Chương 58: Tàn Tro Trên Bàn Thờ
Nước triều cường dâng ngang đầu gối ở hẻm 48 Ba Đình có màu nước cống pha dầu máy, nổi lềnh bềnh những mảnh xốp và vỏ bao bì mì tôm rách nát. Mùi xú khí nồng nặc bốc lên từ lòng cống hở quện vào cái lạnh ẩm ướt của đêm Sài Gòn sau cơn mưa dầm.
Tôi bước từng bước một, gót giày kéo lê dưới đáy bùn đen quánh. Mỗi lần nhấc chân, lồng ngực bên trái lại giật thắt như có một mảnh thủy tinh sắc lẹm đâm xiên qua màng phổi. Xương sườn số sáu gãy lìa vẫn đang nghiến ken két vào lớp cơ thịt bị bầm dập. Tôi thọc tay vào túi quần, móc ra hai viên giảm đau liều cao sứt mẻ góc, tống thẳng vào họng rồi nuốt khan. Vị đắng gắt và chát xỉn của hóa chất bám chặt lấy cuống họng, kích thích dạ dày rỗng tuếch co bóp từng cơn nôn nao.
Điện thoại Nokia trong túi áo rung lên một nhịp ngắn.
Màn hình đơn sắc hiện lên dòng tin nhắn từ đầu số vệ tinh quốc tế:
"Hai phút. Chìa khóa 104 hoặc tro bụi."
Tôi không trả lời. Tôi nhét chiếc điện thoại trở lại túi áo ngực, ngay phía trên chiếc chìa khóa bằng đồng số 104 và tờ sao kê ngân hàng mà Đăng đã nhét vào tay tôi trước khi máy đo tim ở Nhà Bè kéo một đường thẳng tắp.
Cách đó ba mươi mét, dưới bóng tối của cây cột điện rỉ sét, chiếc Ford Ranger của Lê Hoàng vẫn đỗ tắt đèn. Qua gương chiếu hậu mờ nước mưa, tôi thấy một đốm sáng đỏ le lói từ điếu thuốc lá của Hoàng. Họng súng K54 của cậu ta đang gác lên mép kính hạ hé, khóa chặt vào góc cua dẫn ra đường Đoàn Văn Bơ. Nếu có tiếng nổ lớn hoặc lửa bùng lên, Hoàng sẽ bắn nát bình xăng chiếc Innova biển trắng lạ hoắc đang đỗ chắn miệng cống đầu ngõ.
Nhưng đây là chuyện trên căn gác xép của tôi. Tôi phải tự bước lên.
Cánh cửa sắt kéo ở tầng trệt căn nhà ống khép hờ. Mẩu tăm tre tôi thường gài kín ở khe bản lề đã gãy vụn dưới nền gạch ướt. Một vệt bùn mới tinh in hình đế giày da ngoại nhập dẫm đè lên lớp bụi bẩn.
Tôi rút khẩu súng ngắn giấu dưới cạp quần, kéo chốt an toàn bằng ngón cái. Một tiếng "tách" nhỏ khô khốc chìm nghỉm giữa tiếng nước cống róc rách.
Cầu thang gỗ dẫn lên gác xép dốc đứng và hẹp đến mức hai người đi ngược chiều phải nép sát người mới lọt. Tôi bước lên mép ngoài cùng của từng bậc gỗ lim, nơi đinh tán ăn sâu vào tường chịu lực tốt nhất để triệt tiêu tiếng cót két.
Mùi khói nhang quen thuộc của căn gác bị lấn át bởi một mùi hương lạ: mùi nước hoa cạo râu đắt tiền pha lẫn mùi kim loại bị nung nóng bởi tia quét cao tần.
Qua khe cửa gỗ dán mở hé một lóng tay, ánh sáng xanh lơ từ màn hình thiết bị dò sóng quét lia lịa trên vách tường ván ép.
Hai người đàn ông mặc âu phục sẫm màu đang đứng quay lưng về phía cửa. Một gã cao lớn tầm một mét tám mươi lăm, vai rộng, cầm thiết bị dò kim loại kỹ thuật số rà từng xen-ti-mét quanh khung ảnh thờ của Tuấn. Gã thứ hai thấp hơn, đứng tựa lưng vào bàn làm việc của tôi, tay cầm một khẩu súng ngắn gắn ống giảm thanh to bản chúc xuống sàn, ngón tay trỏ đặt hờ trên vành cò.
