Chương 3: Đường Chỉ Và Nụ Cười - Khu Xưởng May Phố Cổ Hội An, Quảng Nam
Ánh sáng sáng sớm chiếu qua cửa tiệm lên những cuộn vải xếp dọc tường, lụa phản sáng đủ màu, từ xanh ngọc, đỏ huyết, vàng nghệ đến tím than, như ai đó xếp cả cầu vồng lên kệ rồi quên lấy xuống.
Tiệm may bà Liên nằm trong một con hẻm nhỏ cách phố chính Hội An hai khúc quanh. Không có biển hiệu lớn, không có tấm ảnh áo dài treo ngoài cửa như mấy tiệm phía ngoài hay làm để câu khách, mà chỉ có tấm rèm vải xanh kéo sang một bên buổi sáng là mọi người biết cửa hiệu mở cửa. Khách tới đây phần lớn là khách quen hoặc khách do người quen giới thiệu, không phải khách đi ngang nhìn vào rồi bước vô. Bên trong hẹp, vải chất đầy từ sàn lên đến tận trần, cuộn nọ chồng cuộn kia, màu này cạnh màu khác, chỉ chừa một lối đi vừa một người và cái khoảng trống giữa nhà nơi đặt ba cái máy may, hai cái cũ một cái mới, xếp thành hàng như học trò đang ngồi học.
Cô Ngân đang ngồi ở máy may trong cùng, lưng hơi cúi, mắt nhìn đường chỉ chạy trên mặt vải, chân đạp bàn đạp đều và nhẹ. Cô khá trẻ, tầm hơn hai mươi tuổi, tóc búi cao, mặc áo thun trắng cũ, trên cổ đeo sợi thước dây vàng cuộn lại như vòng cổ. Hai tai cô có cắm mấy cái kim gút, không phải vì quên tháo ra mà vì cắm vậy cho tiện lấy, ngày nào cũng vậy, thành thói quen. Mình bước vào, cô ngẩng lên gật đầu, rồi lại nhìn xuống đường chỉ. Bà Liên ngồi ở bàn cắt gần cửa thì dừng tay, hỏi mình cần gì, mình nói chỉ muốn ngồi xem, bà nhìn mình một lúc, gật nhẹ, chỉ tay vào cái ghế gỗ thấp góc tường.
"Ngồi đó được, đừng đụng vải là được."
Bà nói, giọng ngắn mà không lạnh, kiểu người quen nói vừa đủ, không thêm câu nào thừa.
Phố cổ Hội An bên ngoài đang thức dậy. Tiếng chổi quét đường, tiếng xe đạp leng keng, tiếng ai đó gọi nhau bằng tiếng Quảng Nam nghe nặng và chắc. Nhưng bên trong tiệm là thế giới riêng, mùi vải mới trộn mùi dầu máy và mùi hồ cứng còn phảng phất trên mấy tấm vải chưa giặt, cái mùi mà mình chỉ ngửi thấy ở những nơi người ta may vá cả ngày, mùi của sợi chỉ, của lưỡi kéo, của bàn tay chạm vải nhiều đến mức vải cũng mềm theo.
Tiếng máy may của cô Ngân chạy đều, không nhanh không chậm, như nhịp thở của người đang tập trung. Thỉnh thoảng cô dừng lại, cắt chỉ, lật mặt vải kiểm tra, rồi lại đạp tiếp. Bàn tay cô nhỏ, ngón dài, di chuyển trên mặt vải nhẹ nhàng mà chính xác, đẩy vải vào đúng chỗ trước khi kim xuống. Mình ngồi nhìn và thấy có gì đó yên lòng trong cái cách cô làm việc, cái sự chậm rãi không vội không gấp của người biết tay mình đang ở đâu trên mặt vải mà không cần nghĩ.
Khoảng tám giờ sáng thì khách đến.
Một cặp, tầm ba mươi lăm bốn mươi tuổi, người Tây, cao lớn, bước vào tiệm phải hơi cúi đầu qua tấm rèm. Người đàn ông cầm tờ giấy ghi gì đó bằng tiếng Anh, người phụ nữ cầm điện thoại có ảnh chiếc áo dài màu xanh ngọc. Họ nhìn quanh tiệm, mắt mở to trước những cuộn vải xếp đến tận trần, rồi nhìn nhau cười, cái cười của người vừa bước vào một nơi khác hoàn toàn với những gì họ biết.
