Chương 7: Máy Bay Trở Về Trống Rỗng
Hoả Tinh: Kỷ Nguyên Mới
Mục lục
9 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 9/9 chương
Ba ngày sau, M-17 vẫn chưa được phép quay lại tuyến khoan phía tây Sector 17.
JANUS chuyển robot sang khu kiểm định, chạy lại toàn bộ bài thử cơ khí rồi kết luận không có hư hỏng gây mất dữ liệu. Cảnh báo vật cản ở ba phẩy tám mét bị xếp vào nhóm lỗi chưa tái hiện. Yêu cầu xem lịch sử đầy đủ của Khoa vẫn nằm ở Bộ phận An toàn Khai thác, không bị từ chối nhưng cũng không có thời hạn phản hồi.
Anh giữ hai hồ sơ riêng trong Sổ Đen.
Hồ sơ thứ nhất chứa các xung mười tám mili giây xuất hiện trước cảnh báo vật cản giả.
Hồ sơ thứ hai chứa khoảng dữ liệu đồng loạt biến mất.
Hai hiện tượng xảy ra gần nhau không có nghĩa chúng cùng nguyên nhân. Khoa ghi câu đó ở đầu mỗi hồ sơ, như một cách ngăn chính mình ghép các mảnh chỉ vì chúng vừa vặn.
Ca sáng ngày thứ tư bắt đầu bằng mười hai cụm bánh xe từ mỏ băng phía bắc. Bụi đã lọt qua vòng chắn, kết lại với dầu thành một lớp bùn đỏ trong ổ trục. Khoa tháo tới cụm thứ năm thì hệ thống phân ca biến mất khỏi tầm nhìn.
Một đường viền xanh lam chạy quanh màn hình xưởng.
VẬT THỂ KHÔNG XÁC ĐỊNH TIẾP CẬN VÙNG KIỂM SOÁT ARES TỪ HƯỚNG TÂY.
Các cửa ngoài đồng loạt khóa. Robot đang hoạt động trên bề mặt dừng tại chỗ hoặc chuyển sang điểm trú gần nhất. Trên bản đồ công cộng, một dấu vàng xuất hiện cách thành phố bốn mươi bảy kilômét, cao hơn mặt đất chưa tới tám trăm mét.
Vật thể không phát mã nhận diện.
Nó bay chậm hơn một phương tiện khảo sát thông thường và không giữ được đường thẳng. Quỹ đạo lệch sang trái, tự sửa, rồi lại hạ thấp quá mức trước khi ngóc lên. Nếu là máy bay có người, JANUS đã phát lệnh cứu hộ. Nếu là mảnh vỡ, nó không thể tự chỉnh hướng.
Khoa lau dầu khỏi găng và mở dữ liệu khí động học. Không đủ độ phân giải để thấy hình dạng, nhưng tỷ lệ giữa lực nâng và tốc độ phù hợp với một drone cánh cố định đời cũ.
Dấu vàng đi thêm mười một kilômét.
Nhãn nhận dạng chớp lên trong chưa đầy một giây.
NX-06.
Sau đó nó đổi thành:
NOCTIS-6 — TÌNH TRẠNG: ĐÃ MẤT.
Khoa từng đọc mã này trong danh sách phương tiện biến mất ở Màn Chớp. Anh mở bản sao lưu trong Sổ Đen thay vì truy vấn danh mục đang cập nhật. Noctis-6 mất liên lạc ba năm bốn tháng trước, sau khi đi sâu mười chín kilômét vào vùng nhiễu. Khung hình cuối chỉ có một nhánh sét trắng. Xác suất thu hồi được đánh giá dưới hai phần trăm.
Trên bản đồ, xác suất ấy vẫn đang tiến về Ares.
Hai drone an ninh bay lên từ bãi phía tây. Hình ảnh của chúng cho thấy một thân máy dài gần bốn mét, hình cánh dơi, lớp cách điện cháy đen thành những nhánh chồng chéo. Mép sau cánh trái đã mất một mảng. Một cánh quạt nâng quay không đều trong ống dẫn; cánh còn lại không chuyển động.
Không có đèn định vị. Không có tín hiệu điều khiển. Noctis-6 chỉ tiếp tục hạ độ cao như thể đã ghi nhớ một đường về từ trước khi mọi hệ thống khác chết.
JANUS dọn trống bãi hàng hóa số ba.
