Chương 23: Bảy Đi Năm Về
Aren rời khỏi viện cửa lệch khi bóng chiều đã đổ dài, đầu óc căng phồng những thứ vừa tiếp thu từ Mo Zigu. Bảy cấp bậc cùng bảy hệ phái lớn, rồi cả Ấn Nhịp, thứ dao găm vô hình chuyên rình rập đâm xuyên tử huyệt. Việc áp viên ấn thạch lên ngực để từng nhịp rung động thấm dần vào da thịt cứ xếp chồng trong tâm trí cậu như những viên đá cuội nặng trịch. Ngồi bất động trên phiến đá suốt ba ngày trời nhìn Mo Zigu vừa nhai nuốt vừa giảng giải, cậu mới thấu hiểu một sự thật không có trong sách vở: thế giới này vận hành bằng những quy tắc đã vỡ vụn, và cậu đang mang trong người một mảnh vỡ sắc lẹm, chực chờ cứa đứt cuống họng chính mình.
Cậu bước ra phố giữa cái nắng chiều vàng vọt hệt như màu da người chết đói, mùi dầu mỡ khét lẹt từ các sạp hàng xộc thẳng vào mũi. Rồi một luồng âm thanh nghẹn đặc dội đến, lấn át hoàn toàn tiếng chợ chiều hay tiếng mặc cả thường nhật, thay vào đó là thứ âm thanh dồn dập của sự kinh hoàng. Tiếng bước chân hoảng loạn đổ về một hướng, tiếng gọi nhau khản đặc giục giã qua đây mau, tiếng gào thét đòi mở cổng trấn, và rạch đôi tất cả là tiếng khóc tang tóc của đám phụ nhân. Họ biết chắc hung tin đang chờ phía trước nhưng đôi chân vẫn đâm đầu lao về phía nỗi sợ.
Aren đứng sững giữa phố, mặc cho dòng người chen lấn xô đẩy mà chẳng thèm liếc nhìn gã thiếu niên béo ú đang chắn đường. Cả trấn đang đổ dồn về phía cổng Tây, nơi dẫn thẳng vào đại sa mạc, nơi mỗi bình minh các thương đội xuất phát mang theo hy vọng và mỗi hoàng hôn trở về đem theo cơm áo. Lần này họ chạy đến không phải để trốn chạy, mà là để chứng kiến. Cậu lầm lũi bám theo sau.
Cổng Tây nặng nề mở rộng, lính canh dạt sang hai bên với gương mặt xám ngoét. Dân trấn đứng ken đặc dọc hai bên vệ đường, cổ vươn dài ngóng đợi. Những người mẹ ghì chặt con nhỏ sau lưng, nhưng đám trẻ vẫn tò mò ngó đầu ra từ khe hở của những tà áo sờn rách.
Ba cỗ xe ngựa chậm chạp tiến vào lòng trấn. Tiếng bánh xe nghiến trần trụi trên đá hộc vang lên những tiếng rít khô khốc, nặng nề dưới sức nặng u ám, lũ ngựa gầy trơ xương sườn, bọt mép trắng xóa khô đóng thành từng mảng lớn, bước đi bằng thứ bản năng sinh tồn tàn tạ cuối cùng.
Đi cạnh xe chỉ vỏn vẹn có năm người, gã đi đầu mặt chữ điền vuông vức, cánh tay trái quấn lớp băng trắng xóa từ cổ tay đến khuỷu nhưng đã bị máu nhuộm thành một màu đỏ sẫm nhớp nhúa. Gã đi tập tễnh, lết cái chân phải có phần đầu gối sưng vù, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước một cách trống rỗng, đờ đẫn, linh hồn dường như đã bỏ mạng lại đâu đó ngoài cát bụi hoang mạc.
Kẻ thứ hai là một thanh niên trẻ mang trên mình bộ áo quần rách tả tơi, để lộ vô số vết thương sâu hoắm đang rỉ ra thứ dịch xám xịt nhầy nhụa của ấn thú đã khô cứng dưới nắng gắt. Tay gã nắm chặt cây giáo gãy nửa với phần cán gỗ tưa nát, bấu víu lấy nó như cọng rơm cứu mạng cuối cùng giữa lằn ranh sinh tử.
