Quyển 1: Đứa Trẻ Rời Đi
Chương 4: Mùi Rơm
Mái ngói của gian nhà chính phủ địa chủ phủ một màu rêu đen kịt, sẫm lại sau trận mưa rào. Nắng chiều xiên qua những kẽ lá mít bện đặc côn trùng, rọi một vệt sáng u u uẩn uẩn xuống khoảng sân gạch loang lổ rêu xanh. Lão địa chủ ngồi trên chiếc sập gụ khảm xà cừ đen bóng, ngón tay gõ nhịp đều đều xuống mặt gỗ phát ra tiếng bọc... bọc...
Lão nheo đôi mắt kèm nhèm nhìn đứa con trai độc nhất vừa từ tỉnh xa trở về, giọng khàn đặc mùi khói thuốc đặc: "Học chữ thiên chữ địa cho lắm cũng chỉ để giữ cái cơ nghiệp này. Tao xưa một chữ bẻ đôi không biết, vẫn cắm được cột mốc phủ này lên đất này. Ở lại!". Cậu Mao đứng dưới bực thềm, vạt trắng phẳng phiu tương phản gắt gao với bóng tối thâm nghiêm của gian thờ. Cậu không thưa, không gật, chỉ khẽ cúi đầu, đôi mắt nhìn đăm đăm vào vệt nắng đang tắt dần nơi bậu cửa.
Kể từ dạo cậu Mao bắt đầu nhúng tay vào sổ sách, cái ngột ngạt, âm u của dinh cơ như bị một luồng khí lạnh thốc thẳng vào. Gian bếp phủ từ tờ mờ sáng đã có tiếng chày giã cối rầm rập, bốc lên mùi cá kho tương nồng đượm chứ không còn mùi cá ươn, cơm mốc như trước. Mấy đứa con ở, đứa xách nước, đứa quét sân, bước chân không còn run rẩy, lầm lũi như bóng ma. Khẩu phần cơm dọn ra trong chiếc chậu gỗ không còn là thứ cám đặc độn rau khoai héo, mà lấp ló mấy miếng mỡ heo thái dày. Đám gia nhân bưng bát cơm nóng, ngón tay thô ráp, nứt nẻ vì bùn đất khẽ run lên, họ tớp từng miếng lớn, mắt lén nhìn về phía thư phòng của cậu chủ nhỏ với ánh nhìn vừa hàm ơn, vừa e sợ cái phước lành đột ngột này.
Sự đổi thay âm thầm ấy len lỏi khắp các gian nhà, nhưng lại đọng thành một cục nghẹn nơi cổ họng lão quản gia. Gã đứng nép dưới bóng cây ngâu, đôi mắt ti hí dán chặt vào chiếc roi da treo trên vách cột - thứ vũ khí giờ đã đóng một lớp bụi mờ. Mỗi bản kê khai chi tiêu gã trình lên đều bị cậu Mao dùng cây bút chấm mực đỏ gạch chéo một đường.
Cậu Mao không nổi trận lôi đình. Cậu chỉ gõ nhẹ đầu bút lông xuống mép bàn gỗ trắc, tiếng gõ... gõ... gợn lên sự lạnh lùng:
– Tiền mua gạo tháng này bớt đi một nửa, mà người làm lại gầy rộc đi. Sổ sách ghi mười hai bao, kho thực tế còn sáu. Số còn lại đi đâu?
Gã quản gia đứng thu hình trong góc tối, hai bàn tay đan vào nhau bấu chặt đến trắng bợt móng tay. Gã không dám nhìn thẳng vào đôi mắt đen sâu hoắm, tĩnh lặng như mặt giếng hoang của cậu chủ nhỏ. Hàm răng gã nghiến chặt vào nhau, hai bên quai hàm bạnh ra, uất nghẹn dội lên ức nhưng môi chỉ biết mấp máy vài tiếng vâng dạ lý nhí trong cổ họng. Lão địa chủ giờ đã giao hòm chìa khóa cho con, gã biết mình không còn chỗ bấu víu.
