Huyền Sử Đại Việt

Chương 2: Đao Hay Đàn Bà ?

Đăng: 19/10/2026 17:00 3,861 từ 1 lượt đọc

Lý Sẹo ngồi xổm trên một cái thúng úp ngược trước cửa lều, đôi ủng ngập bùn. Bàn tay quen cầm dao hơn cầm bút của hắn nắm cây bút lông như nắm một cái dùi, chấm vào bát mực loãng, mực nhỏ giọt xuống cả ủng. Lý Sẹo không biết chữ. Cuốn sổ trên đầu gối hắn chỉ toàn những vạch đen xiêu vẹo. Mười tân binh của toán chen nhau đứng trước thúng, lưng còng xuống như những con tôm bị rút ruột, mỗi đứa ôm một cái giỏ tre hay một túm vải nặng trĩu và ướt sũng.

Nguyễn Trác đứng tựa cây giáo bên cạnh, tay bưng bát cơm nguội, hàm nhai chậm rãi. Bách phu trưởng không nhìn ai. Mắt y chỉ dõi theo đống gạo và hũ muối đặt trên manh chiếu cạnh chân Lý Sẹo, phần quân công của cả toán.

“Ai có đầu, đưa lên,” Lý Sẹo nói, mắt không rời cuốn sổ. “Ai không có, đứng sang một bên mà nhịn.”

Đầu Bò bước ra trước, gã to như trâu mộng, dốc ngược cái giỏ, mấy cái đầu còn dính đất lăn phịch xuống trước thúng. Lý Sẹo lật từng cái bằng mũi ủng, rồi khó nhọc kéo từng vạch vào sổ. Chuột Chũi rụt rè trút ra vài cái đầu nhỏ, tóc bết máu, rồi lùi ngay vào hàng như sợ bị ai giật mất. Hòa run rẩy mở túm vải đỏ trong tay. Cái đầu bên trong đã cứng đờ, mắt nhắm nghiền. Lý Sẹo liếc qua, lại kéo thêm một vạch, không nói gì.

Đến lượt Trần Mục. Hắn tháo dây miệng giỏ, xếp từng cái đầu ra trước thúng: sáu cái đầu lính Đinh, rồi cái cuối cùng hắn đặt riêng ra. Đầu bê bết bùn, máu ở cổ đã sẫm lại, má hóp, môi tím tái, miệng hé ra như vẫn còn điều gì chưa nói. Lý Sẹo lật mặt nó lên, dừng tay. Mí mắt hẹp, một nếp, khép hờ trên tròng mắt đục.

Lý Sẹo kéo sáu vạch cho sáu cái đầu kia, rồi hai vạch chéo nhau, dấu của đầu phương Bắc, và hất hàm về phía Nguyễn Trác. Bách phu trưởng ngó cái đầu, nói to: “Trần Mục. Sáu đầu thường, một đầu mắt một mí. Mười sáu quân công.”

Trần Mục nghe cả hàng tân binh im phắc. Mười sáu quân công là nhiều nhất toán, nhiều hơn cả Đầu Bò lẫn Chuột Chũi cộng lại. Theo lệ, kẻ nhiều quân công nhất được quyền chọn phần thưởng của trận, đêm nay bách phu trưởng sẽ mang tới.

Nguyễn Trác đặt bát cơm xuống. Y cúi xuống đống gạo, vốc hai vốc đầy đổ vào cái thúng tre của mình, rồi bốc một nắm muối thô bỏ vào túi áo, ngay trước mặt cả toán. Không ai lên tiếng. Lý Sẹo vẫn cúi đầu, lóng ngóng tô lại mấy vạch mực nhòe như không thấy gì. Phần còn lại được chia ra, mỗi gói lá chuối nhỏ hơn hôm qua một nửa.