Người thứ ba là một phụ nhân tóc tai rũ rượi, mặt mũi lem luốc bùn đất hòa lẫn máu khô. Trên người bà không có vết thương rõ ràng, nhưng đôi mắt đã hoàn toàn mất đi thần trí, miệng lẩm bẩm những lời vô nghĩa trong khi đôi chân bước đi vô định giữa hai người đồng đội. Hai kẻ đi cuối cùng thì rệu rã dìu dắt nhau, gương mặt xám ngắt như tro tàn.
"Bảy người đi..." Một tiếng thì thào run rẩy thốt ra từ đám đông, "Hôm xuất phát rõ ràng có bảy người cơ mà."
Bảy người xuất phát, giờ chỉ có năm người trở về.
Cỗ xe thứ nhất lướt ngang qua, chở theo hai chiếc cáng gỗ phủ lớp vải trắng sơ sài. Dân trấn đồng loạt nín thở khi nhìn thấy chiếc cáng đầu tiên. Tấm vải phủ chỉ gồ lên ở phần trên từ ngực hất lên đến đầu, còn từ thắt lưng trở xuống lại phẳng lì, trống rỗng đến rợn người, không chân, không hông. Phần rìa vải ngang eo ướt sũng, thấm đẫm một loại chất lỏng đỏ đen đặc quánh. Mùi tanh của thịt rữa trộn lẫn máu khô xộc thẳng vào mũi Aren nồng nặc, khiến thực quản cậu co thắt dữ dội. Chiếc cáng thứ hai còn kinh khiếp hơn khi phần đầu cáng hoàn toàn bẹt dí, tấm vải trắng được dùng dây thừng thắt chặt lại ở phần cổ hệt như thắt miệng một bao tải gạo.
Một người phụ nữ trong đám đông bắt đầu nấc nghẹn thành tiếng trước cảnh tượng tàn khốc đập nát chút can đảm muộn màng của bà. Ông lão chống gậy đứng cạnh Aren trừng mắt nhìn cái cáng thật lâu rồi lặng lẽ quay mặt đi, bàn tay già nua bấu chặt lấy thân gậy để giữ cho bản thân không ngã quỵ. Một gã thanh niên mặt mũi trắng bệch bên cạnh bỗng quỵ xuống nôn thốc nôn tháo. Riêng đứa trẻ tầm tám tuổi đứng im re, mắt mở trừng trừng, miệng há hốc nhìn chằm chằm vào những cái xác không toàn vẹn, cái nhìn lạnh ngắt ấy rồi sẽ bị nén chặt vào góc tối nhất của tâm hồn, chực chờ thức giấc trong những cơn ác mộng nhiều năm sau.
Aren đứng bất động. Bao tử cậu đã được tôi luyện qua đống xác người nhầy nhụa ở khe hẻm của thương đội Qarim nên không hề buồn nôn, đôi mắt nhỏ hẹp trên khuôn mặt tròn trịa của cậu ráo hoảnh, lẳng lặng ghi lại toàn bộ sự thật: Ấn sư cũng có thể chết, có thể bị xé làm đôi, hoặc bị chặt mất đầu.
Cỗ xe thứ hai đi qua, chở đầy hàng hóa cùng những bao ấn thạch còn nguyên vẹn. Thứ quái vật tấn công họ không màng đến tiền tài, nó chỉ thèm khát thịt người, và vì nó đã phải trả giá.
Toàn bộ đám đông đồng loạt dạt ra tạo thành một khoảng rộng hơn hẳn khi cỗ xe thứ ba xuất hiện. Xe này to và nặng, phía sau kéo theo một vật thể khổng lồ phủ tấm bạt xám dày cộm dưới những sợi dây thừng căng trướng. Từ dưới tấm bạt, một đoạn thân dài bao phủ bởi lớp da xám đen bóng nhẫy, ướt át trồi ra ngoài, chia thành từng đốt lớn bằng thùng nước nối nhau qua những khớp da gấp nếp gớm ghiếc. Bề mặt da nhẵn thín đầy vân xám lấm tấm, phần nhô ra phía sau xe dài đến bốn thước mà vẫn chưa thấy phần đuôi.