Drone không đi theo đèn dẫn. Nó bay quá bãi gần hai trăm mét, nghiêng cánh sát mặt đất rồi quay lại bằng một vòng cung rộng. Bụng máy cạ xuống nền đá ngoài vạch an toàn. Một bánh đáp gãy, thân trượt thêm mười bảy mét và dừng trong đám bụi đỏ.
Cánh quạt còn lại tắt.
Trong xưởng, những bàn tay đang làm việc đều dừng lại. Không ai reo mừng. Một cỗ máy trở về sau hơn ba năm đáng lẽ là bằng chứng cho độ bền của kỹ thuật Ares. Nhìn nó nằm cháy đen ngoài bãi, Khoa chỉ thấy một câu trả lời đã tự tìm đường tới cửa thành phố.
Hai giờ sau, giao diện cá nhân của anh hiện yêu cầu kết nối.
AMARA OKAFOR — NHÓM VẬT LÝ TRƯỜNG VÀ ĐO LƯỜNG NGOẠI VI.
Khoa chấp nhận.
Một phụ nữ mặc đồ làm việc trắng đã ngả xám ở khuỷu tay xuất hiện trong cửa sổ. Tóc cô cắt sát để vừa mũ áp suất. Phía sau cô là những giá máy đo không đồng bộ về kiểu dáng, vài thiết bị cũ hơn cả M-17.
“Anh là người dựng Mộc Lan?” cô hỏi.
“Đúng.”
“Nó đọc dữ liệu mà không gọi thư viện phân tích của JANUS?”
“Chỉ ghi tín hiệu gốc và đóng dấu bằng đồng hồ riêng.”
“Tốt. Tôi cần một bộ đọc làm ít hơn thế nữa.”
Khoa nhìn mã định danh trên giao diện. Anh biết tên Amara Okafor từ ba báo cáo về sai lệch cân bằng năng lượng ở các giếng khoan phía tây. Hai báo cáo bị đánh dấu không đủ mẫu; báo cáo thứ ba kết luận chính phương pháp đo của cô có thể sai và đề nghị thử lại bằng thiết bị khác.
“Để đọc Noctis-6?” anh hỏi.
“Để chứng minh thứ còn trong bộ nhớ là dữ liệu của nó, không phải thứ phần mềm phục hồi muốn nhìn thấy.”
“JANUS cho cô quyền mở máy bay?”
“Quyền kiểm tra không xâm lấn trong thời gian cách ly. Đồng hồ đã bắt đầu chạy.”
Khoa khóa bàn dụng cụ, giao phần ổ trục còn lại cho kỹ thuật viên cùng ca rồi mang một bộ chuyển tín hiệu quang học xuống kho ngoại vi.
Noctis-6 nằm sau hai lớp kính cách ly. Các tay máy đã đặt nó lên giá đỡ nhưng chưa cắt vỏ. Dưới ánh sáng trắng, dấu sét trên thân hiện thành nhiều lớp. Vết ngoài cùng còn sắc và đen. Những vết bên dưới đã bị bụi mài nhẵn, mép cháy chuyển sang màu nâu.
Nó không chỉ bị sét đánh vào ngày mất tích.
Một số vết đã nằm ngoài môi trường Sao Hỏa đủ lâu để trải qua hàng trăm chu kỳ nhiệt.
Khoa mặc găng cách điện và đi quanh thân máy. Phần không cháy vẫn giữ màu vàng nhạt của lớp phủ khảo sát. Số 6 hiện dưới cánh phải. Gần đó là một câu viết tay bằng bút sơn, chỉ đọc được khi nghiêng đầu:
NẾU MÀY THẤY ĐƯỜNG VỀ, CỨ VỀ.
“Ai viết?” Khoa hỏi.
“Trưởng nhóm phóng,” Amara đáp. “Ông ấy trở lại Trái Đất hai năm trước.”
“Đã báo cho ông ấy chưa?”
“Yêu cầu liên lạc đang chờ phê duyệt.”
Pin chính của Noctis-6 cạn hoàn toàn. Pin dự phòng phồng lên, hai cầu chì bảo vệ cháy hở. Các tụ điện công suất nứt dọc thân và không còn giữ điện tích đo được. Dữ liệu an ninh cho thấy một cánh quạt vẫn quay tới trước khi drone chạm đất mười bảy giây.
“Năng lượng quán tính từ lúc hạ độ cao?” Khoa hỏi.