Bà Liên đứng dậy, nói mấy câu tiếng Anh ngắn, hỏi họ muốn may gì. Người phụ nữ đưa điện thoại ra chỉ vào cái ảnh áo dài. Bà Liên nhìn ảnh, nhìn người khách, rồi nhìn lại ảnh, tay bà sờ nhẹ lên vai người phụ nữ như đang ướm, mắt bà đo trước khi thước dây kịp đo. Mình để ý cái nhìn đó, nhanh và chắc, cái nhìn của người đã cắt may cả đời, chỉ cần liếc là biết tấm vải sẽ phải chạy theo đường nào trên cái dáng đó.
Bà quay sang gọi Ngân. Cô Ngân đứng dậy, lấy thước dây trên cổ xuống, bước lại gần người phụ nữ. Cô không nói gì, chỉ dùng cử chỉ, tay chỉ vào phần vai người khách rồi nhìn hỏi, được không. Người phụ nữ gật đầu. Cô quấn thước dây qua vai, đọc số đo, ghi vào quyển sổ nhỏ bằng bút chì. Rồi cô ra hiệu cho người khách nâng tay lên. Người khách nâng theo yêu cầu. Cô đo vòng ngực, vòng eo, vòng hông, mỗi lần đo là một lần ghi, mỗi lần ghi là một cái gật đầu nhỏ như xác nhận với chính mình.
Đến lúc đo chiều dài thân áo, cô cần người khách đứng thẳng lưng. Cô nhìn người khách, lùi lại một bước, rồi tự ưỡn lưng mình thẳng lên, vỗ nhẹ vào lưng mình, rồi chỉ tay sang người khách. Người phụ nữ hiểu, đứng thẳng, kéo vai ra sau. Người đàn ông đứng cạnh cười, nói gì đó bằng tiếng Anh, cả hai người khách cùng cười. Cô Ngân cũng cười theo dù không biết họ nói gì, miệng ngậm cây bút chì mà mắt vẫn cười được, nụ cười tự nhiên, không phải cười cho có.
Mình ngồi xem cái cảnh đó mà thấy ấm áp. Hai bên không nói cùng ngôn ngữ, không hiểu nhau quá nửa câu, mà vẫn cười được với nhau, vẫn tin nhau đủ để người khách đứng im cho cô quấn thước dây quanh người, giao cả số đo thân thể mình cho người lạ ghi vào quyển sổ nhỏ. Có thứ gì đó trong cái trao đổi không lời đó mà mình không đặt tên được, chỉ biết là nó chân thật.
Đo xong, cô Ngân dẫn người phụ nữ ra phía kệ vải, chỉ vào mấy cuộn lụa xanh ngọc. Người phụ nữ sờ vào từng cuộn, mắt sáng lên khi chạm vào cuộn lụa mỏng nhất, mềm nhất. Cô Ngân lấy cuộn đó ra, kéo một đoạn vải giơ lên trước cửa sổ để ánh sáng chiếu qua, lụa trong như nước, màu xanh ngọc chuyển sang xanh nhạt khi có nắng xuyên. Người phụ nữ nhìn rồi gật, không cần hỏi thêm gì.
Bà Liên tính tiền đặt cọc, viết tay lên tờ giấy than, bản chính đưa khách, bản copy giữ lại, không máy móc gì cả. Bà viết xong thì xé tờ giấy gọn ghẽ, gấp bản copy kẹp vào quyển sổ, tay quen đến mức mắt đã nhìn sang chỗ khác rồi mà tay vẫn làm xong.
Khách đi ra rồi, tiệm lại yên tĩnh. Mình hỏi cô Ngân học may ở đâu.
"Em học ở trường may Đà Nẵng."
Cô nói, giọng Quảng nhẹ nhưng vẫn đủ nghe, cái cách cô nói "trường" hơi nặng hơn người Bắc một chút.
"Xong rồi xuống đây xin việc. Được ba năm rồi."
"Thích may không?"
Cô nghĩ một chút, tay vẫn cuộn lại sợi thước dây.