Sâu ấn thú sa mạc.
Cái xác đã chết nhưng sự hiện diện khổng lồ của nó mang cảm giác áp đảo khi để lại một vệt nhớt xám chua nồng, dính chặt lấy mặt đá không chịu khô.
"Cái quái gì thế này?" Một thương nhân mặt mũi tái mét.
"Sâu sa mạc, loại ấn thú ẩn sâu dưới cát!"
"Tại sao nó lại xuất hiện ở đây? Tuyến Tây Bắc quanh Lonsa trấn vốn chỉ có sói cát thôi mà!"
Chẳng ai trả lời, tiếng xì xào kinh hãi lan nhanh như cháy rừng về việc loài sinh vật này đang di chuyển xuống núi. Ông lão chống gậy thều thào đầy bất an: "Hai mươi mấy năm ta sống ở trấn này, chưa bao giờ thấy loài này mò đến gần tuyến phòng thủ như thế."
Cỗ xe khuất dần, để lại vệt nhớt xám và mùi tử khí đặc quánh. Cổng Tây đóng sầm lại với tiếng then cài rít lên chói tai, lính tuần trên tường thành vẫn đăm đăm hướng mắt về phía sa mạc xa xăm. Phố xá nhanh chóng tản đi, người ta rảo bước nhanh hơn, những cánh cửa nhà đóng sập sớm hơn mọi ngày.
Aren đứng lại một mình, nhìn vệt nhớt chạy dài từ cổng vào đến kho chứa của tiêu cục. Loài sâu sa mạc vốn chỉ nằm trong những câu chuyện sặc mùi rượu ở Vạn Phong nay đã lộ diện. Tuyến Đông Nam quanh Lonsa trấn vốn là vùng đệm an toàn, nhưng giờ đây sự thật tàn khốc đang nằm dưới hai tấm vải trắng thấm máu kia.
Nhịp thứ hai trong ngực Aren bỗng chốc rung lên, một sự cộng hưởng nhẹ nhàng nhưng lạnh lẽo, chạy dọc theo tàn dư quy tắc còn sót lại từ xác con quái vật. Dù nó đã chết, thứ quy tắc vỡ vụn trong thân xác ấy vẫn đủ mạnh để khiến một kẻ chưa đạt đến cấp một như cậu phải rùng mình cảm nhận. Mới sáng nay, Mo Zigu còn giảng giải bên bánh bao và trà nhạt rằng ấn mạnh không có nghĩa là sống lâu, và giờ đây hiện thực đã phơi bày trần trụi.
Aren nhìn xuống đôi bàn tay béo múp của mình. Mười lăm tuổi, béo phì, chậm chạp, đối mặt với thực tại này, cậu thừa hiểu rằng nếu bản thân ở ngoài sa mạc kia, đối diện với con quái vật đó, cậu sẽ chẳng có cơ hội nằm trên cáng gỗ, mà chỉ là những mẩu thịt vụn dính giữa kẽ răng của nó.
Cậu quay bước về lại tửu lâu, bước đi có chút lệch nhịp. Bóng tối thế giới ngoài kia đã tràn qua những bức tường đá, hiện diện ngay trong lòng trấn.
—
Sáng hôm sau, tửu lâu Vạn Phong mở cửa muộn hơn một giờ. Madam Vesna đứng lặng bên bậu cửa, đôi mắt thâm quầng nhìn đăm đăm ra phía cổng Tây, nơi vệt nhớt xám trên những phiến đá hộc ngoài phố vẫn chưa khô hẳn, lấp loáng dưới ánh nắng sớm như một vết sẹo nhầy nhụa chưa chịu khép miệng. Bà đứng đó rất lâu giữa bầu không khí đặc quánh sự im lặng đầy bất an, trước khi dằn lòng quay vào bắt đầu một ngày mới mà không nói thêm lời nào.