Trần Mục nhận gói gạo của mình, nhét vào trong áo vải thô. Hắn cảm thấy những ánh mắt bám vào lưng. Đầu Bò huýt một tiếng sáo, nửa phục nửa tức. Chuột Chũi ngó cái đầu mắt một mí lâu hơn mức cần. Hòa nhìn hắn, rồi nhìn gói gạo nhỏ của mình, rồi thôi không nhìn nữa. Trần Mục không quay lại. Hắn chỉ thấy đói, cơn đói dai dẳng hơn cả nỗi sợ.

Lý Sẹo nhổ một bãi nước bọt xuống bùn, ngay cạnh đống đầu vừa ghi sổ.

“Đầu bọn Bắc thì trên kia trả giá,” hắn nói, giọng khàn, không nhìn ai, như đang bàn chuyện mưa nắng. “Đầu người mình chỉ để đếm.”

Lý Sẹo hất cằm về phía Trần Mục. “Mày nhiều công nhất thì làm thêm việc. Khuya nay đem đống này ra bãi sau hào mà chôn, đừng để chó nó tha.”

Trần Mục gật đầu. Hắn không hỏi vì sao lại là hắn.

Nguyễn Trác đã cầm cái đầu của Trần Mục lên. Y lật nó qua lại trong lòng bàn tay, ngón cái miết dọc mép mí mắt hẹp, môi mấp máy như đang nói với ai đó đứng khuất sau lưng.

“Bọn thầy cúng ngoài miếu cần thứ này,” Nguyễn Trác lẩm bẩm, tiếng nói mỏng tang bị gió cuốn đi một nửa. “Đầu người Bắc chôn xuống thì thần mới thiêng. Ma Bắc mới không về được.”

Không ai hỏi lại. Đầu Bò gãi cổ. Chuột Chũi nháy mắt rồi liếm môi. Hòa cúi gằm. Bách phu trưởng đặt cái đầu vào riêng một góc, tách khỏi đống đầu lính Đinh, rồi bưng bát cơm lên nhai tiếp.

Trần Mục nghe từng chữ, rồi để mặc chúng trôi qua. Thần nào thiêng, ma nào về, không phải việc của hắn. Hắn chỉ nhớ một điều: cái đầu mắt một mí kia đáng giá, đáng giá hơn mọi cái đầu khác hắn từng thấy.

Mặt trời vừa khuất sau lũy, bóng tối đã từ ruộng tràn lên, nuốt dần những đống đầu, những dãy lều, cho tới khi chỉ còn lửa.

Trại thắng trận bừng lên giữa bóng tối. Lửa bập bùng từ những đống củi ướt, khói cay xé mắt quyện với mùi thịt trâu nướng cháy khét. Trâu cướp từ làng lân cận, xẻ ngay trên bãi, thớ thịt còn rỉ máu đã quăng lên than. Rượu gạo đựng trong những vò đất sứt miệng chuyền tay nhau, men nồng nặc lẫn mùi máu khô trên áo lính.

Tiếng hát, tiếng gào, tiếng chửi thề trộn vào nhau thành một thứ ồn ào không dứt. Một gã lính trẻ say mềm trèo lên cái vò úp ngược, vỗ ngực hát một câu hò chèo thuyền, hát chưa hết câu đã trượt chân ngã lăn xuống bùn, cả đám cười rộ. Mấy gã khác cởi trần vật nhau bên đống lửa, mồ hôi bóng nhẫy; ai quật được người kia xuống đất thì được uống trước một bát.

Góc trại, một đám đang đánh bạc. Giữa vòng người là cái bát đất lổn nhổn những chiếc răng bạc, răng bọc vàng, cạy ra từ hàm những kẻ giàu chết trận, có chiếc còn dính máu khô. Đó là thứ đáng giá duy nhất lột được từ xác mà không phải nộp lên sổ quân công. Vài chỗ đã có người đánh nhau, nắm đấm nện vào ngực vào mặt, đám đứng quanh chỉ cười to hơn.