Ngoài đồng xa, tiếng nghé ọ rền rĩ gọi đàn trong buổi hoàng hôn buông muộn. Đen dắt trâu về chuồng, cái bụng không còn réo lên cồn cào vì đói. Cậu vuốt ve sống lưng con trâu mộng, bờ vai bớt đi những vệt lằn đỏ của roi vọt sau một tháng trời yên ả. Đen ngồi bệt xuống đống rơm khô cạnh Mã, ngửa mặt nhìn những cánh cò bay lả về phía bìa rừng. Ý nghĩ trốn chạy khỏi phủ, cái ý định từng khiến cậu thức trắng nhiều đêm nung nấu bên bờ mương, giờ rữa ra, chìm lấp sau bát cơm đầy mỗi tối. Cậu nghĩ đến mùa gặt tới, nghĩ đến việc được ở lại cạnh người anh em này, cuộc đời phu phen có lẽ cũng chỉ cần đến thế là cùng.
Dinh phủ địa chủ bước vào những ngày lặng gió, một sự bình yên như mặt nước ao bèo trước cơn giông. Một tháng qua, tiếng roi da vun vút xé thịt, tiếng chửi rủa rát búa của gã quản gia đã tắt ngấm sau những bờ tường gạch vồ dày cộp. Chỉ còn tiếng lá rụng xào xạc trên mái ngói và không khí trong phủ có phần loãng ra, đỡ mùi xú uế, nhưng trong cái tĩnh lặng mới mẻ ấy, người ta vẫn ngửi thấy mùi ẩm mốc cũ kỹ của đất đai phong kiến chưa hề tan đi.
Sương muối chưa tan hết trên những mái ngói vảy cá sẫm màu chì. Nắng mùa đông hanh hao, rạch những vệt sáng bợt bạt vuông vức xuống khoảng sân gạch phủ địa chủ. Lão già đứng đó, chễm chệ trong tấm áo gấm thêu chữ thọ chìm, dẫu cái bụng phệ mỡ đã xệ xuống bấu chặt lấy thắt lưng, nhưng đôi bả vai thô ngang và cái cổ rụt rịt của gã vẫn toát ra cái uy lực váng vất của một thời đi cướp đất. Lão nhìn Mao. Đôi mắt lão già ti hí, thâm hiểm bỗng trùng xuống khi nhìn gạt qua dãy cột lim bóng lộn vệt dầu. Chiếc chìa khóa kho bằng đồng rỉ xanh cùng tập sổ đóng bằng chỉ xơ gai được đặt rầm xuống mặt bàn gỗ. Cạnh đó, gã quản gia rúm ró như một con chuột chù bị lột da, hai chòm râu ria khục khặc đưa lên đưa xuống theo nhịp thở gấp gáp.
Lão địa chủ giáng một bàn tay hộ pháp lên vai con trai, tiếng cười ồm ồm rít qua kẽ răng vàng ố khói thuốc, dặn dò lấy vài câu thô thiển rồi ném một cái nhìn lạnh hớp hồn về phía gã đầy tớ già. Lão muốn đi. Cái ngột ngạt của bốn bức tường gạch cao như thành trì này không nhốt nổi con thú săn trong bụng lão; lão thèm mùi máu thú rừng sâu.
Nhưng cái nhiệt huyết ban đầu của người thanh niên học tỉnh về cũng chỉ chịu được qua mấy tuần trăng. Đêm muộn, ngọn đèn dầu lạc trên bàn viết đung đưa, hắt cái bóng trĩu nặng của Mao lên vách tường. Những hàng chữ ngang dọc, những con số tính tô, tính thuế, tiền nong thóc gạo đẻ ra tiền nong thóc gạo... chúng ngoằn ngoèo, nhớp nhúa như đàn giun đất sau mưa.
