Khói Chiều Nơi Ấy

Chương 2: Gió Sông Thổi Qua Mùa Trái Chín - Cái Mơn Bến Tre

Đăng: 17/06/2026 18:45 1,741 từ 2 lượt đọc

Mùi sầu riêng chín dội lên từ mặt đất. Không phải mùi thoang thoảng mà là mùi ập vào, ngọt nồng, sực nức, thứ mùi mà ai ghét thì ghét tận cùng còn ai thương thì thương đến mê mệt. Trái rụng từ khuya nằm lẫn trong lá mục dưới gốc, vỏ gai nứt hé lộ ra múi vàng ướt mướt. Buổi chiều Cái Mơn bắt đầu bằng cái mùi đó, trước cả ánh sáng, trước cả gió.

Rồi gió mới đến. Gió từ phía sông Hàm Luông thổi vào, luồn qua mấy hàng dừa rồi chui vào vườn, mang theo hơi nước mát và cái mùi bùn ngấu rất nhẹ, thứ mùi đặc trưng của đất miệt vườn mà phải sống ở đây lâu mới phân biệt được với mùi bùn ở nơi khác. Gió lay nhẹ mấy chùm chôm chôm đỏ ối trên cao, lắc mấy trái măng cụt tím sẫm, rồi lượn qua tán sầu riêng rậm rịt phía trong. Cả khu vườn rung rinh nhưng không phát ra tiếng gì to, chỉ có tiếng lá chạm nhau xào xạc và thỉnh thoảng một trái chín nào đó rơi gọn lỏn xuống đất cái bịch.

Ông Tám nằm trên võng, mắc giữa hai gốc sầu riêng già.

Chiếc võng dù xanh đã bạc màu, đong đưa chậm theo nhịp chân ông đẩy nhẹ vào gốc cây. Ông nằm đó, tay gác lên bụng, mắt lim dim nhìn lên tán lá, không ngủ cũng không thức hẳn, ở cái trạng thái lơ lửng mà chỉ người miệt vườn mới có, cái trạng thái của buổi chiều khi công việc đã xong mà trời chưa tối. Cạnh võng là bình trà đã nguội, mấy cái tách nhỏ úp trên khay gỗ, một đĩa chôm chôm đã bóc sẵn trắng nõn.

Mình đi từ ngoài đường đất rẽ vào vườn, theo lối mòn hai bên là mương nước. Cái lối mòn đó chắc đã đi cả trăm năm rồi, đất nện chặt, hai bên cỏ mọc gọn ghẽ, dẫn thẳng vào giữa vườn nơi mấy cây sầu riêng lớn nhất đứng, tán giao nhau trên đầu thành một mái vòm xanh che kín nắng. Dưới tán cây, ánh sáng lọt qua thành từng chấm nhỏ rải trên mặt đất, nhảy nhảy theo gió, mình đi trong cái ánh sáng lốm đốm đó mà có cảm giác như đi trong một ngôi nhà rất lớn mà trần là lá, tường là thân cây, và sàn là đất mềm mùi mục.

Ông Tám nghe tiếng chân, mở mắt, không ngồi dậy.

"Vô đây ngồi chơi."

Ông nói, giọng miền Tây chậm rãi và bằng phẳng như mặt sông lúc tĩnh lặng.

"Có chôm chôm nè, bóc ăn đi."

Ông không hỏi mình là ai, từ đâu đến, muốn gì. Kiểu người miệt vườn, ai ghé qua cũng là khách, không cần lý do. Mình ngồi xuống gốc cây cạnh võng ông, bóc một trái chôm chôm. Vỏ gai mềm, tách ra dễ dàng, múi trắng trong, ngọt và mọng nước. Ông nhìn mình ăn, gật gù.

"Năm nay chôm chôm được. Sầu riêng cũng được. Măng cụt thì hên xui, có cây được có cây hổng được, trời cho sao hưởng vậy."