Tướng quân cho người gọi gái mua vui từ các xóm chợ quanh lũy về khao quân thắng trận. Họ đi lại giữa những đống lửa, áo mỏng, môi đỏ quết trầu, cười nói lả lơi, bị lính kéo tay hết phía này sang phía kia. Có người cười thật. Có người chỉ cười cho qua đêm.

Lý Sẹo đi giữa các đống lửa với bầu rượu trong tay, không cấm ai điều gì. Trần Mục đứng ở cửa lều nhìn ra, Hòa nép sau lưng hắn. Không ai biết ngày mai mình còn sống không. Vì thế đêm nay không ai muốn dừng.

Trần Mục cố hòa vào.

Hắn ngồi xuống cạnh đống lửa, bên Đầu Bò. Gã đang giơ vò rượu lên cao, giọng ầm ầm như sấm: “Uống! Uống cho hết! Mai có chết thì cũng chết no!” Trần Mục giật lấy vò, ngửa cổ tu một hơi dài. Men cay xộc lên mũi, nóng rát xuống bụng. Hắn bật cười theo tiếng cười của cả đám, cười to, cười như thể mình cũng đang vui.

Hắn xé một miếng thịt trâu còn đỏ ở giữa, nhét vào miệng, nhai ngấu nghiến như con thú đói lâu ngày, mỡ chảy xuống cằm. Đầu Bò gặm xương bên cạnh, vừa nhai vừa hát một câu hò cấy lúa sai lời. Hòa cầm bát rượu nhỏ, uống một ngụm thì sặc, rồi lại uống tiếp, mặt đỏ bừng.

Chuột Chũi ngồi sát đống lửa, níu tay áo một gã lính già.

“Mai có phải đánh nữa không chú?”

“Mày hỏi lần thứ mấy rồi?” Gã lính già gạt tay nó ra, mắt không rời miếng thịt.

“Thì chú cứ nói cho cháu biết. Mai đánh hay không đánh?”

“Mai thì mai biết. Đêm nay mày còn cái mồm mà hỏi là may rồi. Ăn đi.”

Chuột Chũi im được một lúc, rồi lại ghé sang.

“Thế lỡ mai đánh, cháu đứng sau chú được không?”

Gã lính già bật cười, phun cả mẩu sụn vào lửa. “Đứng sau tao? Tao cũng đang tìm đứa nào mà đứng sau đây.”

Trần Mục nhập vào vòng bạc. Hắn ném xúc xắc xương, thua mất gói gạo, rồi gỡ lại được một chiếc răng bọc vàng. Tiếng hô, tiếng chửi, tiếng cười khinh bỉ khi có người thua sạch. Bàn tay hắn không run. Bên trong, có một chỗ trống mỗi lúc một rộng, rượu đổ vào bao nhiêu cũng không lấp được.

Ở rìa đống lửa có Lão Cò ngồi xổm. Lão là lão binh già nhất trong đám, gầy gò khẳng khiu, hai cẳng chân như hai que củi, cổ dài ngoẵng, lưng còng; cái tên Lão Cò cũng từ đó mà ra. Trông lão như một cơn gió mạnh là đủ thổi ngã. Vậy mà những kẻ to khỏe hơn lão gấp mấy lần đã nằm lại ở không biết bao nhiêu trận, chỉ riêng lão vẫn ngồi đây, sống lâu hơn bất cứ ai trong doanh. Không ai biết lão đã theo bao nhiêu lá cờ, và lão cũng không bao giờ kể. Lúc này lão nhai một miếng thịt khô cứng, mắt lim dim nhìn vào đám than đỏ, không nhìn ai.

“Mười hai kẻ muốn làm vua,” lão nói, giọng khàn như gió lùa qua khe đá. “Mỗi kẻ một cờ, mỗi kẻ một họ. Họ đánh nhau để lấy ngai.”

Lão ngừng nhai.