Bức ảnh thờ của Đại úy Nguyễn Tuấn bị đẩy lệch sang một bên. Bát hương bằng sứ Bát Tràng cắm đầy chân nhang cũ bị cạy nghiêng, tàn tro màu xám nhạt đổ tràn ra mặt bàn gỗ mục, phủ lên cốc nước trắng cúng dở từ ba ngày trước.
Một khoảnh khắc rất ngắn, chỉ độ nửa giây, mắt tôi hoa lên. Lồng ngực bên trái giật giật từng cơn như muốn bung toạc lớp băng thun Hạ Băng đã quấn quanh sườn. Nhưng tôi thở ra đằng mũi một luồng khí nóng rực, cắn chặt hàm răng vào đầu lưỡi để vị máu tanh kéo giật toàn bộ thần kinh trở lại mặt đất. Tôi hạ thấp trọng tâm, dồn lực vào chân phải không bị thương.
Gã cầm thiết bị dò sóng đột ngột dừng tay trước một mảng ván ép phía sau bàn thờ. Thiết bị phát ra tiếng bíp siêu nhỏ ngắt quãng.
"Tìm thấy rồi," gã nói bằng giọng lơ lớ, tiếng Việt pha giọng đặc trưng của dân buôn tài chính hải ngoại. "Chiếc hộp kẽm nằm sâu trong hốc gạch. Lấy kìm thủy lực ra."
Gã cầm súng vừa quay đầu lại thì tôi đã đạp bung cánh cửa gỗ dán.
Cánh cửa mỏng đập mạnh vào thái dương gã cầm súng khiến gã lảo đảo, khẩu súng giảm thanh văng khỏi tay rơi bịch xuống tấm nệm cũ. Không để gã kịp định thần, tôi lao tới, dập cả cùi chỏ phải vào yết hầu đối phương. Tiếng sụn giáp gãy giòn vang lên trong cổ họng gã. Gã nghẹn thở, hai mắt trợn ngược, quỵ xuống sàn nhà.
Nhưng cú va chạm mạnh khiến xương sườn gãy của tôi cọ thẳng vào màng phổi. Một cơn đau buốt óc xộc thẳng lên đại não làm tầm nhìn của tôi tối sầm trong một tích tắc.
Gã cao lớn lập tức phản xạ. Hắn không thèm rút súng mà vung nguyên khối máy dò kim loại bằng hợp kim nặng trịch nện thẳng vào xương quai xanh của tôi.
Tôi nghiêng người né được nửa đòn, nhưng cạnh kim loại vẫn sượt qua bả vai trái, giáng một lực khủng khiếp đè nén khoang ngực. Máu tươi ứ lên cổ họng, tràn qua khóe môi.
Tôi lùi lại hai bước, lưng đập mạnh vào cạnh bàn làm việc. Bình trà men rạn rơi xuống sàn vỡ toang, nước chè nguội ngắt chảy lênh láng hòa vào đống tàn tro bàn thờ.
Gã cao lớn rút từ trong nách ra một khẩu súng ngắn tự động nòng dài. Ánh sáng đèn đường vàng đục từ ô cửa sổ hắt lên gò má gồ ghề và đôi mắt một mí lạnh tanh của một tay trinh sát thực chiến được huấn luyện bài bản.
"Trần Vũ," gã mở miệng, giọng đều đều như máy đọc số tiền trong tài khoản. "Mày chậm ba mươi giây. Giao chìa khóa tủ 104 và mật mã tài khoản Thụy Sĩ của Hoàng Yến ra đây. Tập đoàn Khai khoáng Viễn Đông không có thói quen để người ngoài giữ cổ phần."
Tôi quẹt mu bàn tay dính bùn lên môi, lau vệt máu đỏ tươi rồi nhổ một bãi bọt tanh nồng xuống sàn gỗ.
"Viễn Đông?" Tôi nhếch mép, mỉa mai qua từng hơi thở đứt quãng. "Cái công ty bình phong chuyên rửa tiền quặng lậu cho Phan Hải Nam ở Singapore chứ gì? Quan chức trong nước rụng hết rồi, giờ đến lượt mấy con kền kền ngoại quốc bay vào nhặt xác à?"