Aren lặng lẽ làm phần việc của mình, hết quét sàn lại lau bàn rồi kê lại những chiếc ghế gỗ nặng trịch. Tửu lâu vừa mở cửa đã đông nghịt khách, nhưng không khí hôm nay kỳ lạ hơn mọi ngày khi người ta không đến để thưởng rượu hay ăn ngon mà cốt để nghe ngóng. Tin tức về đoàn tiêu cục bị tàn sát đã thấm vào từng ngõ ngách của trấn biên thùy Lonsa chỉ sau một đêm.
Tâm điểm của mọi sự chú ý đang ngồi ở chiếc bàn trong góc khuất. Đó là gã Ấn sư sống sót hôm qua, cánh tay phải vẫn treo trước ngực bằng lớp vải rách cùng những ngón tay sưng tấy tím bầm. Gã ngồi đó với một người bạn, hai chén rượu đặt trên bàn vẫn đầy sóng sánh mà chưa ai buồn đụng môi. Aren bưng tô cháo nóng đến chiếc bàn trống ngay bên cạnh, chậm rãi lau mặt bàn để mở rộng tai lắng nghe.
"Bảy người," gã cất lời, chất giọng đục ngầu và khản đặc do thiếu ngủ cùng dư chấn kinh hoàng từ trận chiến. "Bảy người chúng ta đi tuyến ngoài Lonsa để thu mua ấn thạch ở thôn chín và thôn mười. Tuyến đường đó cả đội đã đi hàng chục lần, thuộc lòng từng gốc cây ngọn cỏ, hai ngày đầu mọi thứ vẫn bình thường như bao chuyến đi khác."
Aren siết chặt chiếc giẻ lau trong tay. Cậu nhớ thôn Redfall của mình trong tuyến này, là thôn thứ ba hay bốn gì đó. Ông nội Ken vẫn đang ở đó.
Gã nhấp một ngụm rượu lớn, đôi mắt co rút lại như thể đang nhìn vào thứ kinh hoàng chỉ tồn tại trong đầu mình: "Nhưng đến đêm thứ hai, khi cả đội dựng trại ở bãi đá giữa đường, trời mờ ảo và không khí lặng tờ thì mặt đất bắt đầu rung lên. Nước súp trong nồi bắt đầu sóng sánh, mặt đất giật đều, trầm thấp rồi kéo dài theo một nhịp điệu rùng rợn, hệt như nhịp tim của một thứ sinh vật khổng lồ to bằng cả tòa nhà đang dịch chuyển dưới lòng đất sâu."
"Lũ ấn thú sói có nhịp của sự săn mồi, bọ cạp cát có nhịp của sự dồn dập, nhưng thứ dưới cát bên ngoài thì khác." Gã ngừng lại một chốc. "Nhịp điệu của nó liên tục thay đổi một cách đầy chủ ý, nó không hề loạn mà đang muốn đổi nhịp để trêu đùa chúng ta."
Cậu chợt nhớ về ngọn nến trong phòng kho đêm qua, thứ nhịp điệu mà cậu đã cố cảm nhận nhưng hoàn toàn thất bại.
"Cát nứt toác ra!" Gã gằn giọng, tay siết chặt chén rượu. "Một vệt nứt dài và thẳng tắp cắt ngang bãi đá, sâu thẳm không thấy đáy, và rồi cái đầu của nó chui lên."
Gã dừng lại đủ lâu, để sự im lặng thay cho lời mô tả.
"Cái đầu nó chui lên tròn trùng trục và tuyệt đối không có mắt, chỉ có cái miệng mở rộng thành một vòng xoáy của những hàng răng sắc lẹm xếp lớp chồng lên nhau như cối xay bằng xương sừng, nghiến vào nhau rít lên buốt tận gáy." Gã run rẩy nói tiếp: "Malik hệ Cố Định đứng gần nhất, nhịp của ông ấy nặng và vững chắc như núi đá nhưng con quái vật tìm thấy ông chỉ trong nửa nhịp thở. Cái miệng khổng lồ xoay tròn tạo ra một lực hút kinh người, nuốt chửng sạch không khí, cát đá và cả con người vào cái hố đen ngóm ấy."