“Còn bọn mình? Bọn mình là lúa. Gieo xuống đất để họ cày bừa. Cắt đi, chôn xuống, mọc lên lại cắt. Không bao giờ hết.”

Đầu Bò ngẩng lên khỏi khúc xương, mỡ còn bóng mép.

“Lúa thì lúa,” gã nói to. “Lúa mà có gạo ăn, có rượu uống thế này thì tao làm lúa cả đời cũng được.”

“Ừ,” Lão Cò gật gù. “Người ta cũng bón cho lúa no trước mùa gặt. Lúa có tốt thì mới nhiều thóc.”

“Lão già lẩm cẩm.” Đầu Bò nhổ mẩu xương xuống bùn. “Lão sợ thì lão về quê mà cấy.”

“Về quê,” Lão Cò nhắc lại, như nếm hai chữ ấy. “Mày tưởng ở quê thì không có ai đến bắt lính nữa à?”

Chuột Chũi chớp mắt nhìn lão, rồi buột miệng: “Thế sao lão sống được lâu thế?”

“Nhờ không hỏi nhiều.”

Lão bật cười, một tiếng cười ngắn, khô khốc như lá rụng. Trần Mục nhìn vào mắt lão. Trong đó không có căm hận, cũng không có sợ hãi, chỉ có sự mệt mỏi của người đã thấy cảnh này lặp lại quá nhiều lần. Hắn tu thêm một hớp rượu. Chỗ trống trong ngực vẫn nguyên đó.

Nguyễn Trác tới bên đống lửa, vạt áo dính bùn đỏ quạch. Theo sau y là một ả gái mua vui, áo mỏng, môi đỏ quết trầu, hông đưa theo từng bước. Y đặt phịch một cái gói vải bố xuống đất cạnh đống lửa, mở ra. Một thanh trảm mã đao nằm trong đó, lưỡi cong, đen sạm, có chỗ mẻ răng cưa nhưng vẫn còn sắc, cán quấn da trâu đã mòn bóng vì mồ hôi chủ cũ. Chiến lợi phẩm của trận.

“Trần Mục,” Nguyễn Trác nói, giọng đều đều. “Mười sáu quân công. Chọn đi. Ả này, một đêm. Hoặc thanh đao.”

Đầu Bò thôi nhai, nhìn ả. Chuột Chũi nhìn thanh đao. Hòa nhìn xuống đất. Lão Cò lim dim như không nghe thấy gì. Cả đám quanh đống lửa im bặt.

Ả cười với Nguyễn Trác trước, cái cười của người quen kiếm tiền, rồi mới quay sang Trần Mục, nhún mình chào. “Chàng lính trẻ thế này, thiếp hầu một đêm cũng mát lòng.” Nhưng lúc ả cúi xuống, khuất ánh lửa, mắt ả lướt qua đôi dép cỏ bê bết bùn và cái áo vải thô của hắn, và khóe môi đỏ trầu trễ xuống, chỉ một thoáng. Trần Mục thấy cái trễ môi ấy. Rồi ả lại cười. Cổ họng hắn khô lại.

Hắn chưa từng chạm vào một người con gái nào, ngoài lần nắm tay con bé nhà bên lúc cả hai còn chăn trâu. Những đêm nằm ở làng, hắn chỉ nghe đám trai lớn kể chuyện ấy, cười hô hố, rồi về nằm trằn trọc một mình. Giờ thì nó ở ngay đây, cách hắn ba bước chân.

Máu dồn lên mặt hắn, nóng ran. Rượu trong bụng như bốc lửa, lan xuống tận háng. Người hắn căng cứng như dây cung, hai bàn tay ướt mồ hôi dù đêm lạnh, tim đập thình thịch đến mức hắn sợ cả đám quanh đống lửa cũng nghe thấy. Hắn tưởng tượng da thịt ấm dưới tay, hơi thở phả vào cổ, một đêm được làm đàn ông, được quên hết mùi máu, mùi xác, tiếng thét của kẻ hấp hối và cái giỏ đầu nặng trĩu trên vai. Một đêm thôi. Ai biết ngày mai mình còn sống không.