Mắt gã không chớp lấy một cái. Ngón tay trỏ siết dần vòng cò.
"Phan Hải Nam hay Nguyễn Khắc Thắng chỉ là những viên chức địa phương nhận tiền thuê mặt bằng," gã nói, giọng cộc lốc vô cảm. "Mỏ đất hiếm dưới nền Mái ấm Hướng Dương đã được ký hợp đồng bảo đảm quyền khai thác ngầm năm mươi năm cho các quỹ đầu tư quốc tế từ năm 2004. Năm mươi triệu đô la Phạm Kiến Quốc chuyển sang Zurich tuần trước là tiền bảo lãnh của chúng tao. Bản đồ phân lô địa chất mà thằng Tuấn giấu sau bàn thờ và chìa khóa 104 của Hoàng Yến là hai thứ cuối cùng để kích hoạt hợp đồng chuyển nhượng quốc tế. Mày giữ nó cũng không sống qua nổi đêm nay đâu."
"Thế à?"
Tôi thở hắt ra, ngón tay trái bí mật lần vào túi quần, chạm vào chiếc bật lửa gas năm nghìn bằng nhựa trong suốt.
"Mày có biết vì sao Tuấn nó giấu bản đồ địa chất ở sau bức ảnh thờ không?"
Gã cao lớn hơi nhíu mày, họng súng vẫn giữ nguyên vị trí tim tôi.
"Bởi vì," tôi nói chậm rãi, mắt nhìn thẳng vào đồng tử của hắn, "thằng Tuấn nó biết, mấy thằng mặc vest sang trọng như chúng mày chỉ giỏi đọc hợp đồng bằng tiếng Anh, chứ đéo bao giờ hiểu được một bát hương ở cái đất này nặng bao nhiêu cân."
Dứt lời, tay phải tôi hất tung chiếc gạt tàn bằng đồng thau nặng hơn một ký trên bàn làm việc thẳng vào mặt gã.
Gã theo phản xạ nghiêng đầu né tránh và bóp cò. Một tiếng "phụt" trầm đục vang lên xé toạc không khí, viên đạn 9mm găm thủng tấm ván ép sau lưng tôi, bụi mùn cưa bay mù mịt.
Nhưng cùng lúc chiếc gạt tàn bay đi, tay trái tôi đã quẹt chiếc bật lửa gas nhựa ném thẳng vào đống cồn sát trùng y tế 90 độ mà tôi đã cố tình đổ tràn ra mặt bàn cạnh bình trà vỡ từ trước.
"Bùng!"
Ngọn lửa xanh biếc bốc lên ngùn ngụt giữa hai người, liếm thẳng vào tay áo sơ mi đắt tiền của gã đặc vụ. Gã giật mình lùi lại nửa bước để tránh lửa táp vào mặt.
Khoảng trống nửa giây đó là quá đủ cho một kẻ đã lăn lộn mười lăm năm ở các ngõ ngách bẩn thỉu của Sài Gòn.
Tôi không dùng súng. Tôi lao người tới như một khúc gỗ mục, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể và bờ vai phải đâm sầm vào bụng gã, xô cả thân hình hộ pháp của gã đập mạnh vào chấn song sắt cửa sổ gác xép.
Khung cửa sổ gỗ mục thời thuộc địa bung chốt sắt rỉ sét, gãy gập ra ngoài. Gã mất đà, ngửa người ra khoảng không tối om phía sau con hẻm. Tôi chộp lấy cổ tay cầm súng của gã, vặn ngược một góc chín mươi độ bằng thế khóa khớp cận chiến của lính hình sự.
"Rắc!"
Khớp cổ tay gã vỡ vụn. Khẩu súng rơi thẳng xuống dòng nước đen ngòm dưới đáy hẻm.
Gã gầm lên một tiếng câm nín, tay còn lại móc ra một con dao găm bấm định đâm vào sườn tôi. Nhưng tôi không cho gã cơ hội thứ hai. Tôi giật phắt chiếc kẹp tóc bằng nhôm uốn hình con bướm - kỷ vật cháy xém của bảo mẫu Mai Lan mà tôi luôn mang trong túi áo - đâm thẳng vào mu bàn tay đang cầm dao của gã.
Mũi nhôm sắc nhọn cắm phập xuyên qua gân mu bàn tay, ghim chặt tay gã vào thanh gỗ cửa sổ.