Ông Tám trồng vườn từ hồi còn thanh niên, tiếp tục cái vườn của ông già ông để lại. Vườn rộng mấy công đất, trồng đủ thứ trái, sầu riêng là nhiều nhất, rồi đến chôm chôm, măng cụt, bòn bon, sa pô chê, mỗi thứ mấy hàng. Cái Mơn nổi tiếng trái cây từ lâu, dân ở đây nhà nào cũng có vườn, ít thì vài gốc nhiều thì vài công, đời ông truyền đời cha, đời cha truyền đời con, cây nào chết trồng cây mới vào, vườn không bao giờ trống.

Mình hỏi ông năm nào được mùa nhất.

Ông cười, nụ cười tủm tỉm dưới cái nón lá đặt trên bụng.

"Hổng có năm nào giống năm nào đâu."

Ông nói.

"Năm rồi sầu riêng trúng mùa, tưởng khá, ai dè rớt giá, bán hổng bao nhiêu. Năm trước nữa thì mất mùa, trái ít, mà giá lại cao, cuối cùng cũng huề. Làm vườn mà tính toán nhiều thì buồn lắm, cứ trồng đi, tới đâu hay tới đó."

Ông nói câu đó bằng cái giọng cười, không phải giọng than thở. Mình để ý người miệt vườn hay vậy, kể chuyện mất mùa cũng cười, kể chuyện lũ lụt cũng cười, cái cười không phải vì vui mà vì đã quen, đã biết rằng sông nước cho gì thì nhận nấy chứ không cãi được. Mình ngồi nghe mà thấy nhẹ lòng, cái nhẹ đến từ việc được ngồi cạnh một người không cố gắng làm cuộc đời mình nặng hơn nó vốn là.

Gió sông thổi mạnh hơn một chút, lay chiếc võng lắc nhẹ. Mấy trái sầu riêng trên cao treo lủng lẳng, cuống to bằng ngón tay, vỏ gai xanh sậm, trĩu nặng. Ông Tám nhìn lên, đếm bằng mắt.

"Mấy trái này chắc ngày mốt rụng."

Ông nói.

"Nhìn cuống là biết, cuống nào bắt đầu héo là sắp rụng. Hổng cần leo lên hái, cứ để nó tự rụng, chín tự nhiên mới ngon."

Ông kể hồi nhỏ, ông già ông dạy ông cách nghe trái rụng ban đêm. Sầu riêng hay rụng khuya, từ một hai giờ sáng. Nằm trong nhà nghe cái bịch ngoài vườn là biết thêm một trái, sáng ra đi lượm. Có đêm rụng nhiều, tiếng bịch bịch liên tục, ông già ông nằm trong mùng cười khì nói "đêm nay trời thương." Có đêm im re, sáng ra không có trái nào, thì thôi, chờ đêm sau.

"Hồi đó tui ngủ nghe tiếng sầu riêng rụng quen đến mức giờ có khi nằm ngủ giữa thành phố mà vẫn giật mình tưởng nghe tiếng trái rụng."

Ông Tám cười.

"Mà hổng phải, tiếng xe thôi."

Mình thấy câu đó buồn mà ông nói không buồn. Tiếng trái rụng đêm khuya đã cài vào ông từ nhỏ, thứ đó không gỡ ra được.

Buổi chiều trôi chậm trong vườn. Nắng dịu dần, ánh sáng chuyển từ vàng gay gắt sang thứ vàng cam mềm hơn, lọt qua tán lá thành những vệt dài nằm nghiêng trên mặt đất. Tiếng chim bắt đầu nhiều hơn, mấy con chào mào bay từ cây này sang cây kia, mổ chôm chôm chín rồi bay đi, để lại những trái thủng lỗ treo lắc lư. Ông Tám không đuổi, nói chim ăn bao nhiêu đâu, vài trái, mà nó ăn xong nó kêu vui cả vườn.