Rồi mắt hắn trượt sang thanh đao. Lưỡi cong, đen sạm, còn sắc. Hắn nghĩ tới cái liềm cùn trong góc lều, lưỡi đã mẻ ba chỗ, mỗi lần chém vào xương là rung bần bật làm tay tê buốt. Sáng nay hắn đã phải đè cả sức nặng người xuống mới cưa đứt được một cái cổ. Lần sau, kẻ trước mặt hắn sẽ không nằm yên chờ như cái xác ấy.

Một đêm sung sướng, hay những ngày còn sống sau đó.

Hắn giằng co rất lâu. Hắn nhìn ả, rồi nhìn đao, rồi lại nhìn ả, nuốt khan, hai đầu gối run lên. Đám quanh đống lửa bắt đầu xì xào.

“Còn nghĩ gì nữa, thằng ngốc,” Đầu Bò cười khẩy. “Đao thì mai ra bãi lượm, thiếu gì.”

“Đao còn sắc thế kia, mày lượm ở đâu ra cho tao xem,” một gã lính già cãi, giọng lè nhè.

“Thì lượm cái cùn rồi mài. Đàn bà có ai mài cho mà có.”

Cả đám cười rộ. Nguyễn Trác nhướng mày, không cười.

“Nhanh lên,” y nói, giọng vẫn đều đều. “Ta không đứng đây cả đêm.”

Rồi hắn cắn răng.

“Đao,” hắn nói, giọng khàn đặc.

Ả không để mất nụ cười. Ả nhún mình với Nguyễn Trác, cười như vừa nghe một câu đùa hay: “Quan xem, trai làng thật thà, thương sắt hơn thương người.” Đám lính cười theo. Lúc quay đi, ả đi sát qua chỗ hắn ngồi, và chỉ đủ cho mình hắn nghe, ả khẩy một tiếng rất khẽ qua kẽ răng.

Rồi ả lẫn vào đám lính đang hò hét bên đống lửa bên kia.

Nguyễn Trác nhếch mép, đẩy cái gói vải về phía hắn. Lũ lính già bật cười, tiếng cười thô và khinh miệt.

“Ngốc thật,” một gã nói. “Có đàn bà không hưởng, lại ôm sắt. Mai chết thì biết.”

Bên đống lửa bên kia, ả đã ngồi lọt vào lòng một gã lính khác, cười như nắc nẻ, rót rượu mời hết người này sang người khác. Có một lần mắt ả chạm mắt hắn qua ngọn lửa; ả không cười. Đám tân binh không được chọn gì nhìn Trần Mục, ngơ ngác như không hiểu nổi hắn, rồi lại quay về với vò rượu. Đầu Bò lắc đầu, lẩm bẩm “phí”. Chuột Chũi gãi đầu, ngồi xích ra một chút. Hòa ngồi bên kia đống lửa, nhìn hắn một lúc lâu mà không nói gì.

Trần Mục không đáp. Hắn nhặt thanh đao lên. Trọng lượng của nó làm cổ tay hắn lắc nhẹ, sắt lạnh truyền vào lòng bàn tay. Hắn ôm nó vào ngực, tìm góc tối nhất trong lều, ngồi xuống.

Ngoài sân trại, tiếng hò reo bỗng dội lên. Hai gã lính đang vật nhau giữa bãi đất trống, giằng co một tấm vải xanh còn nguyên màu, thứ hiếm hoi giữa cả trại toàn vải rách. Gã mặc áo vá siết chặt mép vải.

“Để đấy!” gã gầm lên. “Tao tìm thấy trước!”