Gã rú lên đau đớn, toàn thân co giật, con dao rơi cắm phập xuống sàn.
Tôi ghé sát mặt mình vào tai gã, hơi thở hôi mùi thuốc lá và máu tươi phả thẳng vào lớp da mặt đang tái mét của đối phương:
"Về bảo với mấy ông chủ ngân hàng ở Thụy Sĩ của chúng mày: Mảnh đất này đã có tám đứa trẻ và một người phụ nữ bị thiêu sống. Máu của người Việt Nam đổ xuống đó không quy đổi ra đô la được đâu."
Tôi vung nắm đấm bọc khớp ngón tay sắt giáng thẳng vào quai hàm gã. Tiếng va chạm cơ học vang lên khô khốc. Gã đặc vụ trợn trừng mắt rồi mềm nhũn như một bao cát, đổ gục xuống sàn ván ép bất tỉnh nhân sự.
Căn gác xép trở lại sự tĩnh lặng chết chóc.
Chỉ còn tiếng lửa cháy liu riu trên mép bàn gỗ dán và tiếng thở dốc nặng nhọc như kéo bễ của chính tôi.
Tôi ngồi bệt xuống sàn, hai tay ôm chặt lấy lồng ngực bên trái. Cơn đau co thắt khiến mồ hôi lạnh vã ra như tắm, ướt đẫm tấm áo sơ mi bết dính bùn cống. Tôi há hốc miệng hớp từng ngụm không khí nồng nặc mùi cồn cháy và mùi tro tàn.
Phía dưới ngõ, tiếng lội nước bì bõm dồn dập vang lên.
Lê Hoàng đẩy phăng cánh cửa gác xép bước vào, khẩu K54 lăm lăm trên tay. Nhìn thấy hai gã âu phục nằm bất động trên sàn và đống lửa xanh đang liếm dần vào mép sách cũ, Hoàng vội vàng giật lấy tấm chăn mỏng dập tắt ngọn lửa rồi lao tới đỡ lấy vai tôi.
"Anh Vũ! Anh có sao không?"
Tôi xua tay, không nói nổi một câu hoàn chỉnh. Máu từ khóe môi lại rỉ ra, nhỏ từng giọt đỏ thẫm xuống lớp tàn tro bàn thờ vung vãi dưới chân.
Hoàng nhìn đống tro tàn của bát hương và bức ảnh thờ của Tuấn bị xô lệch, ánh mắt cậu ta đanh lại như thép nguội. Cậu ta cúi xuống, móc còng số tám khóa chặt tay chân hai gã đặc vụ vào cột nhà bằng gỗ lim, sau đó lục soát toàn bộ người bọn chúng.
Hai cuốn hộ chiếu ngoại giao màu xanh thẫm mang quốc tịch một quốc đảo ở châu Âu, một tập tài liệu tài chính in bằng tiếng Anh có đóng dấu niêm phong đỏ của Tập đoàn Khai khoáng Viễn Đông, và một thiết bị liên lạc vệ tinh quân sự mã hóa cao cấp.
Hoàng nhặt tấm thẻ bài nhân viên của gã cao lớn lên, soi dưới ánh đèn pin mini.
"Đúng là người của Quỹ ủy thác Viễn Đông," Hoàng nghiến răng. "Bọn chúng cắm chốt ở khu trung tâm Quận 1 suốt ba năm nay dưới vỏ bọc công ty tư vấn tài chính. Cửu và Khiêm vừa ngã ngựa, bọn chúng biết dòng tiền rửa một trăm hai mươi triệu đô la sắp bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Viện Kiểm sát Tối cao phong tỏa nên nhảy vào cướp tài liệu để tẩu tán nốt số tài sản ngầm."
Tôi vịn vào chân bàn, gượng dậy từng chút một. Cơn đau nhói ở màng phổi làm tôi khuỵu gối xuống một nhịp, nhưng tôi vẫn cố vươn tay tới hốc tường phía sau khung ảnh thờ của Tuấn.
Lớp ván ép đã bị cạy bung một nửa.
Bên trong khoảng trống giữa hai hàng gạch mộc là một chiếc hộp bằng tôn kẽm xám xịt, phủ một lớp bụi mốc dày cộp. Tôi run rẩy rút chiếc hộp ra, đặt lên mặt bàn còn vương tro tàn.
