hai giây.
"Bớt nói lại, Vũ. Khí màng phổi đã giảm nhưng tràn máu màng phổi đang tăng. Anh có chưa đầy một tiếng trước khi máu đông làm nghẹt ống kim này." Hạ Băng lạnh lùng nói, rồi với tay rút con dao mổ số mười một từ túi cứu thương đưa cho tôi. "Dùng cái này mà cạo. Đừng làm cong lưỡi dao của tôi."
Tôi cầm cán dao mổ bằng thép không gỉ. Lưỡi dao sắc lẹm cắm ngập vào mép sáp đỏ, rọc một đường dứt khoát dọc theo rãnh nẹp.
Mùi sáp ong cháy khét quyện với mùi dầu bóng công nghiệp xông lên nồng nặc. Từng mảng sáp đỏ vỡ vụn, rơi lả tả xuống bùn đất.
Dưới lớp sáp là một tấm trượt bằng titan mỏng bằng nửa lưỡi dao lam.
Hoàng dùng đầu móng tay cái bấm vào lẫy ngàm lò xo ở góc trái. Một tiếng "tách" nhỏ bằng tiếng kim đồng hồ nhảy số vang lên khô khốc. Tấm trượt bật lùi ra nửa phân, để lộ một khoang rỗng hẹp chỉ dày chừng sáu mi-li-mét giấu kín bên trong lớp đáy kép của chiếc hộp nhôm.
Không có vàng. Không có quặng đất hiếm. Cũng không có ổ cứng quân sự.
Nằm gọn trong khoang rỗng bọc lớp màng polymer chống ẩm là một cuộn băng đục lỗ bằng đồng thau mỏng dính - loại băng mã hóa cơ học dùng cho máy điện báo vô tuyến quân sự thời kỳ chiến tranh lạnh - và một phong bì nhỏ bằng giấy pơ-luya màu vàng rơm, bên ngoài đóng dấu đỏ tươi hình chữ nhật: *TỔNG KHO LONG BÌNH - PHÂN TRẠM THU PHÁT VÔ TUYẾN SỐ 9*.
Phía dưới con dấu đỏ là dòng chữ viết tay bằng mực bút máy Parker màu đen đặc, nét chữ vuông vức, đanh thép của một kẻ quen viết nhật lệnh hành quân:
*Lệnh ghi đè KTS-00-B chỉ khóa được trạm tiếp vận Robin trong sáu mươi phút. Máy chủ ngầm tại Tổng kho Long Bình sẽ tự động kích hoạt chuyển tiếp lúc 04:00 sáng. Muốn dừng bàn cờ, hãy mang chìa khóa cơ học đến khoang ngầm K-86.*
Tôi nhìn chằm chằm vào dòng chữ. Nét mực đen đã khô, nhưng góc phong bì vẫn còn vương một hạt bụi đỏ đặc trưng của đất đồi Biên Hòa, hoàn toàn khác biệt với bùn mùn bazan đen ướt của Đà Lạt.
"Một trạm chuyển tiếp thứ hai." Hoàng nghiến răng, khẩu K54 trong tay anh ta siết chặt lại. "Chúng ta tưởng đã bắt được Nguyễn Văn Hùng ở Tân Sơn Nhất và khóa sóng ở đồi Robin là xong. Nhưng Hùng chỉ là con mồi nhử kéo Cảnh sát Quân sự về phía sân bay."
"Và kéo cả chúng ta lên cái đỉnh đồi chết tiệt này." Tôi tiếp lời, đưa tay rút cuộn băng đục lỗ bằng đồng ra khỏi khe hẹp.
Cuộn băng kim loại lạnh ngắt cọ vào lòng bàn tay tôi. Dọc theo thân băng là hàng ngàn lỗ bấm li ti xếp theo ma trận ba cột, mã hóa một chuỗi thuật toán nhận diện không thể bị xâm nhập bởi sóng điện từ hay lệnh ngắt vệ tinh. Đây là chìa khóa cơ học nguyên bản - thứ duy nhất có thể đút vào khe đọc của máy thu phát cổ điển đặt sâu trong lòng đất Tổng kho Long Bình để phát đi lệnh thanh lý cưỡng chế cuối cùng cho Quỹ Viễn Đông tại Geneva.
Thời gian trên màn hình chiếc Nokia hiển thị: 00:35.
Từ chân đèo Prenn chạy ngược về Tổng kho Long Bình ở Đồng Nai, theo Quốc lộ 20 rồi nhập vào Quốc lộ 1, nhanh nhất cũng mất gần ba tiếng rưỡi chạy xe trong đêm bão sạt lở.
Chúng tôi chỉ có đúng hai tiếng hai mươi lăm phút trước khi đồng hồ điểm 04:00 sáng.