Gã kia đạp một cú vào bụng gã áo vá, rồi lao vào, hai nắm đấm nện xuống mặt, xuống đầu. Gã áo vá ôm đầu đỡ được mấy cú, rồi một cú trúng thái dương làm gã đổ vật xuống bùn. Gã kia vẫn chưa thôi, tay mò xuống thắt lưng rút con dao găm.

Lý Sẹo đang đứng dựa vào cọc gỗ gần đó, tay cầm bầu rượu, nãy giờ nhìn mà không nhúc nhích. Giờ hắn mới bước tới, giơ chân đạp vào cổ tay gã kia, con dao văng xuống bùn.

“Đánh thì đánh,” hắn nói, giọng bình thản. “Giết thì mai ai cầm giáo thay mày?”

Gã kia cúi đầu, nhặt con dao giắt lại vào lưng, rồi gỡ tấm vải xanh khỏi những ngón tay đã lỏng ra của gã áo vá, phủi bùn, bỏ đi như vừa lấy lại đồ của mình. Lý Sẹo hất cằm về phía hai tên lính trẻ.

“Lôi nó ra ngoài kia cho tỉnh rượu.”

Hai tên lính trẻ chạy tới, mỗi đứa nắm một cổ chân, kéo gã áo vá còn ngất lịm lê qua bùn, quăng ra bờ rào tre cuối trại như quăng một bao thóc lép. Sau lưng họ, tiếng trống lại đánh dồn, tiếng cười lại vang lên. Cuộc vui không ngừng.

Trần Mục nhìn qua khe cửa lều, ngón tay vẫn đặt trên chuôi đao. Hòa ngồi sau lưng hắn, mắt mở to nhìn ra bãi đất, như muốn hỏi điều gì. Hắn không đáp, cũng không nghĩ gì thêm.

Khuya, khi tiếng hò reo đã thưa, Trần Mục bước qua Đầu Bò đang ngáy giữa lối, gánh hai thúng đầu người mình ra bãi đất sau hào.

Hắn đi men theo bờ hào, tránh những đống rơm mục bốc hơi, tới chỗ vách đất xa nhất, nơi ánh lửa trại không với tới. Nước đen ngòm dưới chân, mùi thối nồng hơn khi gió ngừng thổi. Hắn vừa đào được nửa cái hố thì nghe tiếng bước chân lóp ngóp từ phía đống chiến lợi phẩm, tiếng vải thô cọ vào nhau. Hắn nín thở, lùi sâu vào bóng tối sau một bụi tre.

Nguyễn Trác dẫn đầu, tay cầm bó đuốc. Đi sau bách phu trưởng là ba bốn lão thầy cúng, áo đen dài tả tơi, mặt mũi xám như tro. Họ dừng lại trước những cái đầu mắt một mí bách phu trưởng đã để riêng dưới gốc cây. Lão già nhất, râu tóc bạc phơ, không dùng gậy mà cầm một cây trâm xương dài cỡ gang tay, khều từng cái đầu lật ngửa lên dưới ánh đuốc.

“Cái này,” lão thì thào, giọng khàn như sỏi va vào nhau. “Mắt một mí. Được.”

Lão khều thêm một cái nữa, rồi một cái nữa. Đến cái thứ ba, Trần Mục nhận ra nó. Má hóp, môi tím tái, miệng hé, mí mắt hẹp khép hờ. Cái đầu sáng nay hắn đã cắt, cái đầu Lý Sẹo đánh hai vạch chéo vào sổ.

Lão thầy cúng gật đầu với Nguyễn Trác. Một người trong bọn đặt lên gốc cây hai hộc gạo nếp và một cuộn vải tía.

“Ít thế,” Nguyễn Trác nói, mũi chân hất nhẹ vào hộc gạo. “Lần trước chừng này đầu là ba hộc.”

“Lần trước đầu còn tươi,” lão già nhất đáp, không ngẩng lên. “Mấy cái này phơi nửa ngày nắng rồi.”