"Hồi đầu thì hổng biết thích hay hổng thích. Cứ làm thôi. Giờ thì quen rồi, hổng làm thấy thiếu thiếu."
Mình nghĩ câu trả lời đó thật hơn nhiều so với kiểu trả lời "em rất yêu nghề may." Có người bắt đầu bằng việc cứ làm đi rồi một ngày nhìn lại thấy nghề đã ngấm vào tay mà mình không biết từ lúc nào.
Cô kể mỗi người mỗi dáng, may nhiều rồi nhìn ai vô tiệm cô cũng đoán được số đo mà chưa cần đo. Vai người này xuôi hơn người kia, eo người kia cao hơn người này, cái sự chênh lệch vài xăng ti mét đó quyết định cả dáng áo. May áo dài khó nhất là chỗ đó, không phải đường chỉ, không phải chọn vải, mà là đọc được dáng người để cái áo mặc vô như may riêng cho người đó, không phải may riêng cho số đo.
"Mấy chị Tây khó may hơn."
Cô nói thêm, hạ giọng xuống một chút dù người khách đã ra ngoài.
"Vai rộng hơn, hông khác tỉ lệ hơn, phải chỉnh nhiều. Nhưng mà bù lại họ hay khen lắm, mặc vô là khen liền, mình nghe cũng vui."
Bà Liên ngồi bên bàn cắt, nghe cô Ngân nói, chen vào một câu mà mắt vẫn không rời mặt vải:
"May áo dài mà để người ta mặc vô thấy đẹp thì chưa giỏi. May mà người ta mặc vô quên luôn mình đang mặc áo dài mới giỏi."
Cô Ngân nghe, không nói gì, chỉ cười, cái cười của người thợ trẻ nghe thợ già nói mà biết mình còn phải học hỏi thêm.
Buổi sáng trong tiệm trôi theo nhịp máy may và tiếng kéo cắt vải. Bà Liên cầm phấn vạch đường trên mặt vải theo bản vẽ số đo vừa ghi xong. Tay bà già hơn tay cô Ngân nhiều, khớp ngón nổi lên, gân xanh hiện ra dưới da, nhưng cầm kéo thì chắc và thẳng, đường cắt không run một chút nào. Cô Ngân ngồi xuống máy may, đạp bàn đạp, tiếng máy lại chạy, đều và nhẹ như lúc đầu.
Một cô gái khác, người phụ trong tiệm, bưng ra hai ly trà đá đặt cạnh máy may. Không ai nói cảm ơn, không ai dừng tay, chỉ có bà Liên với tay lấy ly trà uống một ngụm rồi đặt xuống, tay kia vẫn giữ kéo. Cái nhịp sinh hoạt của tiệm may cứ vậy mà chạy, trà đá buổi sáng, tiếng máy, tiếng kéo, mùi vải, không cần ai điều phối.
Mình ngồi thêm một lúc rồi đứng dậy. Cô Ngân ngẩng lên, gật đầu chào, rồi lại nhìn xuống đường chỉ. Bà Liên không ngẩng lên, tay vẫn vạch phấn trên vải, nhưng nói vọng theo:
"Bữa nào ghé lấy áo nha."
Mình chưa đặt may áo nào, nhưng câu đó nghe như lời mời, hay như lời hẹn, của người quen nói với mọi người bước ra khỏi tiệm mình bằng một câu để họ còn lý do quay lại.
Ngoài hẻm, nắng Hội An đã lên cao, vàng và trong, chiếu lên mấy bức tường vôi cũ thành thứ màu mật ong. Mình đi được mấy bước, ngoái lại nhìn qua tấm rèm vải xanh còn kéo sang một bên. Bên trong, cô Ngân ngồi sau máy may, lưng hơi cúi, chân đạp đều, sợi thước dây vàng lại cuộn trên cổ. Trên bàn cắt trước mặt bà Liên, tấm lụa xanh ngọc đã được trải ra, mềm và mỏng, ánh sáng từ cửa chiếu lên mặt lụa làm nó sáng lên một chút rồi tắt đi theo nhịp rèm lay.
Tiếng máy may vẫn chạy đều bên trong, theo ra tận ngoài hẻm, rồi lẫn vào tiếng phố cổ buổi sáng, không còn phân biệt được nữa.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.