"Malik đóng đinh chân xuống đất, dồn toàn bộ Ấn lực để neo mình lại nhưng đất đá bên dưới không chịu nổi sức ép nên vỡ vụn. Ông ấy trượt đi, rồi từ eo trở xuống bị cuốn phắt vào vòng xoáy răng nghiến. Không có tiếng dao cắt, chỉ có tiếng nghiền nát khô khốc, chỉ sau nửa nhịp thở thì Malik chỉ còn lại một nửa thân trên."
"Ông ấy... còn sống lúc đó không?" Người bạn run rẩy hỏi.
"Ông ấy la." Gã thốt ra ba chữ lạnh lẽo khiến cả tửu lâu rùng mình theo.
Cuộc chiến trở nên điên cuồng trong lời kể của gã. Tariq hệ Tích Xả lao tới với thanh đại đao nặng trịch, tích lực ròng rã năm nhịp rồi vung đòn chí tử vào đốt thân thứ ba của con quái. Đao chạm vào da, dịch xám phun ra tung tóe nhưng lớp da dày đến mức đòn chém toàn lực cũng chỉ tạo ra một vết nứt nhỏ.
"Con sâu xoay đầu nhanh hơn bất cứ thứ gì chúng ta từng thấy, nó thích ứng quá nhanh!" Gã gào lên, tay cầm chén rượu run bần bật. "Hệ Biến Đổi của con bé Sana tung roi da phủ sương giá lên các đốt thân để làm cứng lớp nhớt nhưng nó vẫn hút, vẫn giật dữ dội. Ta dùng hệ Liên Kết để ghì chặt đốt đầu của nó vào tảng đá, ghì đến mức gân tay ta đứt đoạn, máu tứa ra từ các đầu ngón tay."
Kedar hệ Che Phủ tiến lên, cố xóa nhòa nhịp điệu của cả đội trong cảm quan của con sâu sa mạc, một đòn đánh tâm lý cực kỳ mạo hiểm.
"Chúng ta chỉ mua được nửa nhịp hòa bình giả tạo trước khi nó phá tan lớp Che Phủ của Kedar. Nó cảm nhận nhịp ở một tầng sâu hơn mà chúng ta không thể chạm tới, nhưng nửa nhịp đó là đủ để Tariq dồn hết vốn liếng sinh mệnh, chém một đao vào khớp nối đã bị sương giá của Sana làm giòn. Khớp nứt toác, xương trắng lộ ra nhầy nhụa dịch xám. Con sâu điên cuồng giật mạnh rồi xoắn lấy thân mình, và bất ngờ phần đuôi vẫn còn dưới đất bật lên như một chiếc roi thép khổng lồ, quất ngang."
Gã dừng lại, nốc cạn chén rượu như muốn nuốt trôi hình ảnh đó vào lòng.
"Tariq mang mũ sắt bảo hộ, nhưng cái đuôi to bằng thùng nước ấy quất thẳng vào đầu ông với một lực kinh thiên. Chiếc mũ sắt bẹp rúm, ông ngã xuống ngay tại chỗ và không kịp bật ra một tiếng rên nào nữa."
Aren lặng người, bàn tay đang lau bàn của cậu khựng lại nửa nhịp. Đoàn tiêu cục bảy người xuất phát, giờ chỉ còn năm sống sót trở về.
"Năm người còn lại phải giết nó, nếu không tất cả sẽ làm mồi cho nó." Gã ấn sư thở dốc.
Trong cơn tuyệt vọng, họ phối hợp với nhau một cách chuẩn xác nhất có thể. Kedar dùng Che Phủ tự giấu mình để lẻn ra sau bẻ gãy cảm quan của con sâu, khiến nó mù mịt trong thoáng chốc. Rayan hệ Hướng dùng giáo dài nương theo vết nứt cũ, bẻ lái mũi giáo xuyên thấu qua khớp xương, trong khi Sana phủ sương đông cứng mũi giáo ngay trong vết thương để biến nó thành một cái chốt cố định đốt thân.