Chiếc Nokia trong túi áo ngực tôi lại rung lên một nhịp ngắn.
Màn hình đen trắng chớp sáng. Một dãy ký tự mã hóa xuất hiện:
*CHUYẾN XE RỜI ĐỒI ROBIN SẼ KHÔNG QUA ĐƯỢC ĐÈO BẢO LỘC. ĐẠI TÁ TRỊNH VĂN PHÁT ĐÃ BỎ LẠI MỘT ĐỘI DỌN DẸP Ở KM 98.*
Tôi gập nắp chiếc điện thoại lại, nhét sâu vào túi trong.
Ba Cháy từ buồng lái thò đầu ra ngoài cửa sổ, gạt cần gạt nước kêu cọt kẹt: "Thầy Vũ, dầu còn đầy bình, nhưng đèo Chuối sạt lở từ nửa đêm, Cảnh sát Giao thông đã chặn xe từ chân đèo. Chúng ta chỉ còn đường Tỉnh lộ 725 qua ngã Đạ Tẻh, nhưng đường đó đá hộc ngập bùn, xe tải gầm cao này chạy cũng phải mất ba tiếng rưỡi mới ra được Tân Phú."
"Chạy đường Đạ Tẻh." Tôi nói, giọng nghẹn lại vì cơn tức ngực. "Đạp hết ga. Hỏng xe thì bỏ xe."
Hoàng không nói một lời. Anh ta với tay cầm lấy hộp nhôm, nhét cuộn băng đồng và phong bì pơ-luya vào túi áo ngực rồi leo thẳng lên ghế phụ phía trước, kéo chốt an toàn khẩu K54 về nấc mở.
Hạ Băng nắm lấy cánh tay tôi, kéo tôi đứng dậy. Toàn thân tôi run lên bần bật vì lạnh và mất máu. Đáy mắt tôi nhòe đi, những dải sương mù Đà Lạt cuộn lại thành những bóng đen chập chờn trước mũi xe.
Cô không an ủi. Cô không bảo tôi phải cố lên.
Cô chỉ lạnh lùng cắm thêm một ống tiêm giảm đau vào đùi tôi qua lớp quần bò ướt sũng, ngón tay ấn pít-tông dứt khoát đến tàn nhẫn: "Liều này là liều cuối cùng trong đêm nay. Nếu tim anh ngưng đập giữa đường đèo, tôi sẽ không ép tim đâu. Tôi sẽ bỏ xác anh lại cho đám kiểm lâm."
"Biết rồi." Tôi cười nhạt, vị máu nơi đầu lưỡi đắng ngắt. "Để dành sức mà khâu tử thi."
Tôi bước thấp bước cao bám vào thành xe, trèo lên hàng ghế sau. Cánh cửa sắt dập mạnh một tiếng "rầm", ngăn lại tiếng gió hú gầm rú trên đỉnh đồi Robin.
Chiếc Ford Ranger gầm rú, bốn bánh xe quẫy bùn đỏ tung tóe rồi lao vút xuống dốc thông tăm tối, đâm thẳng vào màn mưa xối xả hướng về phía nam.
Bên trong buồng lái, chỉ còn lại tiếng máy dầu rền rĩ, tiếng kim dẫn lưu rít từng hồi yếu ớt trên ngực tôi, và tiếng lách cách của những viên đạn chín ly rơi vào lòng bàn tay Lê Hoàng khi anh ta tra thêm đạn vào băng phụ.
Bàn cờ chưa bao giờ dừng lại ở Đà Lạt.
Những kẻ mặc vest ngồi ở Geneva và những bóng ma trong các căn hầm thời chiến chưa từng có ý định để bất kỳ ai sống sót rời khỏi mảnh đất này.
Tôi tựa đầu vào cửa kính ướt lạnh, nhìn ra bóng tối dày đặc của rừng thông đang lùi dần về phía sau. Trong túi áo tôi, chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm của bảo mẫu Mai Lan cấn vào xương sườn gãy, nhói buốt từng cơn.
Thứ đang đợi chúng tôi ở Tổng kho Long Bình không chỉ là một cái máy phát tín hiệu.
Đó là nơi bức màn hai mươi năm trước bắt đầu buông xuống.
Và tôi biết, khi chiếc hộp nhôm này được mở ra đến tận đáy cùng của nó, sẽ có những kẻ phải trả giá bằng thứ đắt hơn cả mạng sống: đó là danh dự của những nấm mồ không tên.
Ba Cháy giẫm lút ga. Chiếc xe lao ầm ầm qua khúc cua tay áo đầu tiên của Tỉnh lộ 725, nơi bóng tối của đèo cao nguyên đang mở toang như một miệng vực chờ sẵn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.