Bà Tám từ trong nhà đi ra, tay bưng khay trà mới. Bà nhỏ người, tóc búi gọn, bước đi nhẹ trên lối mòn như không cần nhìn cũng biết chỗ nào đất cao chỗ nào đất trũng, chân tự tránh mấy rễ cây trồi lên mà mắt vẫn nhìn thẳng về phía trước. Bà đặt khay trà lên cái bàn gỗ thấp cạnh võng, rót ra ba tách không hỏi ai uống không, cứ rót rồi để đó. Tay bà nhỏ, ngón khô và gầy, nhưng cầm ấm trà chắc lắm, rót không rớt một giọt nào ra ngoài.

"Ổng nằm từ trưa tới giờ chưa dậy hả."

Bà nói với mình mà như nói với cả vườn, giọng trách mà mắt cười.

"Dậy rồi chứ bộ."

ông Tám nói, vẫn nằm.

"Dậy rồi mà nằm lại."

"Khách tới mà hổng lo pha trà, để người ta ngồi không."

"Có chôm chôm nè, thiếu gì."

Hai ông bà nói qua nói lại bằng cái giọng đã nói với nhau mấy chục năm, không cần nhìn mặt cũng biết người kia đang cười hay đang thật sự cảm thấy phiền. Mình ngồi nghe mà thấy cái vườn này không chỉ có cây trái, nó có cả một đời vợ chồng ở trong đó, mấy chục năm mắc võng dưới gốc sầu riêng nói qua nói lại rồi cũng hết một ngày, rồi cũng hết một mùa.

Bà Tám ngồi lại trên cái ghế gỗ thấp cạnh bàn trà, lưng thẳng, hai tay đặt trên đầu gối. Bà kể thằng Út về bữa trước, đứng ngoài vườn mà cầm cái điện thoại, hổng thèm nhìn cây. Bà nói câu đó rồi im, không giải thích thêm, nhưng cái cách bà nói chữ "hổng thèm" thì mình hiểu hết. Ông Tám nằm im, mắt nhìn lên tán sầu riêng, lâu hơn bình thường.

"Cây sầu riêng này tui trồng hồi mới cưới vợ." Ông nói sau một lúc, chậm hơn lúc nãy.

"Giờ nó lớn hơn tui rồi."

Ông không nói thêm câu nào nữa, và bà Tám cũng không nói. Gió sông thổi qua, lay chiếc võng đong đưa nhẹ. Mình ngồi giữa cái im lặng đó mà không muốn phá.

Bà Tám đứng dậy, thu khay trà, đi vào trong nhà. Bước chân bà trên lối mòn vẫn nhẹ như lúc đi ra, vẫn không nhìn xuống, chân vẫn tự tránh mấy rễ cây. Bóng bà nhỏ dần rồi khuất sau mấy tàu lá chuối.

Trời bắt đầu ngả về chiều muộn. Ánh sáng rút dần khỏi vườn, tán cây trở nên tối hơn, lối mòn chìm trong bóng râm mát rượi. Ở đâu đó phía ngoài bờ sông, tiếng máy ghe chạy ồn ồn một lúc rồi tắt. Mùi sầu riêng chín vẫn bốc lên từ mặt đất, lúc nãy nồng mà giờ quen rồi thành dịu, thành một phần của không khí, không còn tách riêng ra được nữa.

Ông Tám ngồi dậy khỏi võng, từ từ, uống một ngụm trà. Ông đi một vòng quanh mấy gốc sầu riêng gần nhất, nhìn xuống đất xem có trái nào rụng chưa, tay sờ vào thân cây như sờ vào một thứ quen thuộc hơn cả da thịt mình. Bàn tay ông nâu sậm, ngón to, móng ngắn, thứ bàn tay đã cầm dao, cầm cuốc, cầm kéo cắt cành cả đời, mỗi vết chai là một mùa trái.

Ông đứng lại giữa vườn, một tay vịn gốc sầu riêng, mắt nhìn lên tán cây nơi mấy trái chín đang treo cuống héo, chờ đêm xuống để rụng. Gió sông thổi vào, mang theo mùi bùn và mùi nước, lay nhẹ tán lá trên đầu ông, và mấy chùm chôm chôm đỏ phía xa lắc lư trong ánh chiều đang tắt dần.


0