"Ann Zayd, đứa trẻ nhất đội hệ Tích Xả, cậu ta đã tích lực suốt tám nhịp để tung một đòn duy nhất mang theo tất cả sự phẫn nộ và sợ hãi. Chiếc rìu chiến bổ xuống như thiên thạch giáng trần, đập trúng vào khớp nối đã bị ghim giáo. Khớp đứt lìa, cái đầu khổng lồ rơi xuống đất với hàm răng vẫn còn xoay chậm dần rồi dừng hẳn, dịch xám nóng hổi bắn tung tóe lên mặt tất cả chúng ta. Thân hình còn lại giật nảy một cái rồi trượt ngược xuống lòng đất, biến mất hút sau màn cát bụi mịt mù."
Khoảng lặng đặc quánh bao trùm cả tửu lâu, không một người phu mỏ hay khách khứa nào dám lên tiếng cắt ngang cái không khí tang tóc ấy.
"So với Ấn thú sói thì thế nào?" Người bạn hỏi khẽ.
Gã Ấn sư nở một nụ cười cay đắng, khóe miệng giật giật đầy bất lực: "Thà gặp mười con sói cùng lúc còn hơn đụng phải một con sâu sa mạc. Lũ sói cát có nhịp rõ ràng để ta dụ, ta bẫy, còn con sâu sa mạc này thì khác, nó biết suy nghĩ và sửa sai nhanh hơn con người, nó học luôn cách chúng ta chiến đấu ngay khi trận đấu đang diễn ra."
Aren tiếp tục lau bàn sau khi gã Ấn sư rời đi. Trong đầu cậu, những hình ảnh về chiếc miệng tròn răng xoáy và những tấm vải trắng phủ lên những cái xác không toàn vẹn liên tục nhảy múa. Cậu nhớ lại lần đi tuần với chú Veyr và Doran, khi đó bày sói đã khiến cả đội trầy da bóc vảy. Nếu lần đó là một con sâu sa mạc thì sao? Đoàn trưởng hệ Cố Định không thể giữ nổi lực hút, Joren hệ Biến Đổi không thể đóng băng kịp thời, và Sora hệ Liên Kết sẽ đứt hết gân tay.
Và chú Veyr...
Aren chợt nhận ra một khoảng cách đáng sợ. Rayan trong đoàn tiêu cục Hoàng gia chỉ sửa được hai lần hướng miệng sâu đã bị nó thích ứng, còn chú Veyr, ngay trong trận chiến với bày sói hung hãn và đặc biệt là con đầu đàn, chú vẫn thản nhiên đổi hướng đòn cắn của hai con thú cùng lúc khi hai tay chỉ ngoe nguẩy nhẹ, không đổ lấy một giọt mồ hôi. Chú Veyr không hề đứng trong trận chiến, chú đứng trên nó.
Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng Aren khi cậu nhận ra cái hố sâu ngăn cách về thực lực. Chú Veyr mạnh đến mức nào, và nếu ngoài sa mạc kia có những thứ còn kinh khủng hơn cả sâu sa mạc, liệu chú có bình an quay về?
"Thằng mập kia! Đang mơ mộng cái gì đấy, lau cái bàn số ba cho ta!" Tiếng thét của Madam Vesna thình lình kéo cậu trở về thực tại.
"Vâng!"
Cậu cầm giẻ, bàn tay đưa những vòng tròn đều đặn trên mặt gỗ. Nhưng trong lồng ngực, nhịp thứ hai của dư ảnh Ấn thú hệ Nhịp đang rung lên nhẹ nhàng, xa xăm và buốt lạnh. Chúng cùng một gốc rễ, cùng một cách cảm nhận thế giới hoang dại ngoài kia, chỉ là cậu hiện tại vẫn đang đứng nép mình ở phía bên này của bức tường đá bảo hộ. Nhưng cậu cũng tự hiểu, bức tường đá kiên cố ấy chẳng thể che chở cho cái trấn biên thùy này được bao lâu nữa.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.