Đầu Mao nhức buốt, từng thớ thịt bên thái dương giật lên thon thót. Cậu ném cây bút lông xuống nền nghiên mực đục ngầu, tiếng gập sổ vang lên khố khốc trong đêm tịch mịch. Cậu không chịu nổi thứ mùi tiền nồng nặc và tanh tao này nữa. Sáng hôm sau, tập sổ sách lại chễm chệ nằm trên bàn gã quản gia. Mao bước ra ngoài, để mặc bóng tối của lòng tham cũ kỹ trỗi dậy sau lưng mình.
Buổi chiều chớm đông, gió bấc thổi ràn rạt qua các dãy hành lang sâu hun hút. Mao cầm quyển sách cổ khâu gáy, gót giày da gõ từng nhịp lơ đãng trên nền gạch lạnh ngắt. Cậu bước vô định, đầu óc thả theo những dòng triết lý xa xôi trên trang giấy ố vàng, cho đến khi cái lạnh hanh hao bị bóp nghẹt bởi một mùi vị khác: mùi phân trâu nồng nặc, mùi rơm mục dính nước đái hoai nồng và mùi bùn ao tanh hăng hắc. Mao giật mình ngẩng lên. Khói bếp quện với sương chiều hun hút, biến khu chuồng trại góc phủ thành một thế giới tăm tối, biệt lập.
Dưới ánh hoàng hôn, đàn trâu mộng lầm lũi nối đuôi nhau về chuồng, móng guốc giẫm bôm bốp xuống nền đất nhão nát. Đen đi sau cùng. Cái bóng nhỏ thó của đứa trẻ rách rưới lọt thỏm giữa những khối thịt đen thẫm khổng lồ đang thở phì phò ra hơi sương trắng xóa. Mao đứng nép sau bụi duối gai bện chặt, mắt đăm đăm nhìn. Đứa bé làm việc như một cái máy được tra dầu, nhanh nhẹn và lặng lẽ. Đôi bàn tay gầy gò, xước xát của nó thoăn thoắt buộc thừng, hạ chốt cửa, hất những bó rơm khô vào máng không một động tác thừa, mắt không hề ngước lên nhìn xung quanh.
Bỗng một con trâu đực giống khổng lồ, cặp sừng dài nhọn hoắt như hai lưỡi mác, dẫm chân bình bịch không chịu vào lối chuồng cũ. Nó hếch mũi, thở rống lên những tiếng đục ngầu đầy đe dọa. Đen không lùi lại, cũng không run rẩy. Thằng bé lầm lũi tiến lên, một tay bấu lấy vành tai dày sần sùi của con thú, tay kia khẽ vuốt dọc sống mũi ướt sũng váng mồ hôi của nó rồi giật mạnh sợi dây thừng xỏ qua mũi. Một cái giật lạnh lùng, dứt khoát. Con vật nặng vài tạ bỗng dưng dịu lại, tiếng thở khè khè chìm xuống, nó ngoan ngoãn cúi đầu bước theo gót chân bết bùn của đứa trẻ. Mao đứng trong góc khuất, hơi thở khẽ khựng lại nơi lồng ngực. Một sự kinh ngạc pha lẫn lạnh gáy trỗi dậy trong lòng cậu chủ trẻ khi chứng kiến cái uy lực lầm lì, hoang dã ẩn sau cái vóc dáng còm cõi của đứa ở.
Xong việc, Đen đưa hai bàn tay đóng vảy bùn khô phủi mạnh vào hông chiếc quần sọc rách gấu. Nó quay người, định bụng lẻn nhanh sang chuồng ngựa để tìm anh Mã như mọi chiều. Nhưng vừa xoay gót, cả thân hình nó cứng đờ lại. Tim nó như rụng xuống hố sâu khi đập thẳng vào mắt nó là vạt áo dài bằng dạ xám của cậu chủ Mao, người đang đứng sừng sững, bất động như một bức tượng ma mị ngay trong bóng tối của góc chuồng trâu.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.