“Nắng hay mưa thì cũng là đầu người Bắc. Miếu các người cần nó, chứ ta thì không.”

Lão thầy cúng im một lúc lâu. Rồi lão giơ hai ngón tay khô như que củi, và kẻ đứng sau lão đặt thêm một vò mật ong lên gốc cây. Nguyễn Trác lúc ấy mới gật đầu. Bọn thầy cúng không cắt xẻo gì cả. Họ bọc từng cái đầu mắt một mí vào vải thô, nguyên vẹn, cẩn thận như bọc trứng, rồi xếp vào một cái rương gỗ.

Trong bọn có một kẻ khác hẳn những người kia. Y trẻ hơn, mặc áo chùng đen, tóc buộc cao sau gáy. Khi y cúi xuống nâng rương, ống tay áo tuột lên, và dưới ánh đuốc, trên cổ tay trái lộ ra một vệt xăm xanh đen, như vảy rồng uốn quanh khớp xương. Kẻ ấy không nhìn về phía hào. Y kéo ống tay áo xuống, nhấc rương lên vai.

Cả nhóm lặng lẽ đi về phía ngôi miếu nhỏ ngoài lũy. Ánh đuốc lắc lư rồi nhòa vào bóng tối.

Trần Mục chờ tiếng chân tắt hẳn mới dám thở ra, rồi quay lại lấp nốt cái hố. Chuyện của quan trên với bọn ngoài miếu, không phải chuyện của hắn. Cái đầu mắt một mí ấy đã thành mười quân công trong sổ, thế là đủ. Hắn không hiểu, và cũng không dám hiểu.

Khi hắn trở về, Lý Sẹo đang đứng giữa lều, bầu rượu cạn treo lủng lẳng bên hông, mũi ủng đá từng đứa đang ngủ cho dậy.

“Dậy. Dậy mà nghe cho rõ, lệnh trên vừa xuống, tao chỉ nói một lần.” Lý Sẹo đợi đến khi cả toán ngồi lên, mắt nhắm mắt mở. “Quân Đinh thua nhưng chưa tan. Chúng đang gom tàn binh bên kia sông. Sớm muộn gì chúng cũng quay lại đánh lũy Tây Phù Liệt.”

“Thì mình đánh tiếp chứ sao,” Đầu Bò lè nhè, mắt vẫn nhắm.

“Đánh bằng cái mồm mày à?” Lý Sẹo nhổ toẹt xuống đất. “Từ mai cả doanh đắp thêm lũy, vót thêm chông. Đứa nào lười, tao cho ăn roi.”

“Còn lương?” Chuột Chũi hỏi nhỏ.

“Cắt một phần ba.” Lý Sẹo quay ra cửa lều. “Để dành cho ngày bị vây. Ngày ấy mà tới, chúng mày sẽ cảm ơn tao.”

Không ai cảm ơn. Lý Sẹo đi rồi, cả lều còn ngồi im một lúc lâu mới nằm xuống lại.

Trần Mục nằm xuống chiếu rơm, giữa tiếng ngáy và tiếng ếch. Đầu Bò ngáy như sấm bên trái, Chuột Chũi co ro bên phải, thỉnh thoảng giật mình, tay vẫn nắm chặt túi vải của nó. Hòa nằm quay lưng về phía hắn trong góc tối. Ngoài lều, tiếng ếch dưới ruộng kêu râm ran, đều đặn.

Thanh trảm mã đao nằm chéo trên ngực hắn, nặng trĩu, lạnh lẽo. Hắn ôm nó bằng cả hai tay, như ôm một thứ duy nhất trên đời còn thuộc về mình. Hắn nhắm mắt, nghĩ tới lũy phải đắp, tới phần lương bị cắt, tới việc sáng mai phải mài lại lưỡi đao cho thật sắc.

Hắn không ngủ. Hắn nằm đó, ôm thanh đao, đếm từng tiếng ngáy, chờ trời sáng.

0