Nắp hộp mở ra với một tiếng ken két khô khốc.
Bên trong là cuốn sổ tay công tác bọc bìa bạt màu xanh quân đội của Tuấn và một tấm bản đồ địa chất khổ A3 gấp làm tư.
Tấm bản đồ vẽ chi tiết hệ thống tầng địa chất và các mũi khoan thăm dò khoáng sản ngầm tại khu vực Mái ấm Hướng Dương cũ ở Đà Lạt, được Tuấn sao chép lại từ kho lưu trữ mật của Sở Tài nguyên năm 2021 trước khi bị điều chuyển về Đội Trọng án.
Ở góc dưới bản đồ, Tuấn dùng bút bi đỏ khoanh tròn một tọa độ ngầm sâu bốn mươi mét dưới lòng đất, kèm một dòng chữ nắn nót viết tay:
"Túi khoáng sản đất hiếm nguyên sinh. Trữ lượng ước tính hai phẩy năm tỷ USD. Dòng tiền đầu tư bí mật từ Quỹ Viễn Đông chuyển qua Hợp đồng ủy thác số 104-MBE tại Ngân hàng Thụy Sĩ. Người thụ hưởng cuối cùng giữ chìa khóa két sắt bảo chứng."
Hoàng đứng sững lại nhìn dòng chữ. Cậu ta rút chiếc chìa khóa tủ gửi đồ bằng đồng số 104 mà Đăng để lại, đặt lên trên mặt bản đồ.
Hai con số 104 trùng khớp hoàn toàn.
"Chiếc chìa khóa tủ đồ số 104 ở Bến xe Miền Đông..." Hoàng thì thầm, giọng khàn đặc. "Nó không phải là một ngăn tủ chứa đồ thông thường của Hoàng Yến."
"Không," tôi nói, giọng lạnh tanh như gió bấc rít qua khe cửa sổ vỡ. "Nó là nơi cất giấu bản hợp đồng bảo chứng dòng tiền năm mươi triệu đô la giữa Phạm Kiến Quốc, Hoàng Yến và tổ chức tài chính quốc tế đứng sau Viễn Đông. Hoàng Yến biết mẹ cô ta và Quốc đã bán linh hồn cho quỷ dữ. Cô ta giữ chiếc chìa khóa đó làm lá bùa hộ mệnh để sống sót rời khỏi Việt Nam."
Tôi khép cuốn sổ tay của Tuấn lại, cẩn thận nhét vào túi áo trong, ngay cạnh chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm.
Đúng lúc đó, thiết bị liên lạc vệ tinh thu được từ người gã đặc vụ trên sàn nhà đột ngột chớp đèn đỏ liên tục. Một giọng nói đàn ông trung niên, lạnh lùng và chuẩn xác bằng tiếng Việt, truyền qua loa ngoài:
"Báo cáo tình trạng ở hẻm 48 Ba Đình. Đã thu hồi được bản đồ địa chất và chìa khóa 104 chưa? Chiếc xe bồn chở hóa chất đã vào vị trí ngã tư Đinh Bộ Lĩnh. Đúng 04:00 sáng, khu B Bến xe Miền Đông cũ sẽ phát hỏa để xóa sổ toàn bộ hệ thống tủ lưu trữ hành lý. Các anh có mười lăm phút để rút khỏi hiện trường."
Tiếng bíp kết thúc cuộc gọi vang lên khô khốc.
Tôi nhìn đồng hồ đeo tay. Ba giờ bốn mươi phút sáng.
Tôi ngẩng đầu nhìn lên bức ảnh thờ của Tuấn. Trong làn khói nhang mỏng manh còn sót lại giữa căn phòng tan hoang, nụ cười của người đồng đội ba năm trước vẫn nguyên vẹn dưới lớp kính bám bụi mưa.
Tôi đưa tay chỉnh lại khung ảnh cho ngay ngắn, gạt lớp tàn tro đổ trên mặt bàn gỗ rồi quay lưng bước thẳng ra phía cầu thang dốc đứng.
"Đi thôi Hoàng," tôi nói, giọng cộc lốc không một chút do dự. "Bọn chúng muốn nhóm thêm một ngọn lửa nữa. Chúng ta phải đến đó trước khi tàn tro kịp nguội."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.