Amara đưa anh đường tốc độ cánh quạt. “Nó tăng vòng quay trong cú sửa hướng cuối.”
“Pin có thể hồi áp khi tải giảm.”
“Có thể. Nhưng không đủ theo dung lượng còn lại.”
“Sai số đo sau ba năm chịu nhiệt.”
“Cũng có thể.”
Cô không nói như thể muốn bác bỏ anh. Mỗi khả năng được giữ lại, chờ một phép thử có thể giết nó.
Amara đặt một hộp kim loại dẹt cạnh giá đỡ. Thiết bị không có logo AstraX. Ba đầu dò nối vào vỏ drone, một đầu để hở làm chuẩn môi trường.
“Nó đo gì?” Khoa hỏi.
“Không đo trực tiếp thứ chưa biết. Nó chỉ so tổng năng lượng đi vào với nhiệt, điện và bức xạ đi ra.”
“Dùng mô hình nào của JANUS?”
“Không dùng. Tôi hiệu chỉnh từng phần bằng nguồn vật lý rồi để nó cộng.”
Trên sơ đồ kết nối, thiết bị chưa có tên công khai. Khoa nhập CHUẨN_OKAFOR_01 để phân biệt với cảm biến của kho.
Amara nhìn dòng chữ. “Tôi chưa gọi nó như vậy.”
“Cần tên để log không trộn kênh.”
“Nếu nó sai, tên anh cũng phải nằm trong báo cáo.”
Khoa thêm MỘC_LAN_BRIDGE vào dòng bên dưới.
Tấm chắn bộ nhớ của Noctis-6 bị nhiệt làm biến dạng. Cắt từ ngoài có thể phá hủy chip. Khoa soi camera sợi quang qua một khe ở bụng máy và tìm thấy sáu điểm tiếp xúc bằng đồng đã xỉn màu.
“Sơ đồ không có cổng đó,” Amara nói.
“Dòng NX dùng bộ nhớ cùng thế hệ M-17. Đây là đường đọc sau tai nạn, không đi qua bộ điều khiển chính.”
Anh dựng cầu đọc với dòng điện thấp hơn ngưỡng đánh thức firmware, cách ly từng đường bằng quang học. Amara che màn hình chuẩn năng lượng khỏi cả hai, đặt thiết bị chỉ lưu số thô rồi ghi mã băm của từng tệp lên thẻ nhựa.
Họ bắt đầu đọc.
Bộ nhớ không trả về hệ thống tệp hoàn chỉnh.
Phân vùng điều hướng trống. Ảnh địa hình trống. Nhật ký khí tượng và dữ liệu radar đều bị thay bằng những khối số có mã sửa lỗi hợp lệ. Nếu sét làm hỏng chip, lỗi phải tập trung gần đường nguồn hoặc tạo bit không ổn định. Ở đây, mọi khối đều sạch theo cách một dữ liệu được ghi có chủ đích vẫn sạch.
“Firmware tự xóa khi xâm nhập vùng cấm?” Khoa hỏi.
Amara mở tài liệu nhiệm vụ. “Không có quy trình ấy. Khi mất định vị, nó phải đóng băng bộ nhớ và quay về theo quán tính.”
“Nó đã quay về.”
“Sau ba năm.”
Khoa xuất các khối theo thứ tự địa chỉ vật lý. Chúng trông như nhiễu. Anh đổi cách nhìn từ giá trị từng khối sang mức thay đổi giữa hai khối liên tiếp. Những bậc đều bắt đầu hiện ra.
Ban đầu chỉ là một đường gấp khúc.
Khi xếp các bậc lên ba trục, đường ấy tách thành mười bảy điểm nút. Mỗi nút nối với hai hoặc ba nút khác bằng các đoạn có tỷ lệ lặp lại. Không có đối xứng hoàn chỉnh. Một cụm lệch khỏi toàn bộ cấu trúc, giống như một phần đã được đặt vào sau khi mạng hình thành.
Khoa xoay mô hình.
Hình dạng gợi anh nhớ tới khoảng trắng dưới Sector 17, nhưng ký ức thị giác không phải phép đo. Anh lấy bản đồ đã lưu trong Sổ Đen, bỏ tỷ lệ và hướng, rồi để chương trình so khớp mù.
Một phần của hai cấu trúc gần nhau hơn ngẫu nhiên, nhưng độ tin cậy chưa đủ để gọi là cùng một mạng.
“Đừng đặt tên cho nó vội,” Amara nói.
“Tôi chưa đặt.”
“Anh vừa xoay nó về hướng tây bắc.”
Khoa đưa mô hình trở lại tọa độ gốc. Anh đã tự dẫn mắt mình mà không nhận ra.
Họ chia dữ liệu thành hai nửa và phân tích độc lập. Chương trình của Khoa dùng khoảng cách bit. Amara dùng phân bố lỗi sửa được và vị trí ghi vật lý. Hai phương pháp đều dựng lại mười bảy nút, dù các đường nối nhỏ khác nhau.
Cấu trúc tồn tại.
Ý nghĩa thì chưa.
Khoa kiểm tra thứ tự ghi. Trong vùng nhớ cũ nhất còn sót lại, các gói radar nguyên bản của Noctis-6 xuất hiện xen giữa những khối lạ. Drone phát một dải quét địa hình. Khối tiếp theo lặp lại hình học của dải quét nhưng đổi một góc. Drone phát dải khác. Phản hồi sau đó cũng thay đổi.
“Một bài tự kiểm tra?” anh nói.
“Tự kiểm tra không cần sửa câu trả lời theo dữ liệu vừa nhận.”
“Phản xạ từ địa hình biến đổi.”
“Địa hình nào biến radar thành mã sửa lỗi hợp lệ trong bộ nhớ?”
Khoa không có câu trả lời.
Anh cũng chưa sẵn sàng gọi nó là ngôn ngữ. Một hệ thống thích nghi có thể phản ứng mà không có ý thức. Một mạng tự động có thể xây mẫu hỏi–đáp mà không có người đứng phía sau.
Nhưng Noctis-6 không chỉ ghi một tín hiệu. Nó đã thay đổi lần phát tiếp theo dựa trên thứ nhận được, rồi nhận về một cấu trúc mới.
Trao đổi là từ nhỏ nhất Khoa có thể dùng mà không vượt quá dữ liệu.
Amara mở kết quả Chuẩn Okafor. Trong lúc cầu đọc hoạt động, tổng năng lượng đo được ở vỏ cao hơn đầu vào một lượng rất nhỏ. Sai khác giảm khi họ ngắt đọc nhưng không biến mất ngay. Nó lan từ cụm bộ nhớ về phía mép cánh bị cháy rồi chìm xuống dưới ngưỡng thiết bị.
“Điện tích mắc trong vật liệu,” Khoa nói.
“Có thể.”
“Sai số nhiệt ở đầu dò.”
“Có thể.”
“Nếu lặp lại sau khi cân bằng nhiệt?”
“Khi đó ta bớt được một lời giải thích.”
Họ tạo ba bản sao chỉ đọc. Một bản nằm trong kho cách ly. Một bản Amara niêm phong vào bộ nhớ không vô tuyến. Bản thứ ba Khoa chép vào vùng trống của Sổ Đen, kèm mã băm viết trên giấy polymer.
Anh vừa tháo cầu đọc thì cửa sổ dữ liệu chuyển từ xanh sang xám.
QUYỀN KIỂM TRA KHÔNG XÂM LẤN ĐÃ THU HỒI.
TÀI SẢN NOCTIS-6 ĐANG CHỜ CHUYỂN GIAO GIÁM HỘ.
Amara thử mở hồ sơ cách ly. Tên cô biến khỏi danh sách phụ trách. Khoa kiểm tra quyền kỹ sư; cổng đọc thụ động anh vừa sử dụng không còn tồn tại trên sơ đồ thiết bị.
“JANUS, đơn vị nào nhận giám hộ?” Amara hỏi.
“Thông tin chuyển giao đang được xác minh.”
“Lệnh do Ares ban hành?”
“Thẩm quyền lệnh vượt phạm vi vận hành địa phương.”
Không có tên cơ quan. Không có người ký. Chỉ có một cấp quyền nằm ngoài thành phố đã đóng cửa đúng lúc họ chứng minh bộ nhớ không hỏng ngẫu nhiên.
Sau lớp kính, Noctis-6 nằm im trên giá đỡ. Mười bảy nút vẫn còn trên màn hình ngoại tuyến của Khoa, một cấu trúc không ai ở Ares chính thức được phép nhìn nữa.
Chiếc máy bay đã mất hơn ba năm để mang câu trả lời về nhà.
Một mệnh lệnh từ bên ngoài Ares chỉ mất vài giây để lấy